LTS:
Mùa Tiến Chức, Mùa Hồng Ân ... Giáo
Hội Việt Nam, tháng 6,7,8 /2007. Trong thời gian ngắn, đã có
thêm gần 120 Tân Linh Mục từ Bắc chí Nam.
Để
chúng con có thể Dâng Lời Tạ Ơn: Tạ Ơn Chúa, Tạ Ơn Mẹ, Tạ Ơn
Thánh Giuse và các Thánh, Tạ Ơn Quí Bề Trên, Quí Cha Giáo, Tạ
Ơn Cha Mẹ chúng con và biết bao Ân Nhân, Thân Nhân, Bằng hữu
xa gần... Một ít chia sẻ dưới đây là tất cả suy tư trăn trở
của:
LM.
Micae-Phaolo Trần Minh Huy, Xuân Bích.
Đã
được viết ra thay cho muôn vàn tấm lòng của anh em Linh Mục
chúng con, tất cả Các Tân Chức và Toàn Thể Dân Thánh Chúa.
BBT
Giáo Sĩ Việt Nam
V. Phục Vụ Yêu Thương Của Linh Mục
B.
Phục vụ người bần cùng thiêng liêng
(1
Cor 9:16,27)
Sự cách biệt giàu
nghèo mỗi ngày mỗi lớn. Nhiều người nghèo phải ở trong những
khu ổ chuột, chẳng có gì ăn, áo quần thì xoàng xỉnh rách nát.
Nhưng không chỉ có nghèo nàn thể xác. Còn tệ hơn sự nghèo khó
của thân xác, là sự nghèo khó của tinh thần, là bị bần cùng
hóa về mặt thiêng liêng. Người thiếu bánh ăn làm chúng ta suy
nghĩ, nhưng còn đáng suy nghĩ hơn về người thiếu Bánh Sự Sống.
Không áo che thân là tàn phá nhân phẩm, sự tàn phá còn đau đớn
hơn nữa khi sống và chết mà không được
“mặc lấy Chúa Kitô”. Bao nhiêu người trong xã
hội chúng ta không biết đến Chúa Kitô, mà cũng chẳng biết đến
Giáo Hội của Ngài. Họ thức tỉnh lương tâm chúng ta là những
người có trách nhiệm xây dựng Thân Thể Chúa Kitô bằng một tiếng
kêu đáng sợ.
1.
Giới Trẻ Hôm Nay
Làm
sao tiếp cận được cách tốt nhất với giới trẻ của chúng ta. Họ
tuôn ra các thành phố và đô thị để làm việc trong mọi ngành
nghề. Họ mang theo nhiều tài năng và nghị lực, với rất nhiều
thiện chí. Nhưng rất nhiều người trong họ không được đào luyện
và nuôi dưỡng về đức tin, rất nhiều người trong họ không phát
triển được một đời sống cầu nguyện, và họ thực sự nghèo nàn
về mặt thiêng liêng. Họ trải nghiệm một nội tâm trống rỗng,
bất chấp ảnh hưởng lớn họ thực thi và những lợi lộc vật chất
họ thụ hưởng! Đời sống luân lý lại quá dư thừa sai phạm, với
những tệ nạn xã hội thời đại.
Chăm
sóc giới trẻ và tất cả những ai có nhu cầu thiêng liêng là trách
nhiệm lớn lao của chúng ta. Giáo dân giáo phận Bùi Chu chúng
ta đa số sống về nông nghiệp. Giới trẻ dần dần bỏ nông thôn
di dân ra thành phố làm ăn. Nhiệm vụ trước mắt của chúng ta
là làm sao giữ liên lạc và đồng hành thiêng liêng được với họ.
Đức Cha Phụ Tá đã có những nỗ lực rất đáng kể bên cạnh các anh
em Bùi Chu di dân lên Hà Nội làm việc. Nhiệm vụ thứ hai quan
trọng hơn và xem ra vượt quá tầm tay của chúng ta là làm sao
gợi hứng và thúc đẩy đưa được nhiều ngành công nghiệp về Bùi
Chu, tạo công ăn việc làm cho dân hầu thăng tiến cuộc sống giáo
dân, về mặt nhân bản cũng như thiêng liêng, mở ra với sứ mệnh
truyền giáo. [Hoạt động của Công ty May Sông Hồng với 3.000
công nhân đáng cho chúng ta quan tâm. Tổ may ở quê Cha Quản
lý và tổ may sắp được hình thành ở Thuận Thành là một trong
những hoạt động cần được nhân rộng.
Sứ
vụ phục vụ người bị bần cùng hóa thiêng liêng này của chúng
ta được mô tả là “công trình thiêng
liêng của lòng nhân hậu”: hoán cải tội nhân, dạy
dỗ người dốt nát, cố vấn cho người hoài nghi, nâng đỡ người
buồn sầu, nhẫn nại chịu đựng kẻ lầm lạc, tha thứ những lăng
mạ, cầu nguyện cho người sống kẻ chết.
Chúng
ta học được lòng nhân hậu này từ thập giá Chúa Giêsu cùng với
Mẹ Maria. Một khi đã tiến sâu vào lịch sử cứu độ, Mẹ thấm nhuần
và làm vang vọng những giáo lý quan trọng về Đức Tin. Mẹ thúc
đẩy tín hữu đến với Con Mẹ, với Hy Tế của Ngài và với tình yêu
của Chúa Cha. Chúng ta cố gắng mỗi ngày bắt chước Mẹ và tiếp
tục tiến bộ trong đức tin, trong niềm hy vọng và đức ái, tìm
kiếm và thực thi Ý Chúa trong mọi sự. Vì thế, việc tông đồ của
chúng ta là trao ban Chúa Kitô, làm cho Ngài được sinh ra và
lớn lên trong tâm hồn tín hữu. Mẹ Maria là mẫu gương của tình
mẫu tử ban sức sống cho những ai liên kết với sứ vụ tông đồ
của Giáo Hội cho mọi thế hệ nhân loại (LG. 65).
2.
Những Nicôđêmô thời đại
Trong
Phúc Âm, chúng ta gặp những người tranh luận với Chúa Giêsu
về mầu nhiệm Nước Trời. Ngày nay chúng ta cũng gặp những người
như thế ở bất cứ đâu mà sứ vụ đưa chúng ta đến. Chúng ta gặp
những Nicôđêmô thời đại đến với chúng ta, có khi trong âm thầm,
gần như bí mật, để đặt câu hỏi, để nói lên những mối nghi ngờ,
để tìm cách tiếp cận Chúa. Chúng ta không thể lờ đi mà không
nói với họ về Chúa Kitô. Dù đón tiếp họ với nhẫn nại và yêu
thương, chúng ta phải nói cho họ hay rằng cuối cùng chỉ có thể
đạt tới Chúa bằng một bước nhảy vọt của đức tin tín thác. Chúng
ta cầu nguyện và nỗ lực làm cho các cuộc gặp gỡ ấy sinh hoa
kết quả, những Nicôđêmô thời đại ấy sẽ sẵn sàng đến gần Chúa,
Đấng đã thí mạng vì tất cả mọi người và họ sẽ trở lại với Chúa.
3.
Người thanh niên giàu có tân thời
Cũng
thế, nhiều khi chúng ta cũng gặp những chàng thanh niên giàu
có tân thời. Họ có nhiều nguồn tài nguyên; lắm khi mang nhiều
thiện chí đối với Giáo Hội. Có lẽ nghề nghiệp, địa vị xã hội
hay quyền lực của họ không lấp đầy được lòng họ. Họ muốn có
được sự sống đời đời, nhưng không dám từ bỏ mọi thứ họ đang
gắn bó. Chúng ta không mang lại cho họ lợi ích gì nếu không
nói với họ về kho tàng của ơn thánh Chúa, luôn sẵn sàng trao
ban cho họ nơi các Bí Tích của Giáo Hội. Chúng ta không mang
lại cho họ lợi ích nào, khi để họ ra đi mà không được biến đổi
gì cả.
4.
Những con chiên lạc
Chúng
ta cũng gặp những người tội lỗi, nhưng đôi khi chúng ta ngần
ngại chỉnh sửa và khiển trách, vì chúng ta ý thức về chính tội
lỗi của mình. Chúng ta chưa phục vụ các tội nhân đúng mức, khi
vì những yếu đuối và nhát đảm của mình, chúng ta thất bại trong
việc khuyên ngăn họ đừng phạm tội. Nỗ lực nhằm hoán cải người
có tội chỉ thực sự sinh hoa kết quả khi chúng ta hướng về thập
giá. Sứ vụ hoán cải tội nhân, giáo hóa người dốt nát, khuyên
bảo người hoài nghi… nhất thiết đòi hỏi chúng ta phải sống rất
mật thiết với Chúa Kitô Chịu Đóng Đinh. Muốn hoán cải người
khác, mà chính mình không hoán cải, không phải là một con người
cầu nguyện, hay không khắc ghi trong lòng các mầu nhiệm của
Chúa Giêsu, thì nhất thiết chúng ta sẽ bị thất bại. Đó chỉ là
“thanh la inh ỏi và não bạt rền vang
mà thôi” (1 Cor 13:1). Nếu không có tâm hồn cầu
nguyện, chúng ta chẳng bao giờ hy vọng thuyết phục được những
người nghe. Chúng ta phải nói về một tình yêu mà chính chúng
ta đã trải nghiệm. Chúng ta chỉ phục vụ hữu hiệu khi giúp đỡ
được người khác trải nghiệm tình yêu sâu xa của Chúa Giêsu.
5.
Bản chất truyền giáo của Giáo Hội
Công
Đồng Vaticanô II dạy rằng hoạt động tryền giáo không chỉ là
một chức năng hay phận vụ của Giáo Hội, nhưng “tự
bản chất Giáo Hội là truyền giáo” (Ad Gentes 2).
Sứ vụ của chúng ta trong thế giới là đi vào các đô thị và thành
phố, làng mạc, trang trại, vùng sâu vùng xa, miền xuôi miền
ngược, nghĩa là bất cứ nơi đâu dân chúng đang sinh sống, để
mang Tin Mừng cho họ. Chúng ta nghiêng mình kính phục và tri
ân các nhà truyền giáo ngoại quốc đã mang Tin Mừng cho tổ tiên
chúng ta trước đây. Các ngài không cùng tiếng nói, không cùng
văn hóa, không cùng cách sống, lại trải qua bao nhiêu gian khó
và cấm cách, thế mà các ngài đến được những nơi và cải đạo được
những người mà chính chúng ta ngày nay không tới được, không
tiếp cận được, dù chúng ta cùng ngôn ngữ, cùng văn hóa, cùng
giống nòi, lại nhiều phương tiện hơn, và được nhiều dễ dàng
hơn. Phải chăng vì chúng ta chưa có Chúa đủ trong lòng? Phải
chăng vì chúng ta quá ham dưỡng giáo và chưa nhiệt thành đủ
cho truyền giáo? Thánh Phaolô nói: “Vô
phúc cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm” (1
Cor 9:16).
Sức
mạnh để làm việc truyền giáo đến từ Chúa Giêsu và Thần Khí của
Ngài, nhưng chúng ta học cách thức phục vụ từ nơi Mẹ Maria.
Khi đã nhận lãnh Tin Mừng từ thiên sứ, Mẹ vội vã ra đi đến với
bà Ysave. Mẹ muốn giúp đỡ người chị họ đang mang thai trong
tuổi già. Nhưng việc phục vụ yêu thương chính của Mẹ là mang
Tin Mừng đến cho bà chị họ. Điều Mẹ đã mang đến cho bà Ysave
và Gioan Tẩy Giả, không chỉ đơn giản là thông tin về Chúa, song
là chính Chúa Nhập Thể trong dạ Mẹ. Mẹ dạy chúng ta biết làm
thế nào để mang tình yêu bao la của Chúa Giêsu cho những người
chúng ta gặp. Mẹ là gương mẫu tuyệt vời cho hoạt động truyền
giáo của chúng ta. Nhưng Mẹ Maria đã dạy gì cho chúng ta trong
sứ vụ truyền giáo?
Trước
hết, hoạt động truyền giáo là thực sự khẩn thiết. Như Mẹ, chúng
ta phải mang đến cho dân chúng trong mọi điều kiện sống, không
chỉ một sứ điệp an ủi, nhưng là chính Chúa. Chúng ta phải vội
vã lên đường, ý thức sâu xa về nhu cầu của dân chúng là phải
được tái sinh bởi nước và Thánh Thần. Chúng ta không thể nấn
ná, chậm chạp… Chúng ta không được do dự mang Chúa Kitô vào
các nền văn hóa, vì sợ làm phiền người ta. Tình yêu của Chúa
Kitô không bị giới hạn trong các biên giới văn hóa. Tình yêu
của Chúa Kitô hướng tới mỗi con người và mỗi nền văn hóa. Nhưng
trong việc hội nhập văn hóa, chúng ta phải chú trọng tới tinh
thần, chứ không dừng lại ở hình thức chắp vá bên ngoài.
Tuy
nhiên, chúng ta không được áp đặt văn hóa của chúng ta trên
vùng đất chúng ta được sai đến. Ngôn ngữ và phong tục thay đổi,
nhưng sứ điệp Phúc Âm phải luôn luôn là một. Đó là sứ điệp của
tình yêu khôn lường của Chúa Kitô được mạc khải và truyền thông
qua thập giá. Chúa Kitô đã chết cho tất cả mọi người. Mỗi nền
văn hóa và mỗi con người đều được biến đổi và thăng tiến, nhờ
gặp gỡ Chúa Kitô. Nhưng sự biến đổi đó phải được thực hiện thế
nào để cái gì là tốt, là cao thượng, là thích hợp với nhân phẩm
đều được tôn trọng và bảo tồn.
Thứ
hai, chúng ta phải mang Chúa đến cho người khác với tình yêu,
sự dịu dàng và khiêm tốn như Mẹ Maria. Với niềm vui, Mẹ đã mang
Chúa đến cho bà Ysave và con bà; với khiêm tốn, Mẹ đã tỏ ra
quan tâm đến các nhu cầu của người chị họ. Mẹ mang Chúa đến,
không phải để vinh danh những đặc ân của Mẹ, nhưng để tình yêu
của Chúa được tỏa chiếu qua người khác. Cũng vậy, chúng ta phải
mang Chúa đến cho mọi người, trong khiêm tốn, chứ không áp đặt.
Trong khi chống lại áp bức, bất công và tìm xoa dịu đau khổ,
chúng ta phải bảo đảm rằng Phúc Âm mà chúng ta mang đến không
bị giới hạn nơi vài chương trình từ thiện và hoạt động xã hội.
Tình yêu của Chúa không thể bị giới hạn như thế.
Thứ
ba, phải quan tâm đặc biệt những người chuyên lo việc truyền
giáo. Quan trọng biết bao trách nhiệm cống hiến sự nâng đỡ và
khích lệ thường xuyên cho họ. Họ phải chăm chú biết bao khi
mang Chúa đi cho người khác! Họ phải cẩn thận biết bao khi bảo
vệ Lời Hằng Sống và bảo đảm rằng Lời được mang đi nguyên vẹn
đến cho những ai khao khát Chúa. Ơn gọi đó ngày nay phải chịu
nhiều thách đố và cần được chúng ta trợ lực biết bao!
Quả
thế, sứ vụ này rất cần đến thời giờ, nghị lực và tài nguyên.
Bất cứ cái gì chúng ta làm đều phải hướng đến công cuộc truyền
giáo. Mẹ Maria dạy các nhà truyền giáo trước hết phải sống mật
thiết với Chúa Giêsu; cách đặc biệt là phải được chuẩn bị đứng
với Ngài nơi thập giá. Không có Chúa Kitô, và Chúa Kitôâ Chịu
Đóng Định, chúng ta không thể làm được gì hết. Lịch sử của các
thánh tử đạo chỉ rõ điều này. Chúng ta được kêu gọi mang Chúa
Kitô tới bất cứ đâu mà chúng ta có thể tới: trường học, cơ quan,
phòng thí nghiệm, nhà máy, chợ búa, siêu thị, đồng áng, chung
cư, gia đình… để mời gọi mỗi người và mọi người đón nhận Chúa
Giêsu.
Tự
bản chất, Giáo Hội là truyền giáo. Và do đó, căn tính và bản
chất của linh mục là truyền giáo. Chúng ta đang bảo tồn và phát
huy bản chất của mình, hay đã bị biến chất? Có một sự thiếu
quân bình trong sứ vụ linh mục của chúng ta, là chúng ta dồn
nỗ lực và tài nguyên quá nhiều cho hoạt động dưỡng giáo (tuy
cũng rất cần thiết), nhưng chưa đầu tư bao nhiêu hay chưa đầu
tư đủ cho hoạt động truyền giáo. Công Đồng Vaticanô II đem lại
một sự hiểu biết mới và mở ra một viễn ảnh bao quát hơn về Nước
Thiên Chúa, đúng với ý định cứu độ yêu thương của Chúa Cha,
Đấng “đã yêu thương thế gian đến độ
trao ban Con Một của Ngài cho thế gian được sống”
(Ga 3:16), và cũng đúng với đường lối của Chúa Giêsu, “Thầy
còn nhiều chiên khác chưa thuộc về đàn này” cần được qui tụ
về. Đường lối của Chúa Giêsu có tính cách bao gồm, chứ không
hề loại trừ ai.
Được
kêu gọi tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu, chúng ta phải huy động
hơn nữa tài nguyên tinh thần, thiêng liêng cũng như vật chất
cho hoạt động truyền giáo. Càng động viên giáo dân dấn thân
vào việc truyền giáo, công cuộc dưỡng giáo càng trở nên mạnh
mẽ, phong phú và hữu hiệu, vì không ai có thể cho cái mình không
có. Càng rút gọn về để củng cố pháo đài thì càng yếu. Trái lại,
càng mở rộng giới tuyến ra bốn chung quanh, ảnh hưởng và sức
mạnh càng lớn và pháo đài càng được an toàn. Chúng ta có thể
lấy hình ảnh đó để so sánh việc truyền giáo và dưỡng giáo của
chúng ta. Hãy mời gọi mỗi gia đình giáo dân nhận một gia đình
không công giáo để cầu nguyện, thăm viếng, chia sẻ tình người
và tình Chúa cho họ. Cuộc truyền giáo bằng cuộc sống chứng tá
và hành động đó sẽ làm cho người giáo dân càng ngày càng trở
nên người kitô hữu tốt hơn, và chắc chắn công cuộc truyền giáo
sẽ hữu hiệu hơn. Ước gì được như vậy. Amen.
Đức
Mẹ chỉ bảo đàng lành, xin cầu cho chúng con.