SỨC
SỐNG CỦA HỘI THÁNH TẠI VIỆT NAM
Một
lần nữa, đúng vào ngày thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, 24.11,
Hội Thánh Việt Nam lại tưng bừng mừng kính các thánh Tử đạo
tại Việt Nam.
Năm
nay khá đặc biệt, làm cho ý nghĩa của ngày lễ, vốn đã gây nên
trong lòng mỗi thế hệ con cháu niềm cảm xúc, tri ân và kính
phục, càng long trọng và lớn lao hơn, bởi cũng chính ngày đại
lễ này, hàng giáo phẩm Việt Nam vừa tròn 45 tuổi (24.11.1960
– 24.11.2005).
Nhân
dịp trọng đại, chúng ta hãy hâm nóng lại đức tin của mình bằng
những giây phút suy niệm về ơn Thiên Chúa tình yêu tuôn đổ vô
cùng trên cả Hội Thánh Việt Nam, trên các Kitô hữu tử đạo và
trên mỗi người chúng ta. Bởi nhờ ơn Chúa, sức sống của Hội Thánh
tại Việt Nam luôn luôn căng tràn và mạnh mẽ.
I.
Các Thánh Tử Đạo Việt Nam
Trước
đây, khi 117 vị Tử đạo Việt Nam (trong hàng trăm ngàn người
Công giáo Việt Nam chịu tử đạo) chưa được phong hiển thánh,
lễ mừng các chân phước Tử đạo Việt Nam vào ngày 1.9 hàng năm.
Nhưng kể từ khi 117 chân phước Tử đạo Việt Nam được Đức Thánh
Cha Gioan Phaolô II phong hiển thánh ngày 19.6.1986, Hội Đồng
Giám mục Việt Nam đã chọn các anh hùng Tử Đạo Việt Nam làm bổn
mạng của Hội Thánh tại Việt Nam, và lập lễ mừng các thánh Tử
đạo vào chính ngày thành lập hàng Giáo phẩm, 24.11 hàng năm.
Nói
đến thời kỳ bách hại đạo tại Việt Nam, thường người ta không
quên nhắc đến chân phước Thầy giảng Anrê Phú Yên (khoảng 1625-1644)
như là vị tử đạo tiên khởi và gọi Thầy cách hết sức kính trọng:
Người Chứng Thứ Nhất.
Thực
ra, sau giáo sĩ Inikhu (được coi là nhà truyền giáo đầu tiên
đặt chân đến đất Việt 1533), sử sách còn ghi nhận thêm những
nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha và các nhà truyền giáo thuộc
dòng Đaminh, bị vua xứ Chiêm Thành giết chết. Nếu đúng đây là
những người chết cho đức tin, thì ngay từ buổi đầu, Hội Thánh
trên dải đất Việt Nam này, đã có nhiều anh hùng tử đạo.
Như
vậy, dù là do ai lãnh đạo (Việt, hay Chiêm, hay Chân Lạp), dù
ở phía Bắc hay phía Nam, Hội Thánh tại Việt Nam vẫn phải tự
khẳng định mình và lớn lên trong thử thách nặng nề, kéo dài
hết thế kỷ này đến thế kỷ khác. Đặc biệt, từ thế kỷ 17, với
cái chết của chân phước Anrê Phú Yên, đã khai màu cho cả một
kỷ nguyên Tử đạo kéo dài qua hàng trăm năm sau đó.
Dù
vậy, khoảng cách của thời gian càng kéo dài, Hội Thánh tại Việt
Nam càng phải đối diện với lớp lớp khó khăn và thử thách, thì
thời gian đó chính là những năm tháng hào hùng Hội Thánh tại
Việt Nam làm rạng danh chính mình: Hàng trăm ngàn người con
của Mẹ Hội Thánh và là con của Dân Tộc, làm chứng cho đức tin
bằng dòng máu tươi nhuộm đỏ dải đất quê hương thân yêu này.
Bởi
đó, 118 vị tử đạo được tuyên phong trên bàn thờ Hội Thánh –
trong đó có 8 Giám mục, 50 linh mục, 60 giáo dân, trong số đó
có một phụ nữ là thánh Anê Lê Thị Thành – chỉ là con số tượng
trưng cho không biết bao nhiêu Anh hùng Đức tin, dù không sống
trong lòng mọi người hậu thế bằng tên gọi, nhưng bằng chứng
tá đức tin hùng hồn, một thứ chứng tá hết sức quý giá, không
thể có gì sánh nổi. Bởi vậy, hậu thế luôn dành cho các Anh hùng
Tử đạo Việt Nam niềm tôn kính lớn lao và luôn dâng lên các ngài
lời kêu cầu thẳm sâu của mình.
Chỉ
cần kể đến một cái giếng ở gần nhà thờ Thị Tính thuộc giáo phận
Phú Cường, nơi đã từng chôn sống hơn 20 tín hữu Công giáo; hoặc
300 tín hữu Công giáo tại ngục Dinh, Bà Rịa, thuộc giáo phận
Xuân Lộc (trong vài ngày nữa sẽ là giáo phận mới Bà Rịa, tách
ra từ giáo phận Xuân Lộc), bị chết cháy do người ta phóng hỏa
đốt ngục vào tháng 1.1862, để từ đó, chúng ta có thể làm một
bài toán nhân, nhân lên gấp ngàn lần những con số của những
ngôi một tập và cá nhân giống y như thế, mà mãi đến hôm nay,
chúng ta không thể biết hết được.
Ngoài
những vị Tử đạo bị chính đồng hương của mình nói riêng và bị
bàn tay con người nói chung sát hại, còn có biết bao nhiêu vị
Tử đạo khác bị thiên nhiên giết chết. Bởi các ngài vừa muốn
bảo toàn đức tin, vừa không muốn chối bỏ đức tin, đã giã từ
cuộc sống bình thường, tìm đến nơi rừng sâu núi thẳm để trốn
trách sự giết hại tàn nhẫn của thế gian. Số đông trong số nhiều
tín hữu Kitô này đã chấp nhận hiến tế chính mình bởi mọi thứ
nguy hiểm: đói, rét, khát, bệnh tật, thú dữ…
Mừng
lễ các thánh Tử đạo hôm nay, chúng ta nghiêng mình trước cả
một bằng chứng đức tin cao cả của chính cha ông mình. Không
còn có bất cứ hình thức nào diễn tả đức tin mạnh mẽ hơn là cách
diễn tả bằng chính mạng sống. Các thánh Tử đạo đã trao lại cho
con cháu mình gia sản đức tin cao quý được trả giá bằng chính
những mạng sống ấy. Đức tin sẽ không bao giờ đến với những tâm
hồn chọn cho mình một lối sống hời hợt, dễ dãi. Các thánh Tử
đạo Việt Nam đã chứng minh điều đó bằng sự chấp nhận vác thánh
giá với Chúa Kitô lên đồi Tử Nạn.
Ngày
xưa Chúa Kitô đã ngỏ lời với các tông đồ: “Họ sẽ lôi chúng con
ra tòa công nghị, sẽ đánh đập chúng con giữa hội đường, sẽ điệu
chúng con ra trước vua chúa quan quyền vì danh Thầy để làm chứng
cho Thầy trước mặt dâng ngoại” (Mt 10, 17-18), để rồi từ thời
các thánh tông đồ, cho đến cả một dòng lịch sử dài hàng ngàn
năm, đã ghi đậm dấu vết Tử đạo của không biết bao nhiêu thế
hệ. Hàng trăm năm bách hại đạo thảm khốc tại Việt Nam, vẫn chỉ
là một sự kiện không thay đổi, đúng như Lời Chúa Kitô đã ngỏ
ngay từ thuở ban đầu cho Hội Thánh của Người.
II.
Lòng biết ơn trong đức tin
Đêm
tối nào rồi cũng đi qua. Nói như thế, không có nghĩa là Hội
Thánh tại Việt Nam đã qua hết rồi những đêm đen. Dẫu đến hôm
nay, dù đã qua gần 5 thế kỷ, Hội Thánh tại Việt Nam vẫn là một
Hội Thánh trưởng thành và từng bước tiến lên từ trong gian khổ.
Bởi vẫn còn đó nhiều cám dỗ, nhiều mãnh lực, nhiều cạm bẫy cả
đến sự chống đối và bách hại từ bên ngoài lẫn bên trong đối
với Hội Thánh tại Việt Nam. Nhưng chúng ta tạm bằng lòng với
hoàn cảnh, để có thể nhận thấy ánh sáng của một ngày mới sẽ
bắt đầu bằng buổi bình minh tuyệt đẹp, nếu không phải ngay trên
đầu mình, thì cũng là một ánh bình minh từ cuối chân trời đang
đi lên. Nếu xem giai đoạn bị bách hại là đêm dài cần thiết để
thử thách và tôi luyện đức tin, thì bình minh cho một thời đại
mới, một chặng đường mới, một sức sống mới báo hiệu những nét
tươi mới của Hội Thánh Việt Nam bừng sáng.
Khởi
điểm của một ánh sáng bừng lên cho niềm hy vọng của Hội Thánh
Việt Nam, khi lần đầu tiên, vào ngày 1.6.1933, một linh mục
người Việt, linh mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, được Đức
Thánh Cha Piô XI tấn phong Giám mục tại Rôma. Đức tân Giám mục
Việt Nam tiên khởi được đặt làm Giám mục chánh tòa giáo phận
Phát Diệm. Đó cũng là giáo phận thứ nhất được trao cho hàng
giáo sĩ Việt Nam.
Kể
từ sau ngày Đức giám Mục tiên khởi người Việt Nam được thụ phong,
Hội Thánh Việt Nam liên tục phát triển. Để đánh dấu sự trưởng
thành ấy, gần 30 năm sau, ngày 24.11.1960, một ngày đáng ghi
nhớ, giữa lúc đất nước còn đang chia cắt, Đức Thánh Cha Gioan
XXIII đã thiết lập hàng giáo phẩm VN.
Từ
nay, Hội Thánh tại Việt Nam chính thức được trao cho hàng giáo
phẩm Việt Nam coi sóc.
Từ
sự kiện lịch sử này, cho ta thấy, không có bất cứ một khó khăn
nào, dù phải đạp trên đầu sóng gió đến mức độ nào, Hội Thánh
Công giáo tại Việt Nam, hoặc âm thầm, hoặc công khai vẫn phát
triển không ngừng. Đức tin của người Công Giáo Việt Nam như
một dòng chảy, cứ âm thầm trôi giữa lòng cuộc sống. Trôi đến
đâu thì lan rộng đến đó. Trôi đến đâu, lại càng thấm vào trong
lòng người đến đó. Không những thấm, mà còn thấm đẫm, thấm mạnh.
Đó chính là sức sống của một Hội Thánh ngoan cường như Hội Thánh
tại Việt Nam.
Tuy
nhiên, càng thừa hưởng cả một gia sản đức tin quý giá, chúng
ta lại càng chẳng dám thốt lên lời cám ơn của mình dành cho
các thánh Tử đạo Việt Nam. Bởi lời cám ơn đó sao mà nhỏ bé,
bất xứng và thô kệch quá đỗi.
Lòng
biết ơn của chúng ta đối với tiền nhân đã xây dựng Hội Thánh
bằng xương máu của mình, chẳng thể là cám ơn suông, và chẳng
bao giờ được phép dừng lại ở lời cám ơn. Vượt trên mọi lời cám
ơn, phải là tất cả niềm hạnh phúc, nỗi tự hào được thể hiện
cụ thể trong chính đời sống, trong từng hành động sống của mỗi
người con của Mẹ Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Chỉ khi nào đức
tin của chúng ta là một đức tin sống động, được thực hiện không
ngừng trên chính đời sống của mình như thế, ta mới xứng đáng
với những gì mà mình thừa hưởng.
Biết
ơn các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta nguyện ước dòng máu các
thánh ngày một phát triển mạnh mẽ và lớn lên không cùng, trở
thành những hạt giống châu báu làm lan tỏa đức tin trên khắp
quê hương Việt Nam trăm mến ngàn yêu.
Biết
ơn các thánh Tử đạo Việt Nam, ta ước mong Lời Chúa Giêsu ngày
xưa: “Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, nó chỉ
trơ trọi một mình. Nhưng nếu nó thối đi, nó sẽ sinh nhiều bông
hạt” (Ga 12, 24), trở thành hiện thực, để công cuộc truyền giáo
của Hội Thánh hôm nay ngày càng nỡ rộ, đức tin của người Việt
hôm nay ngày càng lung linh chiếu tỏa trên mọi ngã đường truyền
giáo ấy.
Và
cũng nguyện ước y như thế: làm sao Lời Chúa Giêsu luôn trở thành
lời tâm niệm và suy ngắm không ngừng của con cháu các thánh
Tử đạo hôm nay, để Hội Thánh tại Việt Nam, biết không ngừng
củng cố đức tin của chính mình, và sống đức tin kiên trung trong
mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Bởi chính Lời Chúa mới là nền tảng
vững chắc cho sức mạnh của Hội Thánh tại Việt Nam vươn lên.
Có như thế, một Hội Thánh còn non trẻ như Hội Thánh tại Việt
Nam mới mãi mãi căng tràn sức sống.
Cái
sức sống ấy đã từng được sử gia A. Launay hết lời khen ngợi:
“Hỡi Hội Thánh tại Việt Nam, một trong
những Hội Thánh đã bị bắt bớ hà khắc nhất trong các Hội Thánh
trên thế giới, kể từ khi công cuộc của Chúa Cứu Thế bị bắt bớ.
Một trong những Hội Thánh kiên cố lạ lùng nhất… Ta kính chào
Người! và bởi hy sinh càng lớn lao, thì vinh quang càng sáng
chói. Người thật xứng đáng được danh thơm muôn thuở, ngang hàng
với những Hội Thánh anh hùng nhất phương Tây"
(Đã trích trong Lm Bùi Đức Sinh - Lịch Sử Giáo Hội).
Lm. Vũ
Xuân Hạnh