Suy Niệm
Thứ Bảy Tuần Thánh: Mồ đá
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
**************
Bài Thương Khó của Chúa Giêsu kết thúc với câu: Vì là ngày chuẩn bị lễ của người Do-thái và ngôi mộ lại rất gần, nên họ đã mai táng Chúa Giêsu trong mồ đá (Ga 19,42). Chúa Giêsu đã tắt hơi thở. Chúa đã chết trên thập giá. Người ta đã hạ xác Chúa xuống, khâm liệm cùng với thuốc thơm và chôn trong mồ đá. Họ đã lấp cửa mộ. Xem ra mọi sự đã xong. Mọi người trở về nhà mình. Có kẻ thì vui mừng vì đã đạt được ước nguyện. Có kẻ thỏa mãn vì đã tiêu diệt được đối phương. Có kẻ thì lo sợ vì không hiểu được sự việc, nên Vua quan đã cho lính canh mộ. Có kẻ buồn sầu chán nản bỏ về quê cũ. Có kẻ thương khóc đau buồn. Có người âm thầm suy niệm và tin tưởng, hy vọng. Sự kiện Chúa Giêsu bị án tử hình thập giá là một biến cố rất quan trọng được ghi chép rất cẩn thận.
Đây là một biến cố lịch sử, lịch sử của Ơn Cứu Độ. Giờ đây chúng ta không tìm tòi chứng tích hay thử nghiệm. Chúng ta dùng thời gian thinh lặng qúi báu để gẫm suy về sự đau khổ và sự chết của Chúa. Ai trong chúng ta cũng từng có những kinh nghiệm đau thương khi phải vĩnh biệt người thân. Sau cái chết của Chúa Giêsu, đã có biết bao nhiêu người bị thất vọng, bị hụt hững và buồn sầu chán nản. Tâm trạng khác biệt của mỗi tâm hồn khi đối diện với cái chết của Chúa. Trong số đó có cả các tông đồ đã bỏ mọi sự đi theo Chúa. Mẹ Maria và Gioan đau buồn nhận lời trăn trối của Chúa. Đức Maria đã can đảm hiện diện dưới chân thập giá và ngắm nhìn con mình trong cơn hấp hối. Sự sầu bi của Mẹ mang một ý nghĩa sâu thẳm. Mẹ đang đồng công chịu khổ đau với Con mình để hoàn tất lễ hiến tế.
Mẹ ôm xác con lạnh giá. Mẹ vẫn một lòng xác tín, con của mẹ là Con Thiên Chúa. Mẹ đã sống và suy gẫm mầu nhiệm Ngôi Hai Nhập Thể ngay từ khởi đầu. Mẹ đành phải chôn táng xác con nơi mộ đá. Lòng mẹ thổn thức. Mẹ không bỏ cuộc. Mẹ gẫm suy từng lời, từng hành động và từng sự kiện xảy ra. Lòng mẹ như bị dao sắc thâu qua trái tim. Trở lại khung cảnh tang thương, phòng không trống trải và tâm hồn vắng lặng. Giờ đây, chỉ có Mẹ là niềm hy vọng và là niềm cậy trông. Mẹ tiếp tục qui tụ cầu nguyện, an ủi vỗ về và là chỗ tựa nương cho các tông đồ. Mẹ cùng các tông đồ đã sống trong những giây phút tĩnh lặng sâu thẳm.
Trong biến cố Thương Khó của Chúa, nhiều người đã vấp phạm. Giuđa bán Chúa. Phêrô đã chối Chúa. Gioan bỏ áo choàng mà chạy. Các tông đồ khác lẩn trốn. Các môn đệ hoang mang nghi ngờ tản mác. Dân chúng phân rẽ người thương, kẻ ghét và người theo, kẻ chống. Chỉ còn một số bà đạo đức cùng với mẹ Maria dõi theo bước chân Chúa. Đức Mẹ đã theo sát con mình từng chặng đường. Mẹ nhìn con tàn tạ, thân xác con nát bét vác thập giá nặng, khóc thương Con chịu những mũi gai nhọn đâm vào mình. Mẹ chứng kiến lễ hy tế cho đến giây phút cuối khi Con tắt thở. Mẹ một lòng tin tưởng, nhẫn nhục, vững tâm và can đảm. Còn các tông đồ sống trong tâm trạng ngại ngùng, sợ hãi và lo buồn. Mẹ đã củng cố lòng tin của các ông. Mẹ không trách cứ những lỗi lầm và yếu đuối của các tông đồ. Mẹ đã giúp các ông tìm lại niềm tin qua những lời Chúa Giêsu đã tiên báo: "Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại (Ga 2,19).
Khung cảnh nhà thờ vào Thứ Bảy Tuần Thánh thật trống vắng. Không cử hành phụng vụ, cung thánh để trần, không hoa nến và khăn bàn, nhà tạm trống vắng và mọi người sống tinh thần canh thức. Chúa Giêsu còn trong mồ đá. Từ tạo thiên lập địa và cho đến ngày tận cùng của vũ trụ, sự kiện Chúa chết nằm trong mồ đá chỉ xảy ra một lần. Gioan thánh sử đã viết: Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa (Ga 1,1). Ngôi Lời đã nhập thể hóa thân làm người, gọi là Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã tắt thở trên thập giá. Gioan đã xác nhận: Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người (Ga 19,33).
Chúa Giêsu đã dậy rằng: Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác (Ga 12,24). Chúa Giêsu đã chuẩn bị tinh thần và lời giảng dạy rất rõ ràng. Chúa đã nói với ông Nicôđêmô: Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy (Ga 3,14). Chính Chúa dâng hiến cuộc sống mình để vâng theo thánh ý Chúa Cha. Đây là chén đắng Chúa đã tự nguyện uống. Trong tâm tình bồn chồn canh thức nơi vườn Dầu: Chúa Giêsu sấp mặt xuống, cầu nguyện rằng: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha (Mt 26,39). Chúa đã chọn con đường đau khổ thánh giá để đạt tới vinh quang sống lại.
Chúa Giêsu đến không phải để phá bỏ lề luật nhưng làm cho kiện toàn. Chúa đã giảng dạy, đã sống và kiện toàn mọi lề luật và giới răn. Con đường Chúa đi là con đường của tình yêu. Tình yêu khỏa lấp mọi đau khổ. Chúa đã chấp nhận đường thánh giá cũng chỉ vì tình yêu. Chỉ ai biết yêu mới học được bài học của thập giá. Chúa Giêsu đã từng dậy: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13). Tình yêu Chúa bao la tuyệt vời. Chúng ta cùng chiêm ngắm, gẫm suy và chìm lặng trong biển tình của Chúa. Chúa đã hiến dâng đến giọt máu cuối cùng. Chúa đã yêu thương và tha thứ tất cả mọi lỗi lầm cho những người đã nhúng tay giết hại Chúa: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm." (Lc 23,34).
Chúa đã tha thứ và xóa sạch tất cả mọi tội lỗi của những kẻ vu oan, thù ghét, đánh đập, chửi rủa, khinh bỉ, nhạo cười, bội phản và giết Chúa. Chúng ta không nên khơi lại lỗi lầm của họ. Chúng ta không khinh bỉ lên án quân Giu-rêu, quân dữ, thằng Baraba…Chúng ta cũng không phiền trách hay kết án họ. Chúa đã chết cho tội lỗi của họ rồi. Đúng thật, họ đã làm vì họ không biết. Khi Chúa tắt thở, bóng tối bao phủ mặt đất, đã có nhiều người đấm ngực ăn năn: Thấy sự việc xảy ra như thế, viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa rằng: "Người này đích thực là người công chính! " Toàn thể dân chúng đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về (Lc 23,47-48).
Điều quan trọng nhất là chúng ta có những tâm tình nào khi tưởng niệm việc Chúa chịu thương khó, chịu chết và chôn trong mộ đá. Chúng ta đã suy niệm, lắng nghe và diễn tuồng theo trình thuật của bài Thương Khó. Đã có những giọt nước mắt cảm thương chảy xuống. Cũng có những tâm tình xót xa và thương hại. Điều cần thiết là phải đấm ngực ăn năn như dân chúng xưa. Chúng ta ăn năn hối lỗi vì đã phạm tội làm xỉ nhục danh Chúa, tội vu vạ cáo gian, tội bỏ Chúa chạy theo tà thần, tội ích kỷ, tội thù ghét, tội gian dối, tham lam, tội đồng lõa hại người và tội giết hại người qua lời nói và hành động. Chúng ta biết việc chúng ta đã và đang làm. Điều này khác với dân chúng ngày xưa khi họ kết án Chúa vì không biết việc họ làm.
Lạy Chúa, Chúa nằm trong mồ đá. Chúa đã phải chịu cam khổ cực hình vì tội lỗi của chúng con. Tội lỗi của mỗi người chúng con càng làm cho vai Chúa trĩu nặng. Xin cho chúng con biết ăn năn sám hối tội mình và quay trở về bên Chúa. Chỉ cần bỏ đi được một tội hay bớt đi một thói quen xấu mỗi ngày, chúng con sẽ tìm thấy niềm vui hé mở của Nước Trời. Chúa đã chết để mang lại sự sống và sự sống dồi dào hơn. Chúa Giêsu phán: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11,25).
Canh thức
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
THỨ BẢY TUẦN THÁNH (Mt 28, 1-10).
Chiều thứ Sáu nơi đỉnh đồi Golgôtha, Chúa Giêsu đã trút hơi thở trên thánh giá. Xác Chúa được hạ xuống, tắm rửa, xức thuốc thơm và được mai táng trong mồ. Gần trong khu vườn có ngôi mộ mới, chưa chôn ai. Xác của Chúa được đặt trong ngôi mộ mới nầy và có tảng đá lấp cửa mồ.
Trong sự thinh lặng của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng gẫm suy về những biến cố của cuộc đời Chúa Giêsu. Khởi đầu, Chúa Giêsu được sinh ra trong hang lừa máng cỏ tại Bethlehem. Ít ngày sau, qua mộng báo, cha Giuse và mẹ Maria đã đem Chúa trẻ thơ trốn chạy sang nước Ai-cập khỏi sự lùng giết của vua Hêrôđê. Sau khi vua Herôđê băng hà, gia đình thánh thất đã trở về làng Nazarét, vùng Galilêa để lập nghiệp. Chúa Giêsu đã âm thầm sinh sống và trưởng thành tại miền đất nhỏ bé nầy. Từ miền Nazarét, hằng năm Chúa Giêsu theo cha mẹ trẩy về thành thánh Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua của người Do-thái.
Tam thập như lập, Chúa đã ra rao giảng Tin mừng cứu độ, thực hiện các phép lạ và chọn lựa huấn luyện các môn đệ để tiếp tục sứ mệnh. Vỏn vẹn ba năm trời, Chúa đã rảo khắp các vùng từ Galilêa xuống Giuđêa rao giảng, canh tân và mời gọi mọi người sám hối vì Nước Chúa đã đến gần.
Một trong những khó khăn mà Chúa Giêsu phải đối diện là giữ luật ngày Sabát theo kiểu cách của các nhà lãnh đạo tôn giáo. Truyền thống ghi chép trong sách Luật của đạo Do-thái có tất cả 613 luật lớn nhỏ. Người Do-thái tuân giữ các khoản luật này cách rất cặn kẽ. Chúa Giêsu nói rằng Ngài không đến để hủy phá lề luật, nhưng làm cho kiện toàn. Các Luật sĩ, Biệt phái và các Bô lão… đã chất vấn Chúa Giêsu rất nhiều lần vì đã chữa bệnh cho nhiều người trong ngày Sabát. Họ đã gây mối thù ghét, oán giận và toan tính tìm cách loại trừ Chúa khỏi đất sống. Chúa Giêsu đã thách thức họ về cách thế giữ luật. Giữ luật không vị luật, không vị hình thức nhưng luật là để giúp xây dựng tình liên đới và sống bác ái yêu thương. Chúa tóm kết lề luật trong việc mến Chúa và yêu người.
Chúng ta có thể nhìn tổng quát hành trình giảng đạo của Chúa gần quê nhà, chung quanh vùng biển hồ Galilêa: Chúa Giêsu sinh sống bằng nghề mộc tại Nazarét, khởi đầu rao giảng và chịu phép rửa của Gioan tại sông Giođan, biến hình trên núi Tabor, dự tiệc cưới tại Cana và làm phép lạ hóa nước thành rượu, đi dọc bãi biển chọn gọi các môn đệ đầu tiên tại Magdala, giảng trên núi Tám Phúc, dậy dỗ tại Capernaum, làm phép lạ cho sóng biển yên lặng tại Tabgha và phép lạ bánh cá hóa nhiều tại Bethsaida, ngồi trên thuyền giảng đạo gần Chozarin, đi trên mặt nước biển hồ Galilêa, xua trừ quỷ ám khiến đàn heo xô xuống biển tại Gergesa, truyền các tông đồ thả lưới bên phải thuyền, truyền ông Phêro ra câu cá lấy đồng bạc đóng thuế gần Hippos và các tông đồ bứt lúa trên đường đi qua ruộng lúa vào ngày Sabát.
Qua vùng Samaria, tại giếng Giacob, Chúa đã ban nước trường sinh cho người phụ nữ. Xuống vùng Giuđêa, Chúa chữa người mù thành Jericho, cho Lazarô sống lại tại Bethania, giảng dậy nơi hội đường và trong các đền thờ chung quanh, dân chúng đón tiếp Chúa vào thành Giêrusalem khải hoàn. Những ngày sau hết, Chúa dùng bữa tiệc ly với các môn đệ, cầu nguyện tại vườn Cây dầu, Chúa bị bắt và bị kết tử hình tại Giêrusalem và vác thánh giá lên đồi Golgotha chịu đóng đinh và chết treo trên thánh giá. Xác Chúa được chôn trong mộ đá và ngày thứ nhất trong tuần, Chúa đã phục sinh từ cõi chết.
Chúa Giêsu đã hoàn tất những lời tiên báo của các tiên tri. Trong khi đi rao giảng, Chúa Giêsu đã mạc khải về Nước Trời, về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Mạc khải về chính mình qua lời giảng dậy có uy quyền biến đổi tâm can. Các phép lạ chữa lành các thứ bệnh tật, xua trừ ma quỷ, biến đổi thiên nhiên và cho kẻ chết sống lại. Qua các quyền phép lạ lùng đã chứng minh Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Chúa mở cửa Nước Trời đón nhận những ai tin vào Ngài.
Sáng thứ Bảy Tuần Thánh, khung cảnh nhà thờ vắng lặng, gian cung thánh không có hoa nến, nhà tạm bỏ ngỏ và không có cử hành bất cứ nghi thức phụng vụ nào cho đến tối vọng Phục Sinh. Giáo Hội khuyến khích mọi thành phần dân Chúa canh thức trong suy gẫm nguyện cầu. Thực tế cuộc sống đạo hôm nay, hình như ý nghĩa nhiệm mầu của ngày thứ Bảy Tuần Thánh bị phai nhạt dần sự thánh thiêng, bù lại là những tổ chức hình thức bên ngoài ồn ào lấp đầy khoảng trống im lặng. Có nhiều giáo xứ tổ chức rầm rộ mai táng Chúa, rồi hôn chân và rước nả xầm uất như ngày hội. Chúng ta đang đánh mất sự thinh lặng thánh trong khi tưởng niệm Chúa Giêsu còn chôn trong mồ đá.
Chúa chịu chết vào chiều thứ Sáu, vọng ngày Sabát. Tất cả mọi sự chuẩn bị mai táng Chúa phải thực hiện gấp rút và mau lẹ trước khi bước vào ngày Sabát. Vì ngày Sabát là ngày Thánh của đạo Do-thái, họ sẽ không làm bất cứ một việc gì, dù nhỏ mọn. Chúa Giêsu đã nghỉ yên trong mồ đá trong ngày Sabát. Nhưng Chúa Kitô đã Vượt Qua sự chết và sống lại vào ngày thứ Nhất trong tuần. Giáo hội Công Giáo tính ngày thứ nhất trong tuần là ngày Chúa Nhật. Tất cả các cử hành phụng vụ long trọng dành vào ngày Chúa Nhật, ngày của Chúa. Giáo Hội mời gọi các Kitô hữu giữ ngày Chúa nhật, tham dự thánh lễ và kiêng việc xác.
Vào tối vọng Phục Sinh, Giáo Hội cử hành đại lễ, trang trí hoa đèn lộng lẫy. Trước thánh lễ, có nghi thức làm phép lửa, nến Phục Sinh được thắp lên và đoàn dân Chúa vừa tiến bước vào cung thánh vừa hát: Ánh sáng Chúa Kitô và mọi ngừoi thưa: Tạ ơn Chúa. Linh mục chủ tế sẽ xông hương và hát Mừng Vui Lên (Exultet). Tối nay, phần Phụng vụ lời Chúa dài với các bài đọc trích từ Sách Sáng Thế Ký, Xuất Hành, Sách Các Tiên Tri Isaia, Ezekien, Barúc…đáp ca các Thánh Vịnh và Lời nguyện. Tiếp theo là hát Kinh Vinh Danh trọng thể và chuông nhà thờ vang vọng inh ỏi. Sau khi nghe bài trích thơ của thánh Phaolô, cộng đoàn dân Chúa hát: Alleluia, Alleluia mừng Chúa Phục Sinh. Công bố tin mừng Chúa đã sống lại.
Trong Lễ Vọng Phục Sinh, nếu cộng đoàn có các ứng viên dự tòng, họ sẽ được gia nhập vào cộng đoàn dân Chúa qua các Bí tích Nhập Đạo. Linh mục làm phép nước giếng Rửa tội. Nghi thức cử hành Bí tích Rửa tội và Thêm sức cho các dự tòng. Mọi thành viên trong Giáo Hội có cơ hội lập lại lời hứa khi lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội và tuyên xưng niềm tin với nến sáng trong tay.
Mọi người trải qua những ngày chay thánh, được chuẩn bị tâm hồn qua sự hòa giải và thanh tẩy, ai ai cũng hân hoan mừng lễ Chúa Phục Sinh. Mùa Phục Sinh kéo dài bảy tuần tiếp theo với những chứng nhân phục sinh được tường thuật. Sau bốn mươi ngày, Chúa Giêsu Thăng Thiên và mười ngày sau, lễ Ngũ Tuần, năm mươi ngày sau khi Chúa Phục Sinh, Giáo Hội mừng lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, kết thúc mùa Phục sinh.
Thứ Bảy Tuần Thánh là cao điểm nhất trong các cử hành trong năm Phụng Vụ. Giáo Hội khởi đầu một sứ vụ mới trong một niềm tin mới. Niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh trong một tổ chức tôn giáo mới, đó là Đạo Công Giáo. Đạo mới không còn giữ luật của ngày Sabát, nhưng sống ngày Chúa Nhật là ngày của Chúa.
. - dongcong.net
April 17, 2014