Vì
sao bạn mời gọi
NGƯỜI YÊU THEO ĐẠO?
Ở giáo xứ nơi tôi
đang sống, tiến trình đô thị hóa quá nhanh. Chỉ trong vòng
trên dưới mười năm nay mà người ta không còn nhìn thấy bất
cứ một cánh đồng nào. Mọi nơi, mọi chỗ trên quê hương tôi,
bây giờ chỉ là khu công nghiệp, sân gôn (golf), nhà máy, chợ
búa, quán xá, nhà hàng, vũ trường, nhà trọ, bụi, khói… Điều
đó cũng có nghĩa là người ta đã giết chết sự thơ mộng của
quê hương tôi để đổi lấy đồng tiền, đổi lấy các phương tiện
làm giàu cho một số ít người thuộc tầng lớp cao, còn người
nghèo lại càng bị rốc sạch. Người nghèo vốn đã nghèo, lại
càng nghèo nàn hơn về vật chất, sức khỏe, kiến thức… Nhìn
họ sống trong những căn nhà trọ chật hẹp, ổ chuột, phải làm
việc tăng ca liên tục từ sáng sớm đến tối mịt, phải ăn uống
kham khổ, tích cóp từng đồng bạc lẻ… thật đáng thương tâm.
Tình
trạng đô thị hóa ngày càng mạnh như thế, lôi kéo nhiều người
trẻ từ khắp mọi miền đất nước về tìm việc làm, kiếm kế sinh
nhai. Bởi thu hút quá nhiều cư dân xa lạ, vì thế, gây ra không
ít bất ổn cho đời sống công cộng, đời sống tôn giáo.
Bí
tích hôn nhân cũng là một trong những vấn đề nan giải vốn
đã có nhiều nố khó giải quyết, bây giờ càng tăng lên với tốc
độ nhanh. Nhất là tình trạng sống trước hôn nhân bừa bãi,
ngừa thai nhân tạo, nạo phá thai, hôn nhân khác đạo… đang
ngày càng là những vấn đề nổi cộm. Trong nhiều bài viết trước,
tôi đã đề cập đến vấn đề nạo phá thai. Hôm nay, tôi sẽ chú
ý đến vấn đề hôn nhân khác đạo.
1.
Tự do cá nhân
Thiên
Chúa, dù là Chúa Tể trời đất, Đấng tạo thành mọi sự, luôn
luôn quan phòng yêu thương và gìn giữ mọi sự, vẫn không bao
giờ áp đặt quyền thờ phượng một mình Người trên mọi thụ tạo.
Đúng hơn, Người tỏ cho ta thấy tình yêu của Người, để mời
gọi ta tôn thờ Người. Thiên Chúa hoàn toàn trao cho ta tự
do để ta đón nhận hay không đón nhận Người. Chính Chúa Giêsu
đã cho ta thấy quyền tự do lựa chọn này trong lời căn dặn
trước khi sai bảy mươi hai môn đệ lên đường truyền giáo: “…Vào
bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những
gì mà người ta dọn cho anh em… Nhưng vào bất cứ thành nào
mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường
mà nói: ‘Ngay cả bụi trong thành các
ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các
ông’” (Mt 10, 1-12).
Chính
vì thế, người yêu của bạn có theo đạo hay không là chuyện
của họ. Còn nhiệm vụ của bạn là bảo vệ đức tin đến cùng và
chân thành giới thiệu đức tin ấy như là gia sản quý giá trên
nền tảng của Lời Chúa và giáo huấn của Hội Thánh.
2.
Gia sản quý giá
Không
ai muốn tặng người mình yêu của xấu. Đức tin là gia sản lớn,
là tài nguyên quý giá không thể tìm thấy bất cứ nơi đâu ngoài
Thiên Chúa. Hiểu được tầm quan trọng của đức tin không thể
có bất cứ điều gì sánh ví, ta kêu mời mọi người, trong đó
có người ta yêu, người mà ta sẽ hiến trọn đời mình để sống
với, nhận lãnh kho tàng đức tin nhằm cùng ta chiếm lĩnh hạnh
phúc.
Nhưng
đó không chỉ là hạnh phúc đời thường. Kho tàng vô giá của
đức tin cho ta biết, hạnh phúc mà ta chiếm lĩnh là hạnh phúc
trường cửu, thứ hạnh phúc chỉ có nơi lòng Thiên Chúa, làm
cho ta được sống bằng chính sự sống của Thiên Chúa.
Gia
sản mà đức tin mang lại quá lớn lao, vì thế, vô phúc cho người
dám đánh đổi cả kho tàng lớn như thế để chỉ nhận lấy cái tạm
bợ. Người chối bỏ đức tin mà mình đang có, sẽ là người khờ
dại không ai bằng. Càng khờ dại và đáng khinh thường hơn,
khi ta dám từ bỏ đức tin để chạy theo cái mà ta gọi là “tình
yêu”, nhưng thực chất, chỉ là một thứ tình yêu
tạm bợ của những con người dành cho nhau; có khi chỉ là sự
nông nổi của đôi lứa, thậm chí chỉ là giả trá, là nhằm chiếm
đoạt thân xác của nhau.
Bởi
đó, một mặt, gia sản quý giá của đức tin đòi ta phải trung
thành suốt cả đời, mặt khác, ta có trách nhiệm phải mời gọi
anh chị em của mình nhận lãnh. Tuy nhiên, trong cả hai trường
hợp: bản thân ta và người được ta mời gọi đều có tất cả tự
do. Nghĩa là ta có thể giữ đức tin,
mà nhiều khi rất đau đớn vì phải hy sinh một tình cảm nào
đó. Ta cũng có thể chọn sự khờ dại: bỏ đức tin để có bằng
được thứ tình cảm nào đó ở đời. Cũng vậy, người
mà ta mời gọi cũng có quyền chọn lựa: theo hay không theo
đức tin như chính bản thân ta.
Tuy
nhiên, bỏ đức tin để quyến luyến vợ hay chồng, để xây dựng
gia đình với người ngoài Công giáo, nếu có hạnh phúc thì không
nói làm chi. Nhưng sự đời chẳng ai có thể học được chữ ngờ.
Chẳng may, vài năm, ngay cả vài chục năm sau khi sống chung,
hạnh phúc rạn vỡ, thì thật là ê chề, đau đớn và tủi nhục:
Bởi vừa mất cả gia đình, mất cả người bạn trăm năm, đời sống
tôn giáo cũng tan mất. Có người sau khi mất hết, lại trở về
với đức tin, trường hợp này, Thiên Chúa
vẫn chỉ đứng hàng thứ hai sau vợ hay chồng của mình. Nếu còn
vợ hay chồng, có khi Chúa sẽ còn ở xa lắm!
Đàng
khác, người có đức tin, có luật Thiên Chúa và luật Hội Thánh
giám hộ, vẫn có thể phản bội khế ước hôn nhân, huống hồ người
chẳng có đức tin. Đành rằng, có rất nhiều người ngoại giáo
rất tốt. Tốt hơn cả người Công giáo là đàng khác. Nhưng ai
dám chắc kẻ đi bên cạnh mình là người tốt trăm phần trăm.
Trao thân gởi xác cho ai là chơi trò cút bắt với người đó.
Trong trò chơi tình yêu đôi lứa
và tình yêu vợ chồng, đuổi bắt cách trọn vẹn người mình yêu
không dễ chút nào. Ai dám chắc mình đã nắm chắc người mình
yêu trong tay? Vì thế, sự phản bội vẫn là điều
có thể xảy ra. Thực tế, đối với nhiều cặp vợ chồng, sự phản
bội đã từng xảy ra thật. Trong trường hợp này, nếu là người
Kitô giáo, chí ít là luật đạo còn có thể xen vào lương tâm
của người phản bội để mà cắn rứt. Nếu đó không phải là người
Kitô giáo thì sao? Liệu luật dân sự về hôn nhân gia đình có
đủ mạnh để giáo dục lương tâm?
Chọn lựa nào cũng
có cái giá phải trả. Tin nơi tình yêu của Chúa, để tôn thờ
Người, ơn cứu độ Chúa ban cho nhân loại, đương nhiên thuộc
về chúng ta: “Ai tin và chịu phép
rửa, sẽ được cứu độ” (Mc 16, 16a). Và:
“Khá lắm! Hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành! Được giao
ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy
vào mà hưởng niềm vui của chủ anh” (Mt 25, 21).
Còn chọn lựa đi ngoài Thiên Chúa, tách mình khỏi ảnh hưởng
của Thiên Chúa trên cuộc đời ta, điều tất yếu sẽ là:
“Ai không tin thì sẽ bị kết án” (Mc 16, 16b).
Và: “…Trong ngày ấy, thành Xôđôma
còn được xử khoan dung hơn thành đó” (Mt 10, 1-12).
3.
Thiên Chúa là Đấng mọi người phải tôn thờ
Chân
lý Chúa là Thiên Chúa duy nhất, ngoài Người ra không có thần
nào khác, phải phụng thờ một mình Thiên Chúa, là chân lý ngàn
đời, được nhắc đi nhắc lại suốt dòng lịch sử cứu độ. Đặc biệt,
khi ban lề luật cho dân, Chúa đã ban chân lý này làm lề luật
đứng hàng đầu mà dân phải sống: “Ngươi
không được có thần nào khác đối nghịch với Ta”
(Đnl 5, 7; Xh 20, 2-5). Hội Thánh không ngừng đọc lại chân
lý này trong kinh Mười Điều Răn: “Thứ
nhất thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết
mọi sự”.
Đến
thời Tân Ước, Chúa Giêsu tiếp tục nhắc lại mệnh lệnh tôn thờ
một mình Chúa mà Cựu Ước đã từng đặt trách nhiệm nặng cho
những ai đi ngoài chân lý này: “Ngươi
phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ
phượng một mình Người mà thôi” (Lc 4, 8. xem Đnl
6, 13). Chúa Giêsu đòi ta phải “yêu
mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn,
hết sức lực” (Lc 10, 27. xem Đnl 6, 4-6).
Nhờ
mạc khải của Thiên Chúa, ta biết, chỉ có một mình Thiên Chúa
là Đấng đáng tôn thờ. Ta không bao giờ được phép đặt bất cứ
thụ tạo nào ngang hàng với Thiên Chúa. Bởi không bao giờ có
bất cứ cái gì ngoài Thiên Chúa là thần. Người là vị thần duy
nhất phải được ta tôn thờ cả “trong
tinh thần và chân lý” (Ga 4, 23). Lý do lớn buộc
mọi người không trừ ai, phải tôn thờ Thiên Chúa là vì: “Người
là Thiên Chúa, là Đấng sáng tạo và cứu chuộc, là Chúa và Thầy
của mọi loài, là tình yêu vô biên và giàu lòng thương xót”
(GLCG 2096).
Như
vậy, tự bản chất, lẽ ra con người phải là con người thuộc
về Thiên Chúa, đương nhiên phải thần phục Người. Nhưng nhiều
anh chị em xung quanh ta, với những lý do khác nhau, đã xa
rời, hoặc chưa từng nhận biết Thiên Chúa. Vì thế, ta có mời
gọi bạn bè, người yêu, thân quyến… theo đạo, thì cũng chỉ
là giúp họ tìm lại lợi ích lớn lao và quan trọng nhất của
đời người, họ không thể tìm được bất cứ nơi đâu. Đó cũng chỉ
là tìm cách đưa họ về lại với nguồn gốc đích thực của mình,
về lại với Đấng đang tha thiết tìm kiếm và chờ đợi họ, chờ
đợi mỗi một con người. Hình ảnh người cha chờ đợi trong mòn
mỏi, để đến một ngày, vui mừng đón nhận lại người con lưu
lạc trở về trong dụ ngôn Người Cha nhân từ (Lc 15, 11-32)
và hình ảnh người chủ đi tìm con chiên lạc, “và
sau khi tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở
về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: ‘Anh
em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc'”
(Lc 15, 5-6), nói lên tất cả tình yêu thương không tài nào
diễn tả nổi của Đấng là Thiên Chúa đã trót cất công đi tìm,
và tìm đến cùng thụ tạo mang chính hình ảnh của mình.
Vì
lẽ, Thiên Chúa là Đấng đáng tôn thờ, là Đấng tha thiết ngỏ
lời và không ngừng tìm kiếm từng người trong cõi đời như thế,
Người trở thành quà tặng tuyệt đối cao cả là chính bản thân
Người cho trần gian. Bởi đó, khi mời gọi anh chị em của mình
nhìn nhận, tôn thờ Thiên Chúa, cũng chính là lúc ta trao tặng
món quà vô giá cho người ta thương mến.
4.
Mệnh lệnh truyền giáo
Ngay
trong thời công khai, cùng lúc với việc rao giảng Tin Mừng,
Chúa Giêsu đã từng dạy phải loan truyền giáo huấn của Chúa:
“Điều Thầy nói với anh em lúc đêm
hôm, hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai,
thì hãy lên mái nhà mà rao giảng” (Mt 10, 26).
Chúa cũng huấn luyện và nhiều lần sai các môn đệ của Người
ra đi truyền giáo (Mt 10, 1-16; Lc 10, 1-16) như là bằng chứng
của trách nhiệm thuộc về những người sau khi đã lãnh nhận
giáo huấn của Chúa.
Bởi
truyền giáo là tâm huyết của Chúa Giêsu, là mệnh lệnh quan
trọng mà Người nhận lãnh nơi Chúa Cha, là lý do lớn nhất,
nhờ đó nhân loại nhận biết Thiên Chúa và được cứu độ, Chúa
Giêsu đã luôn luôn đặt trách nhiệm giảng dạy con người lên
hàng đầu. Bởi nhờ lãnh nhận giáo huấn của Người, nhân loại
được cứu độ, vì thế công tác truyền giáo của Chúa Giêsu nhắm
tới ơn cứu độ, cũng là lý do hàng đầu để Người nhập thể làm
người.
Nếu
trong đời thường, lời căn dặn cuối cùng của ai trước khi đi
xa, sẽ là lời quan trọng nhất, lời đáng nhớ nhất cho tất cả
những người thân còn lại. Bởi thao thức truyền giáo của Chúa
Giêsu lớn đến vô cùng như thế, nên nó trở thành mệnh lệnh
cuối cùng dành cho từng người Kitô hữu, không miễn trừ ai.
Ngay sau khi sống lại, trước khi rời thế gian về cùng Thiên
Chúa, Chúa Giêsu đã không để lại điều gì khác hơn lời di chúc:
“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên
hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu
phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin thì sẽ bị kết án”
(Mc 16, 15-16). Vì là mệnh lệnh cuối cùng, lời dạy hãy truyền
giáo như là tóm kết tất cả mọi giáo huấn của Chúa Giêsu. Đúng
hơn, mọi giáo huấn của cả cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu,
giờ đây cô đọng lại trong di chúc truyền giáo này. Nó trở
thành lời quan trọng nhất, lời sống còn của Hội Thánh, lời
quý giá không thể có gì thay thế của từng Kitô hữu.
Di
chúc truyền giáo mang ý nghĩa lớn lao đến vậy, vì thế, Hội
Thánh của Chúa Kitô không ngừng nhắc đi nhắc lại di chúc này,
và luôn luôn lao mình hiến thân cho sứ vụ truyền giáo. Bằng
chứng là chính bản thân các tông đồ và lớp lớp môn đệ Chúa
Kitô, qua mọi thế hệ đã bỏ mình, ngã xuống để hạt giống Tin
Mừng lớn lên.
Thánh
Phaolô đã từng khẳng định tầm quan trọng của sứ vụ truyền
giáo ấy: “Khốn thân tôi, nếu tôi
không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9, 16b). Một khi
biết rằng, truyền giáo là trách nhiệm nặng nề của Kitô hữu,
thì dù có sóng gió thế nào, thánh nhân sẽ chẳng bao giờ nề
hà: “Tôi vui mừng được chịu đau
khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải
chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho
thân thể Người là Hội Thánh. Tôi đã trở nên người phục vụ
Hội Thánh, theo kế hoạch Thiên Chúa đã ủy thác cho tôi, liên
quan đến anh em: đó là tôi phải rao giảng lời của người cho
trọn vẹn, rao giảng mầu nhiệm đã được giữ kín từ bao thời
đại và qua bao thế hệ, nhưng nay đã được tỏ ra cho các thánh
của Thiên Chúa” (Cl 1, 24-26).
Công
Đồng Vatican II, khi mở đầu Sắc Lệnh Về Hoạt Động Truyền Giáo
của Hội Thánh, đã dứt khoát khẳng định: “Được
Thiên Chúa sai đến muôn dân để nên bí tích cứu độ phổ quát,
Hội Thánh, vì những đòi hỏi căn bản của Công giáo tính và
vì mệnh lệnh của Đấng Sáng Lập, nhất quyết loan báo Phúc âm
cho hết mọi người. Thực vậy, chính các tông đồ, nền tảng Hội
Thánh, đã theo chân Chúa Kitô, rao giảng lời chân lý và khai
sinh các giáo đoàn. Do đó, những người kế vị các tông đồ có
nhiệm vụ tiếp tục công việc này, để ‘Lời Chúa được lan tràn
và sáng tỏ’ (2 Th 3, 1),
nước Chúa được công bố và thiết lập khắp trần gian"
(AG, số 1).
Như
vậy, Hội thánh của Chúa Kitô đã không ngừng, và vẫn tiếp tục
cưu mang lời di chúc cao cả của Thầy mình là Hãy Truyền Giáo,
đến lượt chúng ta, mỗi Kitô hữu, con cái của Hội Thánh, môn
đệ của Chúa Kitô, lại tiếp tục nối dài cánh tay của Chúa Kitô,
làm nghĩa vụ loan báo Nước Thiên Chúa cho anh chị em của mình.
Bởi
đó, công tác truyền giáo là lý do mạnh, lý do hàng đầu, lý
do quan trọng trên mọi lý do, để bạn bè mời gọi bạn bè, anh
chị em mời gọi anh chị em, cha mẹ mời gọi con cái, vợ chồng,
họ hàng, lối xóm… mời gọi nhau nên tông đồ của Thiên Chúa,
làm cho Danh Chúa cả sáng, Nước Chúa trị đến. Nhờ đó, mọi
người nhận lãnh ơn cứu độ của Chúa Kitô.
Đặc
biệt, những người yêu nhau. Họ sẽ là người yêu mời gọi người
yêu của mình tìm về chân lý đức tin mà họ đang cất giữ, đang
ấp ủ trong tim. Họ chia sẻ đức tin cho nhau để một khi nên
một cùng nhau trong nghĩa vợ chồng, cả hai cùng bước đi trong
ánh sáng của tình yêu Thiên Chúa, Đấng mà nhờ Người, họ được
chúc phúc để nên nghĩa vợ chồng, có nhau trong cùng một mái
ấm. Nếu đôi vợ chồng cùng thông chia cho nhau cả đời sống
vật chất, thể chất, tinh thần, và đời sống đức tin mạnh như
thế, thì ngay sự hiệp nhất lớn lao ấy, đã là ơn Chúa ban và
gìn giữ họ. Với sự gắn bó đến cùng trong nghĩa vợ tình chồng,
cộng với ơn Chúa lớn đến thế, thử hỏi có còn trở lực nào có
thể chia cắt gia đình của đôi bạn. Vì thế, cùng
tâm đầu ý hợp với nhau suốt cả cuộc đời trong cùng một đức
tin duy nhất vào Chúa Kitô, đời sống của họ chẳng những không
hề mất mát bất cứ điều gì, ngược lại thật dồi dào, thật phong
phú.
5.
Ý kiến của người viết
Trước
hết, phải nói ngay rằng, lập gia đình với người ngoài Công
giáo vẫn có những thuận lợi riêng của nó, nhất là về mặt truyền
giáo. Nhưng trong phần này, chúng ta tạm bỏ qua những thuận
lợi. Đứng trên quan điểm của một linh mục đang coi xứ, trong
công tác mục vụ của mình, không ít lần phải giải quyết những
vấn nạn, trong đó đa phần là vấn nạn về hôn nhân – gia đình,
vì thế, tôi muốn trình bày một chút trăn trở của mình về một
khía cạnh thường gặp phải: Hôn
nhân khác đạo.
Có
lẽ vấn đề tôn giáo, đặc biệt là hôn nhân khác đạo, là vấn
đề khó khăn không chỉ đối với các bạn trẻ, các bậc phụ huynh,
và những ai có liên quan, nhưng còn là vấn đề lớn mà các mục
tử nhiều khi lúng túng, không biết phải giải quyết thế nào
cho tốt đẹp nhất, có hậu nhất.
Không
phải tất cả những người ngoài Công giáo lấy người Công giáo
đều sẵn sàng chấp nhận gia nhập đạo, để cùng sống một lý tưởng
của đức tin Công giáo. Nếu theo lập trường của Hội Thánh,
không giải quyết cho hôn nhân khác đạo, chính người linh mục
cảm thấy đau buồn cho anh chị em giáo dân của mình vì phải
sống “rối”.
Lúc
này việc chuẩn khác đạo được đặt ra, nhưng vẫn không là cách
giải quyết tối ưu. Bởi phép chuẩn là nút dây thắt gút, buộc
người Công giáo phải chung thủy một vợ, một chồng suốt đời,
trong khi luật này lại không có hiệu lực trên người ngoài
Công giáo. Cho phép chuẩn hôn nhân
khác đạo, sẽ giải quyết được vấn đề hiệp thông trong Hội Thánh
đối với người Công giáo, nhưng lại gây thiệt thòi cho chính
họ nếu đời sống vợ chồng bị rạn nứt. Hơn nữa,
lời hứa của bên Công giáo “quyết bảo vệ đức tin khỏi mọi nguy
hiểm và xúc phạm” trước khi được chuẩn, không dễ gì có thể
giữ một cách trọn vẹn. Bởi người ngoài Công giáo phải sống
gần ta. Lúc nào họ vui cùng ta thì không sao, nhưng khi họ
buồn vì ta, họ có thể xúc phạm đức tin của ta bất cứ lúc nào,
ta không dễ gì kịp ngăn cản hành vi hay lời nói của họ xúc
phạm đức tin của ta.
Hiện
nay, có nhiều linh mục “thông cảm” với người Công giáo lấy
người ngoài Công giáo bằng cách cho họ một năm xưng tội, rước
lễ một lần cách kín đáo. Làm như vậy, linh mục đứng về phía
người lập gia đình, nhưng chính linh mục lại càng mất bình
an, vì đi ngược giáo huấn của Hội Thánh. Rồi ai sẽ chịu trách
nhiệm về cuộc hôn nhân khi chính người linh mục dám vượt qua
lề luật Hội Thánh? Trong trường hợp, linh mục vượt qua luật
Hội Thánh, nếu hôn nhân của hai người phối ngẫu không có vấn
đề gì thì thôi, nhưng nếu "cơm
không lành, canh không ngọt", thì người
linh mục càng mất bình an, càng giày vò lương tâm, vì cho
dù không minh nhiên, nhưng cách mặc nhiên, linh mục đã cho
phép họ lấy nhau qua nghĩa cử “thông cảm” của mình.
Ngay
cả khi bên không Công giáo chấp nhận gia nhập đạo đi nữa,
thì đó cũng chưa phải là cách an toàn nhất để bảo vệ đức tin
Công giáo. Bởi bên cạnh nhiều người có lòng tin chân thành,
cũng sẽ có rất nhiều người theo đạo chỉ để được thành hôn
với người mình yêu mà thôi.
Thông
thường, số đôi hôn phối không cùng tôn giáo, tỷ lệ hạnh phúc
còn thấp (nhất là đối với người vợ là người Công giáo. Nói
như thế, chúng ta không loại trừ nhiều trường hợp hôn nhân
khác đạo vẫn có hạnh phúc, trong khi một số hôn nhân cùng
đức tin Công giáo lại mất hạnh phúc), trừ trường hợp người
Công giáo sống tình trạng mà dư luận cách chung gọi là “bỏ
đạo”, để đẹp lòng chồng hay vợ của mình. Nhưng
ngay cả khi người ta “bỏ đạo”, theo chồng hay vợ mình, thì
sâu thẳm trong lương tâm, người bị coi là “bỏ đạo” vẫn mất
bình an, vẫn bị nỗi buồn và sự tủi thân gặm nhấm suốt đời.
Một người sống trong gia đình, bên cạnh chồng hoặc vợ con
của mình mà suốt đời mang mặc cảm tội lỗi, suốt đời bị lương
tâm cấu xé, làm sao mang lại hạnh phúc lớn nhất có thể cho
gia đình, cho chồng, cho vợ, cho con cháu mình?
Còn
trường hợp linh mục dứt khoát không cho họ lấy nhau, hoặc
họ đã lấy nhau, linh mục thực hiện đúng theo luật Hội Thánh
đối với người “rối”, chắc chắn đôi hôn phối sẽ bất mãn với
Hội Thánh, người bên ngoài Công giáo càng không có cái nhìn
đúng về linh mục nói riêng, Hội Thánh nói chung.
Vân
vân và vân vân… Vô số những góc cạnh đặt ra đối với hôn nhân
khác đạo và đối với chính các mục tử. Vì thế, đây là vấn đề
không những không đơn giản, mà còn nan giải của thời nay,
khi mà giới trẻ thoát ly gia đình
quá sớm, va chạm với thế giới bên ngoài quá nhiều, tiếp cận
quá dễ dàng mọi hình thức hoặc mọi phương tiện thông tin và
hưởng thụ… Và hình như lấy chồng, lấy vợ ngoại đạo là trào
lưu mới? Có khi một đôi bạn sống cạnh nhà nhau,
cùng là Công giáo, thương nhau tưởng chừng không thể xa nhau
được, đùng một cái, anh thanh niên bỏ đi lấy một cô vợ ngoại
giáo tận đâu đâu đem về, chính cô người yêu cũ của anh thanh
niên còn không hiểu nổi tại sao "anh ta chê mình".
Cách
nay chưa lâu, tôi nhận được từ người chịu trách nhiệm của
một website lá thư của một bạn trẻ xin giúp ý kiến cho trường
hợp của bản thân về vấn đề hôn nhân với người khác đạo. Chính
lá thư này gợi hứng cho tôi nội dung của bài viết này. Tuy
nhiên, với một bài viết đơn sơ thế này, chưa phải là câu trả
lời hoàn hảo. Một mặt, với nội dung bài viết, có người đồng
ý, và cùng chia sẻ; nhưng chắc chắn cũng sẽ có người không
thể chia sẻ với quan điểm của tôi. Nhưng tôi tin rằng, nó
vẫn có lợi cách này, cách khác cho người cần đến nó. Nghĩ
như thế mà tôi đã viết.
Mặt
khác, liên quan đến hôn nhân khác đạo còn có nhiều điều khác
đặt ra như: Theo đạo là theo ai? Hội Thánh nói gì về việc
chuẩn khác đạo? Có nên ban phép chuẩn khác đạo cách quá dễ
dàng, nhanh chóng? Chuẩn khác đạo sẽ xảy ra mặt lợi, mặt hại
nào? Theo đạo có phải là bỏ cha mẹ như nhiều người thường
nghĩ?… Tất cả những lý do trên, khiến tôi không muốn đưa ra
câu trả lời dứt khoát, mang tính áp đặt: được phép hay không
được phép thành hôn với người ngoài Công giáo. Chỉ xin ghi
chép một vài gợi ý từ suy nghĩ của bản thân, để người trong
cuộc tự do tìm câu trả lời cho mình: Có
nên lấy người ngoài Công giáo hay không?!!