ĐÀNG
SAU VIỆC PHẠM TỘI LÀ GÌ?
Trong những ngày
mùa chay, đặc biệt, những ngày cận và trong tuần Thánh,
rất nhiều người đi xưng tội. Người ta tỉ mỉ xưng thú đủ
thứ tội, từ tội trong lời ăn tiếng nói, rồi tội trong tư
tưởng, tội trong hành động, đến cả những “tội
quên, tội sót, và tội phạm trót đời con”,
nghe mà… tội nghiệp. Người ta còn kể lể chính xác đã xưng
mấy tháng, nhớ kỹ mỗi tháng phạm tội mấy lần… Thậm chí,
có người đã bỏ xưng tội rất nhiều năm, khi đến xưng tội,
mọi thứ được gộp chung một câu cho chắc ăn: “Tội
gì cũng có”. Gọi là xưng tội, nhưng xưng theo
kiểu tội gì cũng có, thực chất, chẳng xưng gì cả…
Nhưng
đàng sau những kiểu xưng tội ấy là gì? Phải chăng như thế
đã là sám hối, và chúng ta chỉ cần có thế là đủ cho cái
gọi là “sống đạo”?
Không
ai trách móc người Công giáo khi họ xưng thú từng chi tiết
những tội bỏ kinh sớm tối, chia lòng, chia trí, ngủ gục
khi dự lễ, cầu kinh. Chẳng ai trách khi họ xưng thú những
tội rất đời thường: trách móc nhau, oán giận nhau, khó ưa
lẫn nhau… Hoặc trong các nghĩa vụ đạo đức như kiêng khem,
hy sinh… Và những lề luật khác liên quan đến giáo luật như
bỏ chay tịnh, bỏ kiêng thịt, bỏ lễ buộc, bỏ mùa Phục Sinh…
Cả
những anh chị em chỉ giữ đạo theo mùa: Cứ
vào mùa (Vọng, Giáng Sinh, Chay, Phục Sinh), là ta làm nghĩa
vụ cho xong, cho rồi. Đến lúc ra mùa, hoặc tệ
hơn, ngay sau khi rời tòa giải tội, trở về đời thường, ta
đã từng sống thế nào, sự sống của ta cứ thế ấy, không một
chút biến đổi, không một chút mềm lòng. Lại chờ đến mùa
sau, ta lại làm bấy nhiêu việc. Cứ thế… cứ thế…, hết mùa
này đến mùa khác, ta chỉ tìm trấn an lương tâm bằng những
việc làm máy móc.
Bởi
vậy, việc nhiều người xưng tội như hiện nay, một mặt, đó
là dấu hiệu đáng mừng, nhưng xét về khía cạnh nào đó, nó
vẫn cứ là vấn đề cần xem lại… Kể cả những ai, nhất là các
đôi nam nữ vừa ngồi cùng nhau trên chiếc xe gắn máy ở một
góc nào đó trong khuôn viên nhà thờ, vừa trao đổi tâm tình,
vừa… nghe lễ từ xa xa, phía bên trong nhà thờ, cũng là một
dạng thức lệch chuẩn của lương tâm…
Một
lý do rất đơn giản khiến người ta tấp nập đến tòa giải tội
trong những ngày cuối mùa Chay và tuần Thánh, đó là chuẩn
bị lòng mình mừng lễ Phục Sinh. Tôi không có ý “bới
lá tìm sâu”, hoặc bóp méo vấn đề đi xưng tội.
Càng không bao giờ có ý chống việc xưng tội. Bởi ai cũng
biết rõ, việc xưng tội trong những ngày cực thánh này là
việc làm tốt, là việc hệ trọng, không ai chống đối. Nhưng
dù với lý do rất hay, rất đẹp là dọn lòng mừng lễ Phục Sinh,
thì bên cạnh điều tốt, hình như bao giờ cũng có những điều,
tuy chưa hẳn là xấu, nhưng có thể chưa hay. Bởi biết đâu,
trong những hàng dài người nối tiếp người, chờ cáo giải,
vẫn có ai đó, chỉ xưng tội như một thói quen, không hề có
chút ý thức về tội, về tình trạng tội của mình, càng không
bao giờ nghĩ tới lòng thương xót của Chúa mà chỉ tìm một
lối thoát tạm thời trấn an lương tâm.
Đành
rằng, lòng thương xót của Chúa là vô cùng, chỉ cần lòng
người nhận ra sự yếu đuối của mình, là có thể chạm đến lòng
thương xót ấy, là có thể lãnh nhận ơn tha thứ. Nhưng nếu
tìm tòi kỹ lưỡng hơn, đi đến tận nguồn, tận ngọn của vấn
đề, ta nhận ra, trong cách xưng tội của nhiều người như
vừa kể, vẫn có điều bất ổn, vẫn ẩn giấu bên dưới cách xưng
tội, cũng như những tội được xưng thú, ngay cả việc người
ta tấp nập đến tòa giải tội trong những ngày cực trọng này,
một tảng băng chìm, lạnh giá, và nguy hiểm: ĐỨC
TIN BỊ ĐE DỌA. Sự đe dọa này mang nhiều
cấp độ: Có thể là đức tin bị đánh mất, hoặc chí ít, đã bị
hao hụt. Cũng có thể là chẳng còn đức tin, hoặc chẳng có
đức tin.
Đúng
hơn, phải nói, vì thiếu chiều sâu của lòng đạo, thiếu nền
tảng đức tin, người ta chỉ chú tâm vào cái ngọn của vấn
đề, nhưng không ai tra xét cái gốc của việc phạm tội. Người
ta hối tiếc vì đã phạm tội, nhưng không ai tìm hiểu xem
nguyên nhân nào đưa đến thái độ chểnh mãn lòng đạo đến như
vậy. Người ta để ý đến cái bên ngoài, mà không để ý đến
chính đức tin của mình. Có mấy ai nhận ra mình thiếu đức
tin. Càng khó thấy có người xưng tội vì đã yếu lòng tin.
Trong khi đức tin mới là điều quan trọng, là nền tảng, là
căn cội của vấn đề.
Chính
đức tin, tuy rất âm thầm, nhưng lại rất mạnh mẽ, chi phối
đời sống tông giáo và cách thực hành đời sống tôn giáo của
con người. Nếu không có đức tin, hoặc đức tin quá lu mờ,
thì chuyện người ta phạm tội là điều dễ hiểu. người ta có
đi xưng tội đến ngàn lần, thì vẫn cứ phạm đến vài chục ngàn
lần như không vậy. Bởi thế, nếu không lo chỉnh trang chính
đức tin của mình, thì việc xưng tội chỉ là biện pháp nhất
thời. Rồi sau đó, người ta lại tiếp tục con đường của riêng
mình như đã từng đi trên con đường ấy. Chính
vì lý do thiếu chiều sâu đức tin, hàng năm cứ đến mùa, đến
lễ, người ta kéo nhau đi thú nhận tội lỗi đông không thể
tả, nhưng lại quá hiếm những người, sau khi xưng tội, thực
sự đổi mới lòng mình, đổi mới đời sống, đổi mới cái nhìn
đức tin và việc sống đạo trong đời cá nhân của mình.
Hiếm đến vô cùng!
Đáng
tiếc là, từ xưa đến nay, vẫn cứ như thế, vẫn cứ những nhịp
độ đều đặn: đến mùa, đến lễ thì việc xưng tội lên đến tận
đỉnh điểm. Hết mùa, hết lễ, mọi sự như chẳng có gì xảy ra.
Mọi sự cứ đều đặn hết năm này đến năm khác. Đều đặn đến
mức đáng sợ. Nhưng hình như chưa bao giờ có ai, kể cả các
bậc lãnh đạo trong Hội Thánh, hoặc chính bản thân các hối
nhân đặt vấn đề bởi đâu lại xảy ra ngày cành nhiều những
hiện tượng “khô cạn” đức tin? Nguy hiểm hơn, hiện tượng
“khô cạn” ấy càng lúc càng phổ biến theo chiều hướng trầm
trọng.
Như
vậy, đã rõ, cái gốc của vấn đề phạm tội - dẫn đến việc xưng
tội như một thói quen, thiếu lòng thống hối thật, thiếu
ý thức về tội, thiếu quyết tâm chừa tội, thiếu một xác tín
nội tâm về lòng thương xót của Chúa - không khó trả lời:
Thiếu đức tin. Bởi thiếu đức tin, thậm chí không còn đức
tin, mà người ta đang để xảy ra một thứ tôn giáo nặng hình
thức ngay trong việc giữ và sống đạo của mình.
Không
có đức tin, chắc chắn người ta sẽ bị đẩy xa lòng yêu mến
Chúa. Không còn tin, không còn yêu mến, lập tức sự cậy trông
cũng trở thành một thứ xa xí phẩm của đời người. Đức tin
không có, lòng cậy trông chai cứng, lòng yêu mến đối với
việc giữ đạo cũng tan biến, vì thế, mọi nghĩa vụ đạo đức
mà người ta thực hiện chỉ là hình thức, là cảm giác phải
giữ, phải thực hiện, nếu không thì sẽ khác người.
Có
khi các việc đạo đức chỉ là gánh nặng, là của nợ mà người
ta chỉ muốn quăng đi. Nếu việc đạo đức thiếu chiều sâu nội
tâm, hơn thế, chỉ là cái phải làm, là những nghĩa vụ khô
khan, thì cầm chắc, đời sống tôn giáo xuống cấp. Khi đó,
nếu vui, người ta thực hành nghĩa vụ đạo đức. Nhưng nếu
buồn, họ chối bỏ, có gì là khó đâu. Lòng đạo hời hợt, vì
thế, đi xưng tội, người ta cũng xưng tội cách hết sức hời
hợt. Mà bởi mọi sự chỉ là hời hợt, người ta cũng chẳng thể
nào nhận ra tình trạng đức tin “khô cạn” của mình. Bởi vậy,
ta không lạ gì khi người ta xưng đủ mọi thứ tội, nhưng cái
gốc của vấn để đẩy người ta đến chỗ phạm tội là sự yếu kém
của đức tin, thì mãi mãi không ai nhận ra.
Ước
mong mỗi lần chuẩn bị vào tòa cáo giải, người tín hữu, trong
khi xét mình, luôn tự tra vấn về chính đức tin của mình.
Bởi việc xét mình, tự nhận ra mình có tội đã là điều quang
trọng, nhưng cái quang trọng nhất vẫn là phải tìm ra cho
được nền tảng dung túng cho việc phạm tội ấy. Vì thế hãy
đặt câu hỏi bởi đâu mà tôi đã phạm tội dễ dàng như thế,
trước khi đặt câu hỏi tôi đã phạm tội gì, mấy lần, mấy tháng?
Trình
bày những điều như trên, tôi không có ý loại trừ những anh
chị em có đức tin, nhưng vì bản tính yếu đuối của kiếp người,
họ đã nhiều lần vấp ngã. Chúng ta đã từng có kinh nghiệm
này. Đó cũng chính là cảm nghiệm rất thật mà thánh Phaolô
từng thú nhận: “Sự lành tôi muốn,
tôi không làm, sự dữ tôi không muốn, tôi lại làm” (Rm
7, 19). Cũng vậy, một mặt, ta muốn yêu mến Chúa, muốt thoát
ra khỏi những cám dỗ của tội, rất muốn là đàng khác, nhưng
không hiểu sao, ta vẫn phạm tội, vẫn đẩy mình xa cách Thiên
Chúa.
Cả
việc đi xưng tội, đi thật đông, xưng tội thật lòng, xưng
tội chi ly… đều là những việc đạo đức rất đáng khuyến khích,
cần phải làm thường xuyên, không chỉ trong mùa Chay, tuần
Thánh hay mùa Phục Sinh, mà còn phải thực hiện liên tục,
suốt đời.
Nhưng
điều tôi muốn nói ở đây là, dù ai, dù hoàn cảnh nào, chúng
ta vẫn phải xem lại đức tin của mình. Nếu tôi đã có đức
tin, nhưng tôi vẫn sa ngã, thì nhờ kiểm điểm lại, tôi sẽ
được củng cố hơn trong đời sống đức tin của tôi. Nếu tôi
yếu đức tin, tôi lười biếng các bổn phận đạo đức, và phạm
tội thường xuyên, hãy nhớ rằng, tội trước tiên tôi cần phải
thống hối và sửa mình chính là tập tín thác vào Chúa hơn,
tập sống siêu thoát hơn, tập lấy tinh thần phục vụ, xả kỷ
làm trọng hơn… Càng thiếu đức tin, càng dễ phạm tội, thì
tôi càng cầu nguyện nhiều hơn, tìm cách tiếp xúc với Lời
Chúa qua việc đọc, học hỏi, suy niệm Lời Chúa, nhờ đó tôi
có một tương quan hết sức cá vị với Chúa của tôi. Tôi cũng
không quên tham gia việc thờ phượng tập thể cùng anh chị
em, để qua và nhờ anh chị em, đức tin của tôi sáng hơn,
mạnh hơn.
Biết
rằng, tôi có xu hướng đi ngược lại những gì đức tin đòi
hỏi, thì chính tôi phải cố gắng ngày một chút, dừng lại
những xu hướng ấy, và làm điều ngược lại với xu hướng ấy
là lập tức quay về với Thiên Chúa, đối diện với lương tâm
và phản tĩnh ngay.
Chúa
chúng ta đã phục sinh. Bạn
và tôi hãy phục sinh đức tin của mình. Hãy cố
gắng hết sức có thể, làm cho đức tin có một sức sống mới,
phù hợp với ơn Phục Sinh mà Đấng Phục Sinh trao ban…