NHỮNG
NGƯỜI ANH EM
trong
thiên chức linh mục
Dựa
vào câu nói nổi tiếng của thánh Augustinô: “Cho
anh em, tôi là Giám mục. Cùng với anh em, tôi là Kitô hữu”,
tôi thấy người Kitô hữu linh mục hôm nay, nếu sống đúng tư cách
một Kitô hữu linh mục, sẽ là người được đòi hỏi rất nhiều về
đạo đức, sự cầu nguyện, hiến thân, mực thước, đời sống nhân
bản…, Không bao giờ được phép tìm hưởng thụ, quyền lực, nhất
là câu kết với các thế lực ngoài xã hội để củng cố và tạo thêm
sức mạnh quyền lực, sức mạnh phòng thủ của riêng bản thân…
Chỉ
khi nào sống đúng như thế, người Kitô hữu linh mục mới thực
sự là “cho anh em” và
“với anh em”.
Để
có thể “sống cho” và “sống
với”, không thể thiếu những lần hội họp, gặp gỡ
thân tình giữa những anh em linh mục với nhau. Bởi cùng với
sự cầu nguyện, nguyện gẫm, dâng thánh lễ, trao ban và lãnh nhận
bí tích…, những lần hội họp, gặp gỡ ấy có khả năng, nếu không
muốn nói là có sức mạnh, đưa từng cá nhân linh mục – nếu biết
tận dụng, chứ đừng chỉ tham dự cho có, cho rồi – tái khám phá
và ngày càng đi vào huyền nhiệm ơn gọi của chính mình.
I.
Từ hai cuộc gặp gỡ Huynh đệ Linh mục trong tháng Mười
Tôi
được hân hạnh tham dự hai cuộc họp mặt lớn của một số đông linh
mục. Tất cả được diễn ra tại giáo phận Phú Cường, và đều rơi
vào tháng Mân Côi. Nhưng rất tiếc, trong thời gian cả hai cuộc
họp mặt diễn ra đều không có sự hiện diện của Đức Cha Phêrô
Trần Đình Tứ, vị chủ nhà uý kính, vì còn đang dự Thượng Hội
Đồng Giám Mục Thế Giới tại Rôma.
1.
Cuộc họp mặt thứ nhất là kỳ họp lớp lần thứ
VI của các linh mục, chủng sinh thuộc khóa III, Đại Chủng viện
thánh Giuse Sài Gòn. Đây là cuộc họp mặt ngắn, chỉ diễn ra trong
hai ngày 18 và 19.10.2005, quy tụ các thành viên trong của khóa
III từ sáu giáo phận: Phú Cường (8 anh em), Mỹ Tho (10 anh em),
Sài Gòn (25 và 1 anh em đã qua đời), Xuân Lộc (13 anh em), Phan
Thiết (5 anh em), Đà Lạt (5 anh em).
Tuy
không thể tổ chức dài ngày cho cuộc họp mặt quý báu này, vì
có quá nhiều người ở xa, với những điều kiện trắc trở khác nhau,
nhưng cuộc họp mặt của anh em linh mục và chủng sinh khóa III
là một cuộc hội ngộ huynh đệ thắm thiết, mỗi năm chỉ diễn ra
có một lần.
Họ
đã đi khắp nơi, để hôm nay quay về cùng nhau, vì thế cuộc hội
ngộ sâu lắng một tình bạn không thể có bất cứ điều gì làm phôi
phai. Tình bạn ấy sẽ góp thêm sắc, đơm thêm hoa cho chính tác
vụ linh mục của mình. Chẳng hạn:
Ở
bên nhau, lại có được những điều quý báu vô cùng ấy, đúng là
một phép lạ lớn đã được thực hiện. Nhưng trên hết vẫn chỉ là
tình yêu. Chính tình yêu làm nên phép lạ. Tình yêu đến từ hai
phía: ơn Chúa ban và tình bạn bền
chặt của những anh em đồng lý tưởng.
2.
Cuộc họp mặt thứ hai là kỳ thường huấn thường
niên của các linh mục nhóm B của giáo phận Phú Cường (gồm các
linh mục trẻ, chịu chức sau năm 1975), cách sau cuộc họp mặt
lần trước đúng một tuần, từ ngày 25 đến ngày 28.10.2005. Đề
tài thường huấn lần này là “Đạo Đức sinh học”, một môn học mới
đối với thế giới (mới hình thành từ thập niên 1970), do Đức
Cha Stêphanô Tri Bửu Thiên, Giám mục Phó giáo phận Cần Thơ trình
bày.
Cả
một môn học mới, nhưng chỉ được học tập trong vòng ba ngày,
vì thế, cả thầy lẫn trò đã phải làm việc cật lực. Dù chỉ mang
tính cách giới thiệu hơn là giúp nghiên cứu, môn học mà Đức
Cha hướng dẫn, vẫn để lại nơi mỗi người tham dự những kiến thức
mới mẽ và sự hiểu biết nhất định về những gì mà con người đã
và đang suy nghĩ, đã và đang làm. Đặc biệt, lương tâm nhân loại
đang cần được bàn tay của mọi Kitô hữu nói riêng và của mọi
người nói chung, vun bồi trong suốt đời sống của mình, để lương
tâm ấy biết thổn thức, dám đương đầu và đấu tranh đứng về phía
sự thiện, loại trừ sự ác.
Cuộc
gặp gỡ huynh đệ nào cũng mang lại sức sống. Bởi vậy, dù là một
chương trình thường huấn bài bản (không giống một cuộc họp lớp
tràn đầy tình bạn), vẫn là sự gặp gỡ trong tình yêu. Vì thế,
sức sống phát xuất từ tình yêu, vẫn là một sức sống cần thiết
làm phát triển khả năng tái tạo, làm biến đổi, làm cho mềm dẻo
những gì còn ghồ ghề, xơ cứng, những gì thuộc về bóng tối ẩn
chứa trong tâm hồn.
Do
đó, ngoài những bài học trên lớp, sự gặp gỡ giữa linh mục đoàn
trong cùng một ngôi nhà giáo phận, cũng nằm trong chương trình
thường huấn, đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực lớn lao. Chẳng
hạn: Cùng giúp nhau nhìn lại thời gian đã qua và khám phá ơn
Chúa trong mọi biến cố, mọi thử thách, cả đến những ngày bình
yên mà mình đã trải qua. Cùng tạm quên hết những công tác thường
ngày để tìm lại hình ảnh, tìm lại nội tâm của chính mình, để
biết mình, biết người hơn. Cùng nhìn vào những gì đã được xây
dựng, hay gãy đổ của người anh em bên cạnh mà rút tỉa bài học
cần thiết cho bản thân. Cùng được lắng nghe lời nhắc nhở của
chính những anh em, hay của Bề Trên về ba lời thề Phúc Âm: khó
nghèo, vâng lời, khiết tịnh, mà ngày nào, trong khi lãnh tác
vụ linh mục, chính bản thân mỗi người đã thề hứa trước Thiên
Chúa và trước Hội Thánh.
3.
Như vậy, tuy cả hai cuộc họp mặt mang hai nội dung, hai màu
sắc khác nhau: Một là cuộc tụ họp của những
người bạn. Hai là sự học tập nhằm củng cố hoặc bồi thêm kiến
thức bổ ích cho công tác mục tử của mình, vẫn có chung những
ý nghĩa hết sức quan trọng, hết sức cần thiết: Tái khám phá
căn tính linh mục.
Tuy
nhiên, vẫn có một điều quan trọng trên hết mọi điều quan trọng:
Chỉ linh mục nào biết tận dụng đến kỳ cùng thời gian của những
lần gặp nhau như thế, mới có thể lắng đọng tâm hồn, nhằm soi
chiếu chính mình trong tấm gương tuyệt vời là chính Chúa Kitô
và Lời của Người, để khám phá lại căn tính linh mục mà mình
đang khoác vào.
Bởi
đó, dù có đến ngàn dịp người khác tạo ra cho ta gặp gỡ và sống
bên nhau, thậm chí đào tạo ta, nhưng ta không đào tạo chính
mình, tất cả chỉ là vô ích, chỉ là con số không to vô cùng.
Hãy
nhớ rằng, thánh chức linh mục mà mình được vinh dự khoác vào,
không phải một sớm một chiều, nhưng là một đời, và một đời để
sống cho thánh chức linh mục ấy. Vì thế, người linh mục cần
phải luôn luôn đào tạo chính mình, để trên suốt chiều dài của
thời gian, nhờ sự tự đào tạo liên tục ấy, người linh mục sẽ
biết để cho bản thân được tắm mình trong Chúa Kitô, mạnh hơn,
chìm ngập mình trong Chúa Kitô. Nếu trung thành sống như thế
đến cùng, chắc chắn, hình ảnh linh mục sẽ đẹp vô cùng khi sống
giữa cộng đoàn dân Chúa, và sống giữa muôn người.
II.
Chiếc tàu Linh Mục
Không
biết tôi có thi vị hóa quá không, khi ví von hình ảnh linh mục
với con tàu? Dù sao đó vẫn là suy nghĩ của riêng tôi khi chiêm
ngắm chính ơn gọi của mình.
Nếu
tàu không làm nhiệm vụ, mà chỉ được neo lại ở một bến đỗ nào
đó, có nghĩa là tàu hư. Người linh mục lãnh lấy ơn gọi và trách
nhiệm từ Thiên Chúa và Hội Thánh của Người, cũng phải ra đi,
lướt trên ngàn sóng của đại dương cuộc đời thực thi thánh chức
của mình.
Chiếc
– tàu – linh – mục ra đi, mang trong mình một nhiệm vụ hết sức
quan trọng: thay mặt anh chị em, dâng lên Thiên Chúa sự thờ
phượng chính đáng, nhằm quay trở lại thánh hóa và thăng tiến
đời sống anh chị em trong ơn Chúa.
Tàu
một khi đã ra khơi làm nhiệm vụ, sẽ phải gập ghềnh, trôi nổi
giữa đại dương mênh mông. Tôi lại nhìn thấy hình ảnh các linh
mục, “được chọn, được tách riêng ra
từ giữa thế gian” sẽ “không
thuộc về thế gian” nữa (Ga 15, 19; 17, 14- 16),
nhưng cứ phải gắn chặt đôi chân mình trong dòng đời hôm nay,
nhằm dấn thân vào mọi môi trường sống và phục vụ, không khác
lắm hình ảnh một con tàu. Bởi như biển cả, đại dương cuộc đời
không phẳng lặng, không êm dịu, nhưng giăng mắc đầy những sóng
gió. Sóng gió đó có thể là những trào lưu chống đối Thiên Chúa,
những lối sống nguội lạnh của người thiếu đức tin, chống đối
đức tin, chủ trương đi ngược giáo huấn của Hội Thánh…, mà chính
người linh mục phải lao vào để chứng minh mối tình của Thiên
Chúa đối với loài người, một thứ tình tuyệt đối, có một không
hai trong cõi đời này. Đó là một nhiệm vụ không dễ chút nào,
đòi phải chấp nhận trầy xướt đớn đau.
Nhưng
phải công bằng mà nói, một khi ra khơi, sẽ có lúc tàu êm ả trôi
như trôi trên mặt nước hồ thu phẳng lặng, và có lúc biển sẽ
gầm, sóng sẽ cuồng nộ. Số phận của chiếc tàu là sẵn sàng đương
đầu với mọi tai ương. Dù vậy, không phải chiếc tàu nào cũng
vững vàng đến cùng. Trên thực tế, vẫn có những “chiếc
– tàu – linh – mục” không thể rời bến vì “trục
trặc” cách này cách khác. Hoặc cũng có những chiếc
tàu đã từng nhổ neo, nhưng sóng dữ cuộc đời đã làm nó biến dạng,
phải tạm thời giữ lại bến đỗ (bằng cách ngưng làm việc, tạm
“quảng thúc” ở một nơi nào đó…).
Tàu
dù có bị hư hại, không là điều khó hiểu. Người linh mục làm
hư hình ảnh linh mục của mình, đó không phải là chuyện ta chưa
từng bắt gặp, bởi ngụp lặn giữa cuộc đời, nơi có quá nhiều những
cạm bẫy, có khi những cạm bẫy ấy như “trái
cấm” ngày xưa trong địa đàng, làm lóa mắt Ađam –
Evà: “Ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt,
và đáng quý…” (St 3, 6), cũng sẽ dễ đánh lừa người
linh mục hôm nay. Sự đánh lừa do “trái
cấm” gợi lại bởi nhiều thứ cám dỗ về vật chất, tìm
kiếm sự an thân, tìm kiếm lời khen ngợi, tranh giành ảnh hưởng…
sẽ biến người linh mục trở thành kẻ lạm dụng và lợi dụng chiếc
áo nhà tu, để thỏa mãn ích kỷ của bản thân, chỉ biết quay quắt
trên chính mình, sẽ sống và dễ trở thành kẻ mưu mô và ngày càng
sa lầy trong những điều cấm kỵ, đi ngược lại đời tu của mình.
Bởi
vậy, tuy không phải là chuyện hiếm hoi, nhưng không có nghĩa
đó là điều có thể chấp nhận. Ngược lại sự trục trặc làm biến
dạng hình ảnh linh mục vẫn luôn luôn là điều đáng buồn, đáng
hối tiếc. Lại càng đáng tiếc, đáng buồn, khi sự sa ngã đó có
sự dấn mình tích cực, hoặc nhẹ hơn, là sự cộng tác rõ rệt, hoặc
nhẹ hơn nữa, buông trôi không cần cố gắng để thoát khỏi tình
trạng sa ngã của bản thân.
Nếu
phải đối chiếu lại với lời của thánh Augustinô: “Cho
anh em, tôi là Giám mục. Cùng với anh em, tôi là Kitô hữu”,
ta thấy ngay, khi để cho cám dỗ chiến thắng, người linh mục
chẳng những tự bóp méo hình ảnh linh mục, mà còn không thể sống
“cho” hay sống “với”
anh em theo đúng nghĩa của lời ấy.
Vì
thế dẫu có thi vị hóa khi ví von hình ảnh linh mục với con tàu,
vẫn chưa hoàn toàn là hình ảnh thi vị. Bởi đâu đó vẫn còn những
con tàu chờ chỉnh đốn, chờ sữa chữa…
Dù
vậy, hình ảnh linh mục có biến dạng do chính tác động của người
linh mục là chủ nhân của nó, vẫn chưa phải là cái bị đánh mất,
hoặc chưa phải bị đánh mất hoàn toàn. Dù sao người linh mục
vẫn cứ là linh mục của Chúa. Dù sao ơn Chúa vẫn đến, chỉ có
bản thân là không đón nhận. Hãy mở lòng để Chúa đi vào cõi lòng
mình. Người sẽ biến đổi từ xấu nên tốt. Người cũng sẽ rút ra
từ cái xấu những điều tốt lành.
Ngoài
ơn Chúa (tác nhân thứ nhất), dĩ nhiên còn nhiều tác nhân khác
cho ta vươn lên. Nhưng với tôi, tác nhân thứ hai là chính anh
em đồng lý tưởng có thể giúp mình tự tin và vững chãi hơn. Là
người như anh chị em mình, có những lúc phải đóng vai trò của
một người mang lại niềm vui sống, mang lại lời an ủi cho anh
chị em, trong khi lòng người linh mục cũng mang đầy những ngỗn
ngang, nhưng lại rất khó thổ lộ, hoặc không thể thổ lộ với hết
mọi người, thì chính người anh em linh mục bên cạnh sẽ đóng
vai trò tiếp sức cho ta vô cùng hữu hiệu.
Vì
thế, tôi coi trọng những lần gặp gỡ, tụ họp giữa linh mục đoàn
với nhau. Sống có nhau, chúng ta sẽ không đơn độc. Sống có nhau,
sẽ tăng thêm vị ngọt, tăng thêm hương sắc cho đời sống, dẫu
còn đó nhiều đắng cay. Sống có nhau và dám nói thật với nhau,
để cùng giải quyết những gút mắc của bản thân mỗi người, sẽ
giúp ta bớt sai lầm trong quyết định, trong suy nghĩ và trong
hành động.
Vì
thế, với riêng tôi, hai cuộc gặp gỡ lớn trong tháng Mười vừa
qua, đã cho tôi nhiều cảm nhận quý báu, để tôi sống chức linh
mục của mình hoàn hảo hơn. Cũng bởi những cảm nhận như thế,
tôi càng yêu hơn lời Thánh Kinh mà mình đã từng suy ngắm: “Ngọt
ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau”
(Tv 132, 1).
Lm. Vũ Xuân Hạnh