dongcong.net
 
 

Suy niệm tin mừng Chúa nhật
(Anmai, CSsR)

Chúa nhật XX TN năm C-2013
CHO LỬA BỪNG LÊN
Gr 38, 4-6.8-10; Dt 12, 1-4; Lc 12, 49-53


Cuộc đời của Giêrêmia ít nhiều gì đó chúng ta cũng đã nghe biết.

Giêrêmia đã sống thảm kịch ập xuống trên dân vào năm 597 và 587. Hơn nữa, ông còn thấy trước là nó sẽ xảy ra, đã chuẩn bị lòng dân đón nhận nó, thế nhưng dân đã bắt bớ ông.

Giêrêmia bắt đầu rao giảng vào thời vua Josias. Khi đó sứ điệp của ông chẳng có gì khác với các ngôn sứ tiền nhiệm. Ông muốn làm cho dân ý thức rằng họ đã lầm đường, rằng cách sống của họ sẽ đưa tới thảm hoạ. Trong 6 chương đầu tóm lược sứ điệp này, có 2 chìa khoá lặp đi lặp lại : dân đã bỏ Thiên Chúa, họ phải trở về với Ngài, phải hoán cải.

Dĩ nhiên là người ta không nghe ông bởi vì họ thích nghe những ngôn sứ nói tới những lời thuận tai với họ hơn. Nhưng khi sự việc xảy ra đúng như Giêrêmia đã tiên báo thì người ta mới nhớ lại sứ điệp của ông. Nhờ ông mà dân mới có thể sống và hiểu được biến cố đau thương ấy : dù bị lưu đày họ vẫn còn tin và hi vọng, vẫn thấy đời mình có ý nghĩa.

Giêrêmia bị bắt bớ và trong bản thân ông đã chịu trước những đau khổ của dân.

Nhìn lại lời rao giảng và tiểu sử của Giêrêmia, vị ngôn sứ hoạt động một thế kỷ sau Isaia đệ nhất, vào thời kỳ xứ Giuđa sắp bị diệt vong. Ông đã phải chứng kiến cảnh Giêrusaem thất thủ, vua, quan, tư tế và dân bị lưu đày sang Babylon. Cuộc đời và lời rao giảng của ông mang trọn nỗi bi đát của thời đại.

Bi kịch độc đáo này mở màn trong một làng nhỏ của miền Anathốt. Ở tuổi hai mươi mốt, Giêrêmia nhận ra rằng Thiên Chúa đã phong ông làm ngôn sứ trước khi ông sinh ra (1, 5). Giêrêmia đã tự hỏi không biết Chúa có chương trình gì cho ông. Ông để Chúa hành động, nên đời ông có ảnh hưởng đến toàn thể Israel.

Chúng ta nghe ông nói: “Ôi lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, con đây còn qúa trẻ, con không biết ăn nói!” (1, 6) Ông cưỡng lại và trốn tránh nhiệm vụ Chúa trao và năn nỉ Chúa cho ông được từ chối nó.

Ngôn sứ chỉ đơn giản là người sứ giả công bố không phải ý tưởng của mình, nhưng truyền lại chi tiết cuối cùng của tư tưởng của Thiên Chúa. Chúa kêu gọi Giêrêmia làm ngôn sứ và ông can đảm nhận trọng trách được trao, nhưng ông vẫn còn tràn ngập ý tưởng rằng mình sẽ xúc phạm đến ai đó. Ông muốn sống hòa thuận với họ hơn là gây sự với họ.

Giêrêmia nói là “Con chưa đến tuổi trưởng thành”, vì trong xã hội Đông phương người thanh niên trẻ không có vai trò gì để làm cho đến khi lớn tuổi. Sứ điệp của ông sẽ không được đón nhận. Có thể nào sự nghiệp của ông bị cắt đột ngột bởi những người mà ông khiển trách không? Họ có tìm cách giết ông không?

Giêrêmia, giống như con người ngày nay, tham gia vào công việc của Chúa vì Chúa nói phải làm. Ông nghe thấy “Ngươi phải..” của trời. Mặc dầu thoạt tiên phải trả giá đắt, nhưng kết qủa sau nhiều năm không thể lường được. Giêrêmia lưỡng lự và tìm mọi cách thoái thác vì nghĩ rằng mình không thích hợp, nhưng công việc được áp đặt cho ông. Ngươi phải đi (1,7). Ông ghét ánh hào quang. Ông thích cuộc đời đơn giản. Ông muốn sống ở vùng quê, nhưng Chúa có việc cho ông ở thành phố. Giêrêmia phải chọn lựa giữa ý riêng và ý Chúa.

Người của Chúa nói lời của Chúa là như vậy. Giêrêmia quá đau khổ để mang sứ điệp của Chúa đến cho con người.

Chúa Giêsu : vị ngôn sứ mới cũng đã mang Lời của Chúa đến cho trần gian. Không chỉ mang lời mà mang cả cuộc đời Ngài vào trong thế gian này và "Thầy còn mong lửa bùng cháy lên".

Trong Cựu Ước, “lửa” đôi khi được dùng với ý nghĩa là một phương tiẹn để thanh luyện (Lv 13,52; Ds 31,23), để biện phân hoặc tách biệt (Gr 23,29; Is 33,14), và để xét xử (St 19,24; Xh 9,24; Tv 66,12; Is 43,2). Vậy từ ngữ “lửa” của Lc 12,49 có nghĩa nào? Có tác giả cho rằng lửa này quy về Chúa Thánh Thần (x. Cv 2,3): Chúa Giêsu hiện đang mang Chúa Thánh Thần và ước mong là tất cả mọi người được đầy Thánh Thần. Nhưng lửa này cũng được giải thích là quy chiếu về phán xét (x. 3,17): Chúa Giêsu đưa lại sự chia cắt giữa người tốt và kẻ xấu và muốn rằng sự chia cắt này xảy ra trọn vẹn.

Hiểu hay giảng giải theo cách nào đi chăng nữa, chúng ta cũng cần liên kết “lửa” với Lc 3,16, là câu trả lời của Gioan: “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa”. Qua câu này, ta nhận thấy “lửa” có nghĩa tượng trưng. Thật ra dựa theo ngữ pháp (hai danh từ nối với nhau bằng liên từ “và”), chúng ta đã có thể giải thích rằng “Thánh Thần và lửa” có nghĩa là “Thánh Thần là lửa”, và từ đó có thể đi đến những nghĩa khác như là hệ quả, chẳng hạn “sự thanh luyện”, hay là “sự biện phân”, “sự xét xử” như là những tác động của Thánh Thần. Tuy nhiên, nối tiếp câu này là c. 17 cũng có “lửa”: “Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi”. “Lửa” này chắc chắn không có nghĩa như “lửa” trong c. 16.

Chính Chúa Giêsu đã diễn tả rõ ràng về mục tiêu sứ mạng của Ngài và những hiệu quả sinh ra từ đó: Ngài đến ném lửa vào mặt đất; có một phép rửa Ngài phải chịu; Ngài đến để gây chia rẽ. Thật ra những lời lẽ này không mô tả hết ý nghĩa của sứ mạng của Chúa Giêsu. Nhưng các phương diện thuộc sứ mạng của Ngài được nhắc đến ở đây cần được xem xét.

Nói đến việc “Người đến”, chúng ta nhớ đến những lời khác: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (5,32). “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (19,10). Một yếu tố cốt yếu của sứ mạng Người là nhân ái đối với những kẻ tội lỗi, nỗ lực đưa họ về lại với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đầy lòng tốt lành và từ bi thương xót (x. Lc 7,36-50). Nhưng Ngài không hề nhắm biện minh cho mọi sự, triệt tiêu sự phân biệt giữa tốt và xấu, làm cho mọi sự hòa hợp với nhau. Mục tiêu của Ngài không phải là sự yên tĩnh và bình an của một thỏa hiệp chung. Ngài đã đến ném “lửa” vào trần gian. Đó là ý muốn thâm sâu của Ngài: trái đất được bao trùm trong “lửa” ấy và bốc cháy. Ghi nhận rõ ràng những đường nét của câu nói của Chúa Giêsu, ta thấy các cách giải thích trên về “lửa” dường như quá gò ép.

Có thể nói Chúa Giêsu gợi lên cho tất cả các hoạt động của Ngài với đặc tính hết sức đặc biệt của “lửa”. Ngài đến, đầy Thánh Thần, đầy sức sống thâm sâu nhất của Thiên Chúa. Ngài loan bao Tin Mừng cho người nghèo. Ngài cho những kẻ bần cùng và tội lỗi biết lòng thương xót của Thiên Chúa. Khi làm những việc ấy, Ngài nhen lên ngọn lửa, muốn đốt cháy, và như lửa, Ngài bao trùm, xuyên suốt mọi sự. Ngài sẽ đến gặp người ta, nắm bắt người ta một cách thâm sâu. Điều mà Ngài làm không chỉ là một đóng góp trung lập, không hứng thú. Theo cách làm của Chúa Giêsu, không có chỗ cho sự dửng dưng và chán chường, không có bức tường vô phương xuyên thấu đẩy bật mọi sự trở lại, không có một tấm bạt tráng dầu trên đó mọi sự trôi tuột đi. Hành động của Chúa Giêsu có đặc tính của “lửa”: nó muốn thắng vượt mọi thái độ lãnh đạm và xa cách; nó muốn đốt cháy; nó muốn có một cuộc gặp gỡ mãnh liệt, sống động.

Chúa Giêsu và sứ điệp của Ngài được đầy tràn Thánh Thần với những ai đón nhận. Những ai từ khước Chúa Giêsu, thì cuộc gặp gỡ này lại trở thành một cuộc phán xét nhờ trung gian Chúa Giêsu, sự đối lập đã bùng cháy và các tâm trí đang được phân rẽ (x. 2,34t). Trong cuộc gặp gỡ với Ngài, sự phân rẽ này đã được thực hiện và từ đó phát xuất ra các tương phản. Những người đón tiếp Ngài và những người từ khước Ngài ở trong một thế đối kháng mạnh mẽ với nhau. Do đó mà xảy ra chuyện là Chúa Giêsu, Đấng muốn cuộc gặp gỡ này phải đậm đặc và ý thức về kết quả khác của cuộc gặp gỡ, lại không loan báo hòa bình, nhưng loan báo sự chia rẽ như là mục tiêu của việc Người ngự đến.

Đỉnh điểm con đường của Chúa Giêsu là con đường khổ nạn, chết và phục sinh, như Ngài đã loan báo cho các môn đệ (9,22). Kết thúc này của hành trình là “phép rửa” mà Ngài phải chịu. Kết cuộc này đến với Chúa Giêsu không phải như một số phận như nhiều người nghĩ nhưng là để hoàn tất những gì Chúa Cha đã hoạch định cho Ngài và các ngôn sứ đã tiên báo (x. 18,31). Tinh thần của Chúa Giêsu cũng xao xuyến, bồi hồi và rơi cả mồ hôi và nước mắt nhưng Ngài vẫn ước muốn con đường thập giá hoàn thành nơi Ngài. Chính ngọn lửa cũng đã thiêu đốt cuộc đời, con người của Chúa Giêsu trên thập giá.

Khi Chúa Giêsu giáng trần, ca đoàn các thiên thần đã dâng lên Thiên Chúa lời chúc tụng về hòa bình (2,14). Chính Chúa Giêsu cũng đã ban bình an cho người phụ nữ tội lỗi và người phụ nữ được chữa lành (7,50; 8,48). Khi được sai đi rao giảng, vào nhà nào, các môn đệ phải chào chúc bình an (10,5t). Đặc biệt đây là sự bình an với Thiên Chúa. Nhưng do những kết quả khác nhau phát sinh từ cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, xảy ra những mâu thuẫn giữa loài người với nhau, thậm chí xảy ra chia rẽ trong một gia đình.

Trong ví dụ Chúa Giêsu nêu ra, đó là sự chia rẽ giữa thế hệ lớn tuổi hơn và thế hệ trẻ hơn. Cha và mẹ một bên chống lại con trai, con gái và con dâu bên kia: “ba chống lại hai, hai chống lại ba”. Trong sách ngôn sứ Mikha, chúng ta đọc thấy: “Con trai khinh thường cha, con gái đứng lên chống lại mẹ, nàng dâu chống mẹ chồng, người trong nhà lại hoá ra thù địch” (7,6). Ở đây cuộc xung đột được gây ra từ một bên: đây là cuộc nổi loạn của những người trẻ chống lại thế hệ già hơn. Còn xung đột Chúa Giêsu mô tả thì hai chiều: “cha chống lại con trai, con trai chống lại cha”. Không phải là một bên bách hại bên kia. Và cũng chẳng rõ là bên nào có lý hơn.

Nhìn như vậy, ta thấy có hai quan điểm khác nhau, không thể dung hòa. Khi nhận quan điểm này, người ta chống lại quan điểm kia. Đón nhận quan điểm này cũng đồng thời là từ khước quan điểm kia. Người ta không thể cùng một lúc vừa theo Chúa Giêsu và vừa chống Chúa Giêsu. Và không có chuyện nửa nạc nửa mỡ/. Sự chia rẽ này chỉ do người ta lấy lập trường cá nhân đối với Chúa Giêsu, chứ không do bất cứ những đối lập nào khác.    

 Ước mong của Chúa Giêsu là mong cho sự hiện diện của Chúa đạt được cuộc gặp gỡ cao độ, “nóng cháy”, với loài người. Trái tim của Chúa Giêsu khao khát hoàn tất hành trình mà Thiên Chúa đã đã trao ban. Chúng ta có để cho lửa của Ngài "cháy" vào trong cuộc đời chúng ta hay không vẫn là lời đáp trả của mỗi người chúng ta.

Lm Anmai, CSsR August 16, 2013

Chúa nhật 20 TN C Đức Mẹ lên Trời (15-8-2010)
LÒNG HƯỚNG VỀ TRỜI CAO NHƯ MẸ !
Kh 11, 19a-12, 1-6a.10; 1 Cr 15, 20-26; Lc 1, 39-56

Thiên Chúa đã tạo ra con người có nam có nữ. Người nữ đầu tiên có mặt trên cõi đời này là bà Evà. Bà được Thiên Chúa trao ban cho thiên chức làm mẹ và là người mẹ đầu tiên trên mặt đất. Bà được sung sướng hưởng hạnh phúc cùng chồng trong vườn địa đàng. Tưởng chừng bà an phận và hạnh phúc với những ân huệ Chúa ban tặng nhưng không, bà đã muốn hơn, muốn đi xa hơn cái hạnh phúc đó để bà đã giơ tay hái trái cấm theo lời đường mật của con rắn. Thế nhưng, thực tế ai ai cũng thấy rằng cuộc đời của Evà quá bất hạnh khi giơ tay ăn “trái cấm” ấy. Người chồng cũng vậy, vì chung chia “trái cấm” với vợ mình nên cũng phải trả giá cho sự liều lĩnh cãi lời Thiên Chúa.

Từ ngày ấy, tình nghĩa đã bị đánh mất và rồi Thiên Chúa đã đặt mối thù giữa người đàn bà yếu đuối ấy với con rắn và ngược lại. Người đàn bà thù con rắn còn con rắn để khi con rắn sơ hở là giơ chân đạp còn con rắn thì  đăm đăm canh gót chân của bà mà cắn.

Từ ngày ấy, cuộc sống của hai ông bà hoàn toàn thay đổi với cuộc đời vất vả nhọc công để đi tìm cái ăn miếng mặc.

Thiên Chúa giàu lòng thương xót đã không ngoảnh mặt làm ngơ khi con người phạm tội, khi con người bất tuân. Thiên Chúa đã chọn lựa, Thiên Chúa đã thay thế một người đàn bà khác để cứu độ con người.

Người đàn bà ấy đã được ca ngợi trong Thánh Thi kinh chiều II lễ kính Đức Mẹ :
Kính chào Mẹ là Sao Bắc Đẩu
Đấng mệnh danh Hiền Mẫu Chúa Trời,
Chói là trinh tiết gương soi,
Cửa vào cõi phúc tuyệt vời thiên cung.
Khi nhận tiếng “Kính Mừng” vinh dự
Gáp-ri-en thần sứ tặng ban,
Chữ “E-va” Mẹ đảo vần
Thành “A-ve” gửi bình an cho đời.

Lời Thánh Thi ngắn gọn nhưng hết sức tuyệt vời. Lời Thánh Thi đó đã gợi lại cái tên của con người. Eva là con người đã bất tuân còn Ave đã thưa hai tiếng xin vâng khi nghe lời sứ thần truyền.

Bất tuân đã chôn vùi cuộc đời của mình ở dưới đất và xin vâng đã hướng cuộc đời mình ở trời cao.

Cuộc đời của con người bị ràng buộc bởi những gì bởi đất vì con người tự đất sinh ra nhưng quê hương đích thực là ở trên trời. Chỉ có những ai tin mới đón nhận được điều này vì lẽ với những người không tin thì họ cho rằng cuộc đời của họ nơi dương gian này mà thôi. Với những người không tin, chết coi như là hết, coi như là chấm dứt cuộc đời này. Còn với những người tin thì quê hương của họ ở trên trời, nơi thượng giới.

Những trang sách Khải Huyền là những trang sách được viết nên, được vẽ nên hình ảnh của một nước trời qua ngòi bút mà nhiều người cho là của Thánh Gioan. Chính nhờ lòng tin mà Gioan đã viết lại, đã vẽ lại hình ảnh của Nước Trời. Hôm nay, chúng ta được nghe Gioan diễn tả của một Nước Trời, một Đền Thờ Thiên Chúa ở trên trời mà Gioan thấy như thế này : Đền Thờ Thiên Chúa ở trên trời mở ra, và Hòm Bia Giao Ước xuất hiện trong Đền Thờ. Và có ánh chớp, tiếng sấm tiếng sét, động đất và mưa đá lớn. Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con. Lại có điềm khác xuất hiện trên trời: đó là một Con Mãng Xà, đỏ như lửa, có bảy đầu và mười sừng, trên bảy đầu đều có vương miện. Đuôi nó quét hết một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất. Rồi Con Mãng Xà đứng chực sẵn trước mặt người Phụ Nữ sắp sinh con, để khi bà sinh xong là nó nuốt ngay con bà. Bà đã sinh được một người con, một người con trai, người con này sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt muôn dân. Con bà được đưa ngay lên Thiên Chúa, lên tận ngai của Người. Còn người Phụ Nữ thì trốn vào sa mạc; tại đó Thiên Chúa đã dọn sẵn cho bà một chỗ ở, để bà được nuôi dưỡng ở đó, trong vòng một ngàn hai trăm sáu mươi ngày.

Hình ảnh tiên trưng về người đàn bà mang thai và đứa con bà cưu mang ấy sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt muôn dân. Con của bà được đưa lên tận ngai của Thiên Chúa, còn bà thì được đến một nơi mà Thiên Chúa đã dọn sẵn.

Đã quá rõ cho hình ảnh của một người có tên là Maria. Mẹ Maria đã được một ơn hết sức đặc biệt là được biết rõ Nước Thiên Chúa ngay từ những ngày còn thơ bé. Mẹ Maria lên Đền Thờ cầu nguyện mỗi ngày và nhờ Thần Khí Chúa soi sáng, hướng dẫn để Mẹ sống tuân hành theo Thánh Ý Chúa mỗi ngày trong cuộc đời. Mẹ Maria tuy sống ở cõi tạm này nhưng lòng của Mẹ luôn hướng về Trời cao.

Chúng ta vừa nghe Thánh Luca thuật lại cuộc thăm viếng, cuộc gặp gỡ hết sức tuyệt vời của 2 người phụ nữ có Chúa trong mình. Cuộc gặp gỡ này phải chăng được gọi là cuộc gặp gỡ của 2 người có ơn Thánh Chúa trong mình. Mẹ Maria có ơn Thánh và Êlisabet được cưu mang đứa con trong bụng cũng nhờ ơn Thánh. Hai người rất đỗi vui mừng. Bà Maria vừa vào nhà thì bà Êlisabet quá vui mừng : "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em."

Vừa nghe lời chào mừng ấy thì Maria đáp lại :
"Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,
thần trí tôi hớn hở vui mừng
vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn,
Người đoái thương nhìn tới;
từ nay, hết mọi đời
sẽ khen tôi diễm phúc.
Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
biết bao điều cao cả,
danh Người thật chí thánh chí tôn!
Đời nọ tới đời kia,
Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.
Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,
như đã hứa cùng cha ông chúng ta,
vì Người nhớ lại lòng thương xót
dành cho tổ phụ Áp-ra-ham
và cho con cháu đến muôn đời."

Để đáp lại tâm tình như Mẹ Maria không phải là chuyện đơn giản. Phải có ơn Chúa trong cuộc đời mới nhận ra Chúa chính là Đấng cứu độ trần gian, là Đấng cứu độ của cuộc đời mình. Thật ra mà nói, ơn Chúa có rồi nhưng chuyện quan trọng là người ta có mở lòng ra để đón hay không mới là chuyện quan trọng. Eva có ơn Chúa nhưng Eva đã khép lòng lại.

Ơn Chúa, ơn cứu độ của Chúa có đó nhưng con người có tin nhận hay không mà thôi.

Đức Kitô đã chết, đã sống lại và đã lên trời để mở lối cho những ai tin Người nhưng người ta có tin hay không tin. Điều này, Thánh Phaolô vừa nói trong thư thứ nhất của Ngài gửi tín hữu Côrintô : Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. Quả thế, như mọi người vì liên đới với A-đam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Ki-tô, cũng được Thiên Chúa cho sống. Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình: mở đường là Đức Ki-tô, rồi khi Đức Ki-tô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người. Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quản thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha.  Thật vậy, Đức Ki-tô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người. Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết, vì Thiên Chúa đã đặt muôn loài dưới chân Đức Ki-tô. Mà khi nói muôn loài, thì dĩ nhiên không kể Đấng đặt muôn loài dưới chân Đức Ki-tô.

Quả thật, Đức Kitô đã chết nhưng đã mở đường cho những kẻ thuộc về Người.

Mẹ Maria và các thánh cũng là những con người bé mọn nhưng tin rằng Chúa Giêsu đã chết và đã về trời ngự bên hữu Thiên Chúa để rồi Mẹ Maria và các thánh cũng đã được hưởng nhan Thánh Chúa.

Mừng Mẹ Maria hồn xác lên Trời hôm nay cũng là dịp để cho mỗi người xác tín lại niềm tin của mình. Hoặc là chọn lựa như Eva để sống cuộc đời lầm lũi ở dưới đất hoặc là chọn lựa như Mẹ Maria hướng về Trời cao.

Nguyện xin Chúa qua lời chuyển cầu của Mẹ cho mỗi người chúng ta sống như Mẹ là sống trong trần gian nhưng không thuộc vào trần gian, sống nơi trần thế nhưng hướng về Nước Trời để mai ngày sau khi rời cõi tạm, ta cũng được Chúa cho hưởng vinh quang Nước Trời như Chúa đã thưởng cho Mẹ vậy.

Lm Anmai, CSsR 15-8-2010

Anmai, CSsR - dongcongnet 2010

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)