Suy
niệm Mùa Vọng 2005
LẠY
CHÚA GIÊSU, XIN NGỰ ĐẾN
“MARANATHA
– LẠY CHÚA GIÊSU, XIN NGỰ ĐẾN!”
(Kh 22, 20),
điệp khúc của mùa Vọng, tiếp tục vang lên trong mùa Vọng 2006
này.
Sống
mùa Vọng, Hội Thánh mượn lại tâm tình trông chờ Chúa Cứu Thế
của người Cựu Ước để sống niềm hy vọng Người kết thúc thời Tân
Ước và dẫn đưa đoàn dân mới vào Giêrusalem mới có Trời mới Đất
mới. Trong hy vọng cánh chung ấy, Hội Thánh không ngớt cầu nguyện:
“Maranatha – Lạy Chúa Giêsu xin ngự
đến”.
“Maranatha
– Lạy Chúa Giêsu xin ngự đến!”
là lời cuối cùng trước khi kết thúc sách Khải Huyền, quyển sách
cuối cùng của toàn bộ Thánh Kinh Kitô giáo do thánh Gioan Tông
đồ, “Người môn đệ Chúa yêu”
viết.
Như
vậy, sách Khải Huyền kết thúc, nhưng không phải đã kết thúc
sứ mạng của Chúa Giêsu. Quyển Thánh Kinh đã kết thúc với sự
kết thúc của sách Khải Huyền, vẫn chỉ là kết thúc một quyển
sách Thánh chứa đựng Lời mạc khải của Thiên Chúa, chứ không
bao giờ kết thúc triều đại của Chúa Giêsu.
Cũng
giống như mạc khải của Chúa Giêsu đã kết thúc với cái chết của
thánh Gioan, vị Tông đồ cuối cùng trong hàng ngũ Tông đồ, vẫn
chưa từng kết thúc những tiến triển và những khám phá phong
phú mà kho tàng mạc khải gợi hứng cho Hội Thánh.
Và
cũng như ơn cứu độ từ ngàn xưa của Thiên Chúa đã kết thúc nơi
cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu, vẫn chưa bao giờ ngừng
chảy trong lòng thế giới, giữa vô số những tâm hồn thành tâm
thiện chí từ đời nọ đến đời kia.
Cũng
vậy, việc trao ban Thánh Thần của Chúa Giêsu đã hoàn tất trong
ngày lễ Hiện Xuống, vẫn chỉ là một khởi đầu cho triều đại của
ơn Thánh Hóa mà Chúa Giêsu thực hiện nhờ Thánh Thần của Người.
Tất
cả những kết thúc đã từng xảy ra trong dòng Lịch Sử Thánh mà
Thiên Chúa đã thực hiện giữa loài người, chưa bao giờ kết thúc,
nhưng vẫn chỉ là sự khởi đầu cho những kết thúc mới. Bởi thế,
những gì Thiên Chúa đã thực hiện nơi Chúa Giêsu để nhân loại
hưởng nhờ, vẫn là khởi điểm, là sự hướng về và nhắm phục vụ
hạnh phúc đời đời của loài người. Bởi chỉ nhận ra tỏ tường rằng
thế giới vẫn không ngừng khởi đi từ những kết thúc, nhờ chính
vai trò kết thúc và khởi điểm của Chúa Giêsu, đúng như sách
Khải Huyền khẳng định: Chúa
Giêsu “là Anpha và Ômêga, là Đầu và là Cuối, là Khởi
Nguyên và Tận Cùng” (Kh 22, 13) Vì thế, Hội Thánh
không những không bao giờ dừng sự hy vọng của mình nơi Chúa
Giêsu, mà còn tin tưởng mạnh mẽ và tha thiết kêu nài Người ngự
đến (Kh 22, 20).
Nhưng
chúng ta không thể chỉ biết hô to khẩu hiệu của mùa Vọng: xin
Chúa ngự đến, mà không dấn thân để Chúa ngự đến trong chính
tâm hồn mình, trong anh chị em xung quang, trong thế giới mà
mình đang hiện diện và đồng hành. Đó là khả năng, là niềm vinh
dự Chúa ban cho từng người, nhưng cũng là trách nhiệm đòi buộc
trong từng ngày sống của mình. Vậy, tôi thử đề nghị vài cách
thức chúng ta cần làm để Chúa ngự đến trong chính mình và nơi
mọi người:
1.
Chấp nhận chính mình.
Trước
hết, phải nói ngay rằng, chấp nhận
chính mình mà tôi muốn đề cập ở đây không
có nghĩa là một thái độ an phận, sống “tà tà”, ù
lỳ, tự biện hộ cho khả năng yếu kém, không muốn làm việc, không
muốn vươn lên, thậm chí có khi còn ngụy biện cho những sai trái,
kể cả tội lỗi của mình…
Nhưng
chấp nhận chính mình là thái độ tích
cực của người nhận biết mình, để rồi luôn cố gắng, nỗ lực hết
sức để cải thiện mình, làm cho mình ngày một hoàn hảo hơn.
Thái độ chấp nhận mình theo nghĩa tích cực này rầt cần thiết
cho người Kitô hữu trong đời sống đức tin.
Nếu
chúng ta không bằng lòng với mình, chắc chắn sẽ không bao giờ
bằng lòng với bất cứ ai, trong bất cứ việc gì, hoàn cảnh nào.
Vì thế, chấp nhận chính mình sẽ giúp ta dễ đón nhận anh chị
em hơn. Ta cũng có thể dễ dàng thánh hóa mọi môi trường, mọi
nghịch cảnh mà mình phải gánh lấy.
Chấp
nhận chính mình, ta sẽ yêu mến Thánh Giá Chúa Kitô đang diễn
lại trong chính đời sống hôm nay của ta. Nhờ đó, ta ngày càng
kết hiệp mật thiết với Thánh Giá Chúa, trở nên thánh thiện như
Chúa muốn, nhằm bổ túc hình ảnh Thánh Giá của Chúa trong chính
đời sống của ta. Sự chấp nhận ấy, đã từng được thánh Phaolô
chia sẻ: “Tôi vui mừng được chịu đau
khổ vì anh em. Sự gì còn thiếu nơi cuộc khổ nạn của Đức Kitô
vì thân thể Người là Hội Thánh, thì tôi xin góp phần để hoàn
tất” (Cl 1, 24).
2.
Thanh luyện bản thân.
Hình
ảnh viên đá cuội trên bãi biển cho ta bài học về sự thanh luyện
bản thân. Hết thời gian này đến thời gian khác, viên đá tự mài
mòn, gọt giũa trong không biết bao nhiêu con thủy triều và hàng
vạn vạn lớp sóng nhỏ to xô đẩy. Đến một ngày viên đã trở nên
viên đá cuội không còn một góc cạnh nào, nhưng trơn nhám.
Cũng
vậy, Thanh luyện bản thân là ta tự gọt giũa, mài mòn những góc
cạnh xù xì, gai nhọn trong tương quan sống với chính mình, với
anh chị em, với tất cả những hoàn cảnh sống mà mình gặp phải.
Thanh
luyện bản thân từ lời ăn tiếng nói, cử chỉ, cái nhìn, diện mạo
bên ngoài… đến đời sống tâm hồn như bỏ đi một thói quen xấu,
một đam mê tội lỗi, bỏ đi những cái nhìn ghen tương, ganh tỵ,
nuôi trong lòng sự oán giận, căm thù, óc hẹp hòi, tham lam của
cải, mê quyền lợi, quyền lực, kiếm tìm danh giá, dù chỉ là danh
giá ảo…
Thánh
Phaolô hướng dẫn chúng ta cách thức thanh luyện bản thân mình:
“Anh em hãy mặc lấy những tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung,
ôn hòa, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau và hãy tha thứ cho nhau,
nếu người này có chuyện phải oán trách người kia. Như Chúa đã
tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau. Trên hết
mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây ràng buộc điều
toàn thiện” (Cl 3, 12- 14).
3.
Loại bỏ việc giữ đạo duy hình thức.
Coi
trọng hình thức mà không nhắm đến nội dung là một nguy cơ có
thể dẫn tới mất linh hồn. Bởi biết bao nhiêu người, biết bao
nhiêu lần, chỉ quen sống và làm việc đạo đức mà bỏ qua rất nhiều
tinh thần của việc đạo đức. Nếu như thế, thì sống cả một đời
không hề có một chút công nghiệp nào trước mặt Chúa, bởi họ
không giữ Chúa bằng nội tâm của mình qua tất cả các việc làm,
nhìn bên ngoài có vẻ thánh thiện, tốt lành, nhưng bên trong
chứa đầy những ẩn ý như: khoe khoan, tự cao, tự đắc, kiêu ngạo
ngầm…
Nếu
sống như thế, ta chẳng khác gì những Pharisêu, những Biệt phái
thời Chúa Giêsu. Họ rất “ngoan đạo”, họ giữ kỹ và luôn luôn
đề cao mọi thực hành đạo đức cá nhân và tập thể, coi trọng và
gìn giữ kỹ lưỡng truyền thông đức tin của cha ông. Họ yêu mến
Thiên Chúa, vì thế, họ cầu nguyện nhiều. Họ nhân danh Thiên
Chúa trong suốt đời sống của họ. Nhưng thật nghiệt ngã và mỉa
mai: chính họ giết chết chính Đấng là Thiên Chúa làm người,
đồng thời tự tách mình khỏi ơn cứu độ của Người.
Cũng
giống các Phariesêu và Biệt phái ưa chuộng hình thức, chúng
ta đã nhiều lần lên án anh chị em, đã nhiều lần gây tổn thương
anh chị em, chai cứng lòng mình, trởû nên kiêu ngạo vì tự tưởng
tượng rằng mình đạo đức. Đúng là đạo đức, nếu chỉ nhìn từ bên
ngoài. Rõ ràng, trước mắt mọi người, mình rất đạo đức, sống
rất gần Thiên Chúa… Nhưng thực tế chua chát làm sao, bởi tất
cả đều chỉ là cái vỏ bọc mà thôi. Duy
hình thức: nguy hiểm vô cùng!
4.
Đón nhận ý kiến xây dựng của anh chị em.
Thay
vì đón nhận người khác và những gì họ đề nghị với mình, vốn
rất tự nhiên, chúng ta nổi nóng, dễ ác cảm với người đang có
ý kiến với mình.
Chúa
Giêsu đã từng dạy ta hãy sữa lỗi cho nhau trong tình huynh đệ,
không phải một lần, mà đến ba lần, và mức độ tăng dần lên: lúc
đầu hai người với nhau. Nếu không nghe, sẽ cậy nhờ hai hay ba
người để cùng sửa lỗi. Vẫn không nghe, thì đem ra cộng đoàn.
Nếu vẫn không thành công, kể như người mắc lỗi bị loại ra khỏ
đời sống cộng đoàn, giống như một người ngoại (Mt 18, 15- 17).
Bị
kể như người ngoại, đó là hình phạt của những kẻ cố thủ trong
những sai lầm của mình. Chúng ta đừng như thế, nhưng hãy mềm
dẻo đón nhận ý kiến của anh chị em, nhờ đó, ơn phần rỗi mà Chúa
trao ban thuộc về chúng ta. Nếu không, sẽ bị kể như dân ngoại,
cũng có nghĩa là bị loại khỏi ơn cứu rỗi.
Độc
ác hơn, nhiều người được góp ý, chẳng những không sửa lỗi, lại
còn trả thù, tố ngược lại người giúp đỡ mình. Đó chính là thái
độ của các nhà lãnh đạo chính quyền và lãnh đạo tôn giáo Do
thái thời Chúa Giêsu. Họ đã dồn nén sự tức tối, sự căm thù đối
với Chúa Giêsu, vì nhiều lần, Chúa dám vạch trần tội lỗi của
họ. Kết quả của những dồn nén ấy, chính là việc thủ tiêu Chúa
Giêsu, để họ được rãnh mắt, rãnh tay sống theo cách của mình.
Chúng
ta mà sống như thế, chẳng những cản trở sự ngự đến của Chúa,
mà còn tự hủy diệt mình trong cuộc sống đời đời.
5.
Luôn sống tâm tình tạ ơn Chúa.
Chúng
ta có gì mà đã không đón nhận từ Thiên Chúa! Vì thế, luôn luôn
sống trong tâm tình biết ơn Chúa là điều cần thiết và cấp bách.
Chúa
Giêsu là mẫu gương cho chúng ta trong việc sống lòng biết ơn
này. Tin Mừng nhiều lần cho biết Chúa Giêsu “dâng
lời cảm tạ” Chúa Cha (Mt 26, 26- 28). Chẳng hạn:
“Lạy Cha là Chúa trời đất, con ngợi
khen Cha, vì Cha đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông
thái biết những điều này, mà lại mạc khải cho những người bé
mọn” (Lc 10, 21). Hoặc: “Lạy
Cha, con tạ ơn Cha, vì Cha đã nhậm lời con” (Ga
11, 41).
Việc
tạ ơn Thiên Chúa của Chúa Giêsu là tấm gương sáng, đặc biệt
quan trọng và cần thiết thúc giục chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa
mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh, suốt đời mình.
Việc
tạ ơn của Chúa Giêsu cũng thúc giục ta hãy nhân danh Người mà
tạ ơn Thiên Chúa. Ta cũng được mời gọi mượn lấy tâm tình con
thảo, vâng phục, khiêm cung của Chúa Giêsu mà tạ ơn Thiên Chúa.
Thánh
Phaolô đã chẳng hướng dẫn chúng ta thực hành việc tạ ơn như
thế đó sao: “Trong mọi hoàn cảnh và
trong mọi sự, các con hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng
ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha” (Ep 5, 20).
Chúa
Giêsu sẽ ngự đến nơi lời cầu nguyện và tạ ơn Thiên Chúa của
chúng ta. Bởi chính trong sự cầu nguyện xuất phát tự lòng tin,
đã là một tâm hồn chất chứa chính Chúa Giêsu.
6.
Ý thức truyền giáo.
Để
có thể truyền giáo, trước nhất người truyền giáo phải mang trong
tâm tư mình ý thức truyền giáo và nuôi dưỡng nhiệt tình truyền
giáo suốt đời mình. Ấp ủ trong tâm tư mình ý thức truyền giáo,
đồng nghĩa với việc người truyền giáo luôn nuôi dưỡng hình ảnh
Chúa Giêsu, để chính hình ảnh đó đồng hành với mình, thúc đẩy
mình dấn thân truyền giáo. Bởi chỉ khi nào nơi người truyền
giáo có Chúa, họ mới có thể đưa Chúa đến anh chị em của mình.
Hình
ảnh Đức Maria đi thăm viếng bà Isave, làm cho Mẹ trở nên mẫu
gương của nhà truyền giáo, bởi trước khi Mẹ mang Chúa Giêsu
nơi thân xác mình đến gia đình bà Isave, Mẹ đã mang Chính Thiên
Chúa trong tâm tư của Mẹ suốt những chuỗi ngày sống.
Cũng
vậy, để hiệu quả Chúa đến trong lòng người được phát sinh, người
truyền giáo không thể chỉ làm truyền giáo, nói truyền giáo,
mà còn phải sống truyền giáo. Bởi khi sống truyền giáo, dù một
người chỉ sống suốt đời trong bốn bức tường của đan viện, vẫn
có thể trở thành nhà truyền giáo lỗi lạc.
Hoặc
diễn tả cách hình ảnh như thánh Phaolô: “Anh
em là bức thư của Đức Kitô được trao cho chúng tôi chăm sóc,
không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên
Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng
trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người”
(2Cr 3, 3).
Hiểu
được tầm vóc hết sức quan trọng của việc truyền giáo, người
truyền giáo sống gắng bó với Chúa Giêsu mật thiết đến nỗi, tâm
hồn họ là chính bức thư Chúa gởi cho anh chị em mình. Nói cách
khác, để đem Chúa đến cho anh chị em, người truyền giáo phải
sống làm sao để khi anh chị em nhìn thấy họ là nhìn thấy chính
Chúa Giêsu trong họ. Đó là sống truyền giáo.
Nếu
nuôi dưỡng và ý thức truyền giáo được như thế, chúng ta đã làm
cho lời cầu nguyện “Lạy Chúa Giêsu, xin
ngự đến”, trở thành hiện thực.
*
* * *
Vài
suy nghĩ về việc sống điệp khúc mùa Vọng “Maranatha
– Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” như thế, giúp bản
thân tôi tới gần Chúa hơn. Gần Chúa cũng có nghĩa là, Chúa đã
đến trong tôi. Tôi tin như thế. Nguyện xin Chúa hãy hoàn tất
nơi tôi những gì Người đã khởi đầu, và xin Người khởi đầu nơi
tôi những gì Người chưa kết thúc.
Sống
mùa Vọng, trong tâm tình của “Người
môn đệ Chúa yêu”, tôi mượn lại chính lời cầu nguyện
của thánh Gioan Tông đồ để hết lòng dâng lời cầu xin: “Lạy
Chúa Giêsu, xin ngự đến”. Chúa Giêsu làm cho lòng
tôi tràn ngập chính Người, để tôi biết chấp nhận mình, từ đó
thanh luyện bản thân, tránh mọi lối sống đạo hình thức, biết
lắng nghe để sửa đổi bản thân nên hoàn thiện hơn. Chúa Giêsu
đến tràn ngập tâm hồn tôi, giúp tôi sống tâm tình tạ ơn Thiên
Chúa suốt đời mình. Với tâm tình tạ ơn đó, tôi sẽ reo lên vui
mừng như lời thiên thần đã từng chúc tụng Đức Maria: Tôi
“đã được ân sủng của Chúa Giêsu” (Kh 22, 21. xem
thêm Lc 1, 28).
Sống
mùa vọng, trong tâm tình “Người
môn đệ Chúa yêu”, tôi nguyện xin Chúa Giêsu ngự đến để
chuẩn bị trong tôi đón mừng lễ Giáng sinh thánh thiện và chính
Người sẽ thực sự nhập thể và hạ sinh trong lòng tôi. Tôi tin,
khi tôi có Chúa Giêsu, tôi sẽ can đảm sống ý thức truyền giáo
và để cho niềm ý thức ấy choáng ngập tâm tư tôi, suốt đời sống
của tôi.
Sống
mùa Vọng, mượn lấy tâm tình của “Người
môn đệ Chúa yêu”, tôi xin Chúa Giêsu hãy ngự đến
dẫn đưa thế giới này đi vào quỹ đạo cánh chung, để tất cả mọi
người sống trong niềm vui ơn cứu độ mà chính Chúa Giêsu đã thực
hiện. Xin Người hoàn tất thế giới trong bình an vĩnh cửu vì,
“Người vẫn cứ là Đầu và là Cuối”.
Là Đầu và là Cuối, Chúa Giêsu kết thúc thế giới này, nhưng lại
khởi đầu một triều đại mới trong khung cảnh của Trời mới Đất
mới, nơi có thành thánh Giêrusalem mới.