dongcong.net
 
 

Suy niệm tin mừng Chúa nhật
(Anmai, CSsR)

Chúa VI PS năm C (5-5-2013)
Cv 15, 1-2.22-29; Kh 21, 10-14.22-23; Ga 14, 23-29
ƠN BÌNH AN

Con người, khi sinh ra, chẳng mang gì theo vào trần gian cả. Sinh ra, lớn lên trong vòng tay cha mẹ, được cho bú mớm, cưu mang và cho bước vào đời. Bước vào đời bươn chải và bắt đầu có trong tay những gì mình đã tạo dựng. Ao ước nhỏ bé, đơn sơ, căn bản của con người đó là đủ ăn đủ mặc. Ai cũng mơ ước như thế nhưng thử hỏi con người có dừng lại mơ ước đó hay không ? Không ! Hiếm có ai bằng lòng với những gì mình đã có và đang có để rồi lòng không bình an. Vì không bình an nên con người đi tìm cái gì đó lấp đầy cho khắc khoải của mình.
Đơn giản nhất, gần nhất mà chúng ta có thể thấy đó là ông bà nguyên tổ Ađam - Evà. Chúa cho hai ông bà được hưởng dùng tất cả trong vườn địa đàng nhưng rồi hai ông bà đâu thỏa mãn, đâu bằng lòng với những gì mình đang có và đã có trong tay. Cũng chính từ cái cảm xúc không đủ đó hai ông bà muốn thoát khỏi bàn tay của Thiên Chúa và đi tìm quyền lực qua lời dụ dỗ của con rắn : "Chẳng chết chóc gì đâu bà ơi, nếu Chúa biết ngày nào bà ăn trái đó, bà sẽ là một thần linh khôn ngoan biết điều tốt, điều xấu". 

Chúng ta quá biết cái kinh nghiệm của ông bà nguyên tổ : Evà nhìn trái cây thì thấy đẹp mắt và ngon. Bà liền đưa tay hái ăn và đưa cho chồng cùng ăn. Khi họ vừa ăn thì mắt họ mở ra, và họ biết điều tốt điều xấu đúng như lời Thiên Chúa phán. Họ mắc cở chạy tìm lá che thân vì thấy mình trần truồng. Họ đã phạm tội không vâng lời Thiên Chúa.

Kinh nghiệm ấy cứ trải dài trong lịch sử cứu độ. Khi con người đánh mất Thiên Chúa thì khi ấy con người bất an.

Thiên Chúa ở với con người để ban bình an cho con người nhưng con người luôn gạt Thiên Chúa ra khỏi đời của mình.

Còn nhớ trong hành trình sa mạc, con người đã dựng nên con bò vàng để thờ lạy nhưng rồi cũng trở về trạng thái bất an. Con người đi tìm cho mình đủ thứ thần minh để bám víu nhưng chỉ mình Chúa mà thôi. Cứ như thế, cứ như thế con người mãi đi tìm cho mình sự bình an nhưng họ càng bất an khi loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi đời của họ.

Thiên Chúa đã chạnh thương con người, đã gửi Hoàng Tử Bình An chính là người con yêu dấu của mình đến với trần gian và ở với trần gian.

Chúa Giêsu đến trần gian để loan báo một Tin Mừng Nước Thiên Chúa, Tin Mừng cho những ai đi tìm Thiên Chúa và cho những ai muốn sống trong vương quốc của Thiên Chúa.

Sống trong và sống với phận người và trao ban Tin Mừng cho con người nhưng con người vẫn trơ trơ ra như đá và cuối cùng đã loại Hoàng Tử Bình An ra khỏi cuộc đời của mình.

Chúa Giêsu đã bị đóng đinh, đã bị giết và đã sống lại.

Trang Tin mừng theo Thánh Gioan hôm nay thuật lại cho chúng ta lời của Chúa Giêsu hết sứcd dễ thương : "Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con, Thầy ban cho các con  không như thế gian ban tặng”(Ga 14, 27).

Tuyệt vời ! Bình an của Thầy không như bình an của thế gian, bình an của thế gian cũng chỉ là bình an tạm bợ và chóng qua.

Biết bao nhiêu người giàu có, sung túc giữa thế gian nhưng sau khi đã cảm nếm được sự bình an khi có Chúa ở cùng thì cuộc đời họ thay đổi.
Đơn giản nhất và gần nhất nơi Chúa Giêsu đó là các môn đệ. Cuộc đời của các môn đệ có đó người giàu kẻ nghèo, người thu thuế, người dân chài ... và khi theo Chúa rồi họ cảm nhận sự bình an thật sự và nhất là khi Chúa lại ban bình an cho họ.

Các môn đệ đã dám liều mạng sống của mình cho thế gian để luôn được ở bên Chúa và luôn được ở trong Chúa. Khi và chỉ khi ở trong Chúa thì lòng của các môn đệ mới bình an đủ.

Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,
hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn.
Ơn cứu độ tôi bởi Người mà đến,
duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi,
là thành luỹ chở che : tôi chẳng hề nao núng.
Tới bao giờ các ngươi còn xúm lại
để xông vào quật ngã một người?
Hắn đã như bức tường xiêu đổ,
như hàng rào đến lúc ngả nghiêng.
Con người ấy, chúng chỉ mưu hạ bệ,
chúng thoả lòng vì đã nói dối nói gian.
Miệng thì chúc phúc cầu an,
mà lòng nguyền rủa chứa chan những lời.
Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,
này hồn tôi hãy nghỉ ngơi yên hàn.
Vì hy vọng của tôi bởi Người mà đến,
duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi,
là thành luỹ chở che : tôi chẳng hề nao núng. (Tv 62, 2-7)
“Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ
Trong con hồn lặng lẽ an vui
Cậy vào Chúa, Israen ơi
Từ nay đến mãi muôn đời muôn năm” (Tv 130,1-3).

Và như thế, những ai cảm thấy có Chúa là nguồn bình an thật sự thì cuộc đời của họ sẽ đổi khác, họ sẽ chẳng cần bám víu vào nhưng vinh hoa mau qua chóng tàn ở trần gian này.

Với Augustinô, cả cuộc đời ngài Cuộc đời của thánh Augustinô là một cuộc đời tìm kiếm; tìm kiếm bằng chính kinh nghiệm bản thân của mình cũng như tìm kiếm qua sách vở, suy tư. Tuy trải qua cuộc đời khá phóng đãng, nhưng ta nhận thấy tâm hồn của Augustinô cũng rất bén nhạy, rất “mở”, rất “mềm” hầu có thể để cho Chân Lý soi tỏ. Chúng ta nhận thấy nhiều lần, do nhiều biến cố khác nhau, chẳng hạn người bạn qua đời, qua việc đọc Cicéro, đọc Plotin, việc gặp Ambrôsiô…lòng Augustinô đã rung lên xao xuyến…Chính cuộc tìm kiếm không ngừng, tìm kiếm trong thái độ mở đã đưa Augustinô đến với Chân Lý đích thực. Cuộc đời đó có thể đúc kết lại trong chính châm ngôn của ngài: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con vì Chúa, nên tâm hồn con xao xuyến mãi cho tới khi nào nghỉ yên trong Chúa mà thôi!”

Với Anphongsô, Ngài đã thành đạt theo nghĩa xã hội, song không lấy đó làm mãn nguyện và đã dứt bỏ nó. Ngài là con nhà quyền quý, giàu sang; đỗ đạt cao: lấy được cả hai bằng tiến sĩ luật cả đạo lẫn đời, danh tiếng lẫy lừng. Thế nhưng, năm 1723, ngài từ bỏ tất cả, từ giã chốn pháp đình, là nơi đại diện cho công lý nhưng đầy dẫy bất công và dối gian, để bước theo một tiếng gọi, tiếng gọi của Thiên Chúa hầu đi vào chiều sâu của đời sống nội tâm, đời sống thật của một con người thật hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và thuộc về tha nhân.

Với Phanxicô, Đề kháng lại nghề nghiệp kinh doanh cũng như khát vọng giàu sang của người cha, cậu bé bộc lộ nỗi đam mê dành cho sách vở. Francis nổi tiếng trong vòng bạn bè nhờ tửu lượng cao và giao du rộng, đa phần là với con cái của giới quý tộc. Ngay từ những ngày này, Francis đã tỏ ra thất vọng đối với thế giới cậu đang sống, thể hiện qua cách xử sự của công tử Francis khi gặp một người hành khất. Francis dành nhiều thời gian sống trong cô độc, nài xin sự soi dẫn từ Thiên Chúa. Dần dà, Francis tìm đến chăm sóc những người mắc bệnh phong, căn bệnh bị xã hội thời ấy xa lánh, đang sống trong những trại phong gần nhà. Khi hành hương đến La Mã, Francis ngồi bên cửa các nhà thờ để hành khất cho những người nghèo.

Thế đấy ! Tất cả sự vinh hoa phú quý ở đời này chẳng là gì cả đối với Augustinô, Anphongsô, Phanxicô và nhiều và rất nhiều vị thánh nữa. Tất cả cần nhất đó chính là sự bình an từ Thiên Chúa, từ Chúa Giêsu su như Chúa Giêsu nói với các môn đệ :”Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con, Thầy ban cho các con  không như thế gian ban tặng”(Ga 14, 27).

           Chúa Giêsu nói đến một sự bình an khác, bình an nội tâm của con tim, của con người với chính mình và với Thiên Chúa. Điều này thật rõ ràng nơi lời nói mà Đức Giêsu thêm vào liền theo đó trong đoạn văn này của thánh Gioan : "Các con đừng xao xuyến, cũng đừng sợ hãi”. Đây là sự bình an nền tảng nhất. Không có sự bình an này, thì không bình an nào khác có thể tồn tại.

           Đức Giêsu có thể ban bình an cho các Môn đệ bởi vì chính Người sở hữu sự bình an : "Thầy ban cho các con sự bình an của Thầy”. Bình an là sự hiệp thông với Thiên Chúa. Khi Đức Giêsu hiệp thông hoàn toàn với Thiên Chúa, Người có thể ban cho ta ơn bình an. Chúng ta có thể ban sự bìn an nào nếu không phải là sự bình an của chúng ta ? Người Kitô hữu có ơn gọi đem lại bình an. Nhưng khổ nỗi, thay vì chúng ta đem lại bình an cho người khác, chúng ta bắt họ chịu đựng sự bất an và bất hạnh của chúng ta.

           Sự bình an thực sự chỉ có khi chúng ta nép mình vào lòng Chúa và chọn Chúa là gia nghiệp của đời mình.

“Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ
Trong con hồn lặng lẽ an vui
Cậy vào Chúa, Israen ơi
Từ nay đến mãi muôn đời muôn năm” (Tv 130,1-3).

lm Anmai, 5-5-13.


Yêu Lời và Giữ Lời
Chúa Nhật Thứ 6 Mùa Phục Sinh, Năm C
Cv 15, 1-2.22-29; Kh 21, 10-14.22.23; Ga 14, 23-29

Là con người, ai cũng vậy, khi người thân mình đi xa thì thường để lại cho những người còn ở lại những lời trối trăn, những lời căn dặn. Những lời ấy càng có ý nghĩa, càng sâu sắc hơn khi người đó chính là người thương của mình, người mà mình yêu quý nhất.

Trong tâm tình đó, hôm nay, chúng ta được nghe Thánh Gioan thuật lại tâm tình hay nói đúng hơn là những lời trối trăn của Chúa Giêsu. Nơi Thánh Gioan, phải nói là có một tình cảm hết sức tuyệt vời với Thầy. Thánh Gioan đã ghi lại toàn bộ “diễn từ biệt ly”. Diễn từ biệt ly gói ghém tâm tình của Thầy Chí Thánh Giêsu.

Trong tâm tình ấy, Chúa muốn các môn đệ Chúa Giêsu phải sống yêu thương như thế nào đối với nhau (13,34) ? đối với Chúa Giêsu (14,15) ? Tại sao "yêu thương" được Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại tới 4 lần (cc 15.21.23.24) ?

Các môn đệ phải sống yêu thương với nhau như Đức Giêsu đã yêu thương họ (13,34); họ phải yêu thương Chúa Giêsu bằng cách tuân giữ các giới răn của Ngài (14,15). Chúa Giêsu 4 lần nhắc tới yêu thương vì đây là điều răn quan trọng nhất và tiêu biểu nhất của Ngài.

Trong câu 31, Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta thế nào ? Gương yêu thương của Chúa Giêsu: làm đúng như ý Chúa Cha.

Với kinh nghiệm hết sức thực tế trong lịch sử cứu độ, qua lịch sử cứu độ chúng ta thấy phảng phất hình ảnh của những con người không tuân hành thánh ý của Chúa Cha.

Khởi đầu Thánh Kinh, ta sẽ bắt gặp hình ảnh của người phụ nữ hết sức quen thuộc. Người nữ ấy có tên là Eva, bà là mẹ của chúng sinh. Mẹ của chúng sinh ấy nhưng bà có đủ ba đức tính để làm nên tội lỗi: thích ăn, nhẹ dạ và... tò mò. Trái Cấm ngon và kỳ diệu lắm! Đã là con người, ai chẳng muốn được ăn ngon? Và nếu như cái sự ăn đó sẽ đem đến cái vĩ hoàng tương tự như Thiên Chúa thì lại càng đáng để thử. Thích thử để biết cũng là một thuộc tính của cả loài người…

Vì muốn bằng Thiên Chúa nên Eva đã giơ tay hái trái cấm. Không chỉ mình mình ăn nhưng Evà còn “mời” chồng mình ăn nữa.

Kế tiếp, chắc chúng ta khó quên hình ảnh của một vị vua lừng danh đó là vua Đavít. Đavít: một kẻ phản bội, một kẻ dối trá, một người phạm tội ngoại tình, một tay giết người. Phạm tội ngoại tình với Bát Sêva. Đavít đã:

Giết Urigia chồng của Bát Sêva

Bất tuân lệnh Chúa khi thực hiện việc kiểm tra dân số

Không có thái độ cương quyết với các người con của mình

Cũng có người này người kia đến nhắc nhở nhưng Đavít đã bỏ ngoài tai những lời răn đe ấy. Vì bỏ ngoài tai lời của Thiên Chúa nên Đavít đã phạm tội.

Sang đến Tân Ước, chúng ta làm sao quên được hình ảnh của bà mẹ ông Giacôbê và Gioan. Đi theo Thầy, sống gần Thầy đấy nhưng mà lại xin chỗ nhất chỗ nhì.

Thánh Phêrô bi đát cũng chẳng kém. Khi Thầy báo trước con đường khổ nạn lên Giêrusalem thì lại cản Thầy. Kinh khủng hơn nữa là đã chối Thầy bây bẩy vì không nhớ lời Thầy dặn trong bàn tiệc. Thật sự ra cũng nhớ lời Thầy ấy nhưng mà yếu đuối, nhưng mà bị ngăn cản bởi con người mỏng dòn nên Phêrô đã chối Thầy.

Lược qua những hình ảnh, những con người hết sức thực tế trong cuộc sống, trong Thánh Kinh đã vì bất tuân, đã vì không nghe lời Chúa nên đã sa ngã, đã phạm tội.

Lời Chúa hết sức cần thiết cho cuộc đời mỗi người. Các thánh tông đồ tuy yếu đuối, tuy vấp ngã ấy nhưng sau khi có ơn Thánh của Chúa Phục Sinh cuộc đời của các tông đồ đã thay đổi. Các môn đệ đã mạnh dạn lên đường rao giảng Tin mừng. Không chỉ rao giảng một cách bình thường nhưng các ông rao giảng một cách mạnh mẽ: Nếu anh em không chịu phép cắt bì theo tục lệ Mô-sê, thì anh em không thể được cứu độ. Các ông Phao-lô và ông Ba-na-ba chống đối và tranh luận khá gay go với họ.

Không dừng lại ở chuyện gay go mà các ông còn quyết định cử ông Phao-lô, ông Ba-na-ba và một vài người khác lên Giê-ru-sa-lem gặp các Tông Đồ và các kỳ mục, để bàn về vấn đề đang tranh luận trong dân. Sau đó các Tông Đồ và các kỳ mục, cùng với toàn thể Hội Thánh, quyết định chọn mấy người trong các ông, để phái đi An-ti-ô-khi-a với ông Phao-lô và ông Ba-na-ba. Đó là ông Giu-đa, biệt danh là Ba-sa-ba, và ông Xi-la, những người có uy tín trong Hội Thánh. Các ông trao cho phái đoàn bức thư sau:

“Chúng tôi nghe biết có một số người trong chúng tôi, không được chúng tôi uỷ nhiệm, mà lại đi nói những điều gây xáo trộn nơi anh em, làm anh em hoang mang. Vì thế, chúng tôi đã đồng tâm nhất trí quyết định chọn một số đại biểu, và phái họ đến với anh em, cùng với những người anh em thân mến của chúng tôi là ông Ba-na-ba và ông Phao-lô, những người đã cống hiến cuộc đời vì danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Vậy chúng tôi cử ông Giu-đa và ông Xi-la đến trình bày trực tiếp những điều viết sau đây: Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này: là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết, và tránh gian dâm. Anh em cẩn thận tránh những điều đó là tốt rồi. Chúc anh em an mạnh."

Các tông đồ đã gửi đến cho họ những người cống hiến cuộc đời vì danh Chúa Giêsu. Những tông đồ này trước đây cũng nhát đảm nhưng chắc có lẽ nhớ lại lời của Thầy trong bàn Tiệc Ly chiều thứ Năm Thánh nên các ông can đảm để loan báo Tin mừng.

Lời của Thầy ắt hẳn vẫn còn văng vẳng bên tai của các tông đồ: Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy.

Đó là cách biểu lộ duy nhất mà Thiên Chúa đã quyết định thể hiện: người đến cư ngụ giữa những kẻ tiếp đón Người và tin tưởng nơi Người. Nói cách khác, Người chỉ được người ta nhận ra Người "hiện diện", nhờ những kẻ yêu mến Người... Tình yêu không cưỡng chế ai, không thúc ép ai.

Cảm nghiệm về một sự hiện diện thân mật nào đó của một người, tuy "vắng mặt" về thể lý, chúng ta cũng có thể nhận ra trong nhung tình yêu nhân loại ta, nếu chúng là chân thực: bất giác chúng ta sẽ nhận thấy đang khi nói, trong một cuộc đối thoại nội tâm, với người yêu, với bạn hữu, con cái, hôn phu, người chồng.

Đó là sự hiện diện của kẻ vắng mặt ! Đó là cảm nghiệm mà chỉ có kẻ yêu thương mới nhận ra.

Chúng ta vẫn thường phàn nàn về sự vắng mặt của Thiên Chúa, về thái độ im lặng của Người. Người tín hữu luôn đụng chạm với lời thách đố của kẻ vô thần: . .."Thiên Chúa của bạn ở đâu ?" (Tv 42,4). Nhưng ngày nay, câu chất vấn đó có chiều hướng đi tới một chối từ Giáo hội, phủ nhận nếp sống cộng đoàn của Giáo hội: người ta cảm phục Chúa Giêsu như một mô hình của nhân loại... người ta không chống đối Người điều gì.. . nhưng người ta gạt Người sang một bên, như thể không có Người. . . bằng cách khỏa lấp qua một lời tuyên bố quá dễ dãi: "Tôi tin nhưng không hành đạo". Do đó, rõ ràng là có một ranh giới thực sự giữa "người môn đệ đích thực của Chúa Giêsu với mọi người khác, dù họ rất có cảm tình với nhân vật Giêsu Nadarét. Chúa Giêsu mạnh dạn quả quyết rằng, Người không chỉ là một kẻ chết, dù là tuyệt vời, của lịch sử xa xưa... cũng không chỉ là mẫu người đẹp mà sứ điệp có thể làm người ta phải suy nghĩ... Nhưng Người là một con người đang sống đang hoạt động, hôm nay vẫn còn hiển nhiên. Nhờ sự Phục sinh, Đức Giêsu Nadarét, con người lịch sử, đã bước vào thế giới xác định của Thiên Chúa: điều đó minh chúng. Người cũng trở nên kẻ đồng thời với mọi người.

Chúa Giêsu còn nói thêm: Ai yêu mến Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. Chúa Giêsu quả quyết, từ giờ trở đi Người đang hiện diện nhờ những kẻ yêu mến Người, nhờ các tín hữu đích thực mà Người đang cư ngụ trong họ.

Khi Chúa Giêsu tuyên bố những lời đó, quả thực chỉ còn ít giờ nữa là Người sẽ phải chết. Người là Đền thờ mới, được dựng lại nội trong ba ngày (Ga 2,19-22), Đền thờ mà ở đó người Do Thái thường cảm thấy một sự hiện diện thực sự của Thiên Chúa. Nhưng ở đây, Chúa Giêsu còn đi xa hơn. Người dám quả quyết rằng, kể từ' lúc Người ra đi, thì sự hiện diện không diễn tả thành lời này, chắc chắn bị che giấu, nhưng sẽ được bảo chứng nhờ các Kitô hữu.

Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy... Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy.

Giữa những người yêu thương nhau, cần có sự lắng nghe, đối thoại, nói năng, trao đổi. Trong tình yêu của chúng ta, không cố gì tệ hại hơn là "không biết lắng nghe", không chịu nói năng. Ở đây Chúa Giêsu mạc khải cho ta một trong những chìa khóa mở tới đời sống Kitô hữu đích thực: Suy niệm Lời Chúa, như một dấu chỉ của sự Hiện Diện. Đó là một sự kiện. Chúng ta không có sự hiện diện thể lý hữu hình của Chúa Giêsu, nhưng đối với kẻ yêu mến Người, thì thật là kỳ diệu, họ đã nhận được tư tưởng, lời nói của Người. Chúng ta cần ghi nhận, Chúa Giêsu không chỉ nói đến một lời được đón nhận trong tâm trí, mà là một lời ta phải tuân giữ một lời phải đưa ra thực hành, một lời nhờ luôn "sống động" sẽ giúp kẻ ban lời cũng thực sự hiện diện. Sự hiện diện của Đức Kitô Phục sinh, sống động. .. có thể được "nhận biết" cách cụ thể (điều đó hẳn là thế được !) trong đời sống của các môn đệ đích thực.

Cũng như Đức Giêsu Nadarét là nơi thể hiện sự hiện diện và lời của Chúa Cha ("Lời anh em nghe thấy không phải là của Thầy"), cũng vậy từ giờ trở đi, các Kitô hữu, Giáo hội chính là nơi đó. Thật là trách nhiệm lớn lao.

Nghe và giữ lời Chúa hay không là quyền tự do của mỗi kitô hữu.

Lm Anmai, CSsR
- dongcongnet

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)