Suy Niệm Chúa nhật thường niên
CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN A
CHÚA BAN LƯƠNG THỰC CHO LOÀI
NGƯỜI
A. DẪN NHẬP.
Mọi sinh vật trên mặt đất này
cần phải có một thứ lương thực thích
hợp để nuôi sống. Con người cũng
là một sinh vật nên cũng phải theo qui luật bất di bất dịch ấy. Nhưng con
người lại khác với những sinh vật khác
ở chỗ ngoài sự sống vật chất còn có
sự sống tinh thần, sự sống thần linh mà
lương thực trần gian không thể đáp ứng
được. Căn cứ vào lời Chúa Giêsu nói với
qủi đến cám dỗ Ngài: ”Người
ta không sống nguyên bởi bánh”. Như vậy con
người còn có một thứ lương thực
đặc biệt khác, đó là lương thực
thần linh.
Mọi người đói khát hãy đến với Chúa vì theo ý Chúa Cha, Đức Giêsu đã tự
hiến dâng để làm dịu cơn đói khát luơng
thực thiêng liêng ấy. Ngày nay Hội thánh dạy chúng ta:
lương thực thần thiêng nuôi dưỡng chúng ta
đó là Lời Chúa và Thánh Thể. Khi đã được
Chúa nuôi dưỡng bằng luơng thực ấy, chúng ta
cũng có trách nhiệm phải làm cho người khác
cũng được nuôi dưỡng như vậy vì: ”Các con đã lãnh nhận nhưhg không thì
cũng phải cho đi nhưng không”.
Thiên Chúa như nguồn nước, Ngài không ngừng thông
ban ân phúc cho con người qua các Bí tích, nhất là Bí tích
Thánh Thể và Lời Chúa, nên các môn đệ Chúa ngày nay
mặc dù không có khả năng sản xuất ra lương
thực nuôi dân, nhưng họ sẽ gắng sức,
tận dụng tài năng, trí lực của mình để
đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, rồi trao ban cho
con người để người người biết
cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa, làm
giầu mặt đất và đem lại hạnh phúc cho
nhân lọai.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
+ Bài đọc 1: Is 55,1-3: Khi thời gian
lưu đầy ở
Babylon
sắp hết, tiên tri Isaia được sai đến kêu
gọi toàn dân (-540) khi thoát cảnh lưu đầy
trở về xây dựng lại đất nước, hãy
“lắng tai và đến cùng Ta, hãy nghe thì sẽ
được sống”. Thiên Chúa mời gọi
người ta đến dự một bữa tiệc do
Người khoản đãi. Bữa tiệc
sẽ có những cao lương mỹ vị, hoàn toàn
miễn phí, không phải trả đồng xu nào.
Với hình ảnh thức ăn và thức
uống vật chất được tặng miễn phí
cho người nghèo của Giavê, Isaia muốn dạy chúng ta
phải biết thèm muốn và tìm lương thực tâm
linh là Lời Chúa và tình thân hữu với Chúa.
Như vậy, hình ảnh bữa tiệc mang ý nghĩa tượng
trưng:
- Tượng trưng cho sự thoả mãn những khát
vọng của con người.
- Tượng trưng cho hạnh phúc Nước Trời.
+ Bài đọc 2: Rm 8,35, 37-39: Trong
đoạn thư này, thánh Phaolô biểu lộ niềm tin
và niềm hy vọng vào Chúa Kitô. Tình yêu của Chúa Kitô
chiến thắng tất cả, vì thế không có gì có
thể tách biệt chúng ta ra khỏi lòng mến của
Đức Kitô, dù bị gian nan thử
thách như gian truân, buồn sầu, đói khát, trần
truồng, nguy hiểm, bắt bớ, gươm giáo.
Chúa yêu thương chúng ta như chưa có ai
đã thương như thế bao giờ. Ngay từ bây giờ chúng ta tham dự cuộc
sống thần thánh của Người trong khi chờ đợi
chúng ta chia sẻ vinh quang của Người trên trời.
+ Bài Tin mừng: Mt 14,13-21:Thánh Matthêu mô
tả việc Chúa Giêsu làm cho bánh hóa ra nhiều để
nuôi hơn 5000 người ăn. Phép lạ
cũng được cả bốn Thánh sử ghi chép lại,
nói lên sự quan trọng của sự việc. Chiều đến, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: ”Họ chẳng cần phải đi
đâu, anh em hãy cho họ ăn”. Việc
biến hoá bánh ra nhiều là biểu tượng phép Thánh
Thể mà Chúa sẽ thiết lập sau này. Thánh
Thể cũng sẽ là lương thực, là của ăn của nhân loại trên đường
về quê trời. Và Chúa Giêsu cũng thiết
lập vào một buổi chiều tối, Giáo hội tiên
khởi cũng “bẻ bánh” lúc đêm về.
Phép Thánh Thể là bí tích của đoàn người đi
trong sa mạc, trong đêm tối
dưới ánh sáng Chúa Phục sinh, như ngày xưa dân Chúa
đi qua sa mạc dưới ánh cột lửa và nhờ manna
nuôi sống.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Lương thực dưỡng nuôi chúng ta.
I. NHU CẦU CỦA CON NGƯỜI.
Con người được kết hợp bởi hai
phần: linh hồn và thể xác. Mỗi
phần có những nhu cầu khác nhau. Con người không
những cần phải được thỏa mãn
những nhu cầu vật chất nhưng còn những nhu
cầu tinh thần nữa.
1. Nhu cầu vật chất.
Con người cũng như các sinh vật phải ăn mới có thể sống. không ăn không uống là chết, đó là qui
luật tự nhiên cho mọi sinh vật trên mặt đất
này. Người Việt nam chúng ta hay nói:
Dĩ thực vi tiên
hay
Có thực mới vực được đạo.
Người Tây phương cũng nói giống như
thế: ”Ăn đã rồi hãy triết
lý” (manducare priusquam philosophare).
Điều ấy chứng tỏ rằng ăn uống là cần thiết và cũng là điều kiện tất
yếu của sự sống.
Một cuộc nghiên cứu có tính cách quốc tế cho biết
một nửa dân số thế giới không
được cung cấp đủ nuớc sạch và 450
triệu người mỗi đêm đi ngủ mà bụng
đói meo. Nhiều
nước châu Phi đã bị nạn đói hoành hành trầm
trọng cần được Liên hiệp quốc cứu
trợ.
Xem ra loài người được cho là thông minh nhất
vẫn mãi mãi lo giải quyết cái ăn cái mặc. Và oái oăm thay vẫn những phương
tiện tối tân như cơ giới hóa việc cầy
cấy, gieo trồng lúa đúng khoa học kỹ thuật,
thay trời làm mưa gió để tăng năng xuất,
thế mà dường như thế giới loài
người càng ngày càng nghèo hơn, đói khổ lan tràn. Ở Việt nam chúng ta, chương trình xóa
đói giảm nghèo đang được xúc tiến
mạnh mẽ, hy vọng dân chúng sẽ bớt nghèo đói. Phải chăng đói khổ mãi mãi là hậu quả
của tội nguyên tổ mà con cháu loài người chúng ta
phải lãnh đủ lời nguyền rủa của Thiên
Chúa “phải khó nhọc bưới đất nhặt
cỏ mới có của ăn” ?
Chúng ta nên nhớ rằng Thiên Chúa đã
tạo dựng nên trái đất này, một trái đất
phong phú, sản sinh ra đầy đủ đến
dư thừa mọi lương thực chẳng những
cho loài người mà còn cho muôn loài. Cho nên trên căn
bản là Chúa bảo đảm cho con người
được no nê.
2. Nhu cầu tinh thần.
Con người tuy cũng là con vật nhưng là một con
vật có lý tính (Homo est animal rationale) không những chỉ
đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu vật chất mà còn
đòi hỏi thỏa mãn những nhu cầu cao hơn
vật chất: đó là những khát vọng cao hơn và
quí hơn như bình an sâu sắc, tình yêu chân thật, sự
sống vĩnh cửu... Chân, thiện, mỹ
tuyệt đối. Những khát
vọng này không ai và không cái gì có thể thoả mãn cho chúng
ta, ngoài một mình Thiên Chúa.
Chúa Giêsu rao giảng ở đâu thì
người ta tấp nập kéo đến khắp nơi
từ thành thị đến thôn quê. Người ta đến
quấy rầy Chúa đến nỗi Ngài và các môn
đệ không có thì giờ nghỉ ngơi ăn uống. Số người đến nghe Chúa
rao giảng rất đông. Nếu
chỉ tính riêng đàn ông mà đã tới 5000 người
thì con số sẽ lên đến 10.000 hay 15.000 người
nếu kể cả đàn bà và con nít. Họ say mê
đi nghe Chúa giảng đến nỗi quên cả thời
gian, quên cả ăn uống. Như trong
bài Tin mừng hôm nay, sau khi đã giảng dạy dân chúng lâu
giờ, trời đã xế chiều, có lẽ vào
khoảng 3 giờ chiều, các môn đệ giục Chúa cho
họ về, vào làng mạc mà mua thức ăn, kẻo
ở nơi hoang địa thì không có gì ăn và đêm
đã xuống dần.
II. CHÚA THỎA MÃN NHU CẦU CON NGƯỜI.
Thánh Matthêu cho biết khi hay tin Chúa Giêsu xuống thuyền
đi đến chỗ hoang vắng riêng biệt thì dân
chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. Chúa Giêsu thấy một đoàn
người đông đảo thì chạnh lòng thương
vì họ như đàn chiên không có người chăn. Họ đến với Chúa như đến với
vị mục tử nhân lành, họ đặt tin
tưởng vào Chúa. Đáp lại, Chúa Giêsu
chữa lành nhiều bệnh nhân và đáp ứng nhu cầu
vật chất cho họ.
Dân chúng say mê nghe Chúa giảng, quên ăn quên uống, nhưng dù sao dạ dầy của họ
cũng phải nổi loạn khi không được cung
cấp thức ăn thức uống cho nó. Bóng
chiều đang xuống dần mà dân còn đang ở trong
nơi hoang vắng xa làng mạc thành thị, họ ra về,
đường còn xa sợ có người đói lả
dọc đường. Chúa Giêsu muốn
các môn đệ cho họ ăn. Nhưng
trong hoang địa này lấy đâu ra lương thực
cho ngần ấy người ăn. Ở
đây chỉ có thằng nhỏ có 5 chiếc bánh và 2 con cá. Bằng ấy thực phẩm thì nhằm nhò gì với
một biển người như vậy ! Nhưng Chúa Giêsu cứ bảo họ ngồi
xuống thảm cỏ để cho Người làm
việc. Thánh Matthêu kể: ”Người cầm
lấy 5 chiếc bánh và 2 con cá, ngước mắt lên
trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho môn
đệ, và môn đệ trao cho đám đông. Ai nấy
đều ăn và được no nê.
Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được 12 giỏ
đầy”.
Lời giảng của Chúa đã làm cho dân chúng say mê,
Lời Chúa là thức ăn nuôi
dưỡng và bồi bổ cho linh hồn. Tuy
thế, Chúa không quên thỏa mãn nhu cầu vật chất
cho họ, vì họ là con người có hồn có xác,
phải được nuôi dưỡng đầy
đủ. Như vậy Chúa thực hiện lời
khuyên: ”Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa,
còn mọi sự khác Người sẽ thêm cho”.
Ngoài thức ăn vật chất, Chúa Giêsu còn muốn
hướng con người đến một thức
ăn khác nữa, cần thiết hơn, qúi trọng
hơn. Bởi đó, sau phép lạ hóa bánh ra
nhiều, người ta tiếp tục tuốn đến
với Chúa mong Người tái diễn phép lạ ấy,
nhưng Người đã lánh họ mà đi. Theo
tường thuật của thánh Gioan, Người còn nói
với họ: ”Các ngươi tìm Ta
chỉ vì đã được ăn bánh no nê. Hãy nỗ lực tìm kiếm thứ lương
thực nuôi dưỡng sự sống muôn đời”. Thứ lương thực ấy chính là
bản thân của Chúa Giêsu, được ban cho chúng ta qua
bí tich Thánh Thể.
III. CHÚA CẦN CHÚNG TA CỘNG TÁC.
Ở đây diễn tả lòng nhân đạo
của các Tông đồ đối với dân chúng. Nhưng lòng nhân đạo này chỉ có tính cách hạn
hẹp theo khả năng tự nhiên
của con người, nên bất lực không thể lo cho
họ ăn được. Vì thế ở đây muốn
nói lên sự hạn hữu và bất lực của con
người nơi các Tông đồ nhưng chính sự
bất lực này làm nổi bật quyền năng của
Thiên Chúa qua Chúa Giêsu trong việc làm phép lạ hóa bánh ra
nhiều để nuôi đám đông dân chúng.
Chúa Giêsu biết rõ các Tông đồ bất lực trong
việc cho dân chúng ăn no, nhưng Người vẫn ra
lệnh cho các ông để chứng tỏ việc phân phát
có ý nghĩa như một trung gian, cho dân chúng ăn là
việc các Tông đồ làm được, còn việc làm cho
có bánh nhiều là việc các Tông đồ bất lực
thì chính Người sẽ làm thay (x Ga 6,6).
(Trần hữu Thành, Suy niệm Tin mừng Chúa nhật
năm A, tr 235-236).
Chúa Giêsu không muốn làm việc một mình,
Ngài muốn cho chúng ta cộng tác, mỗi cái Ngài làm một
nửa, Ngài để công việc còn “dang dở” cho chúng ta tiếp
tục.
Chiều hôm ấy, đám dân chúng đói không
có gì ăn. Các môn đệ không
đủ bánh, nghĩa là có nhưng thiếu; hoặc nói
cách khác là có mà dở dang. Chúa không vất
cái dở dang ấy rồi tự mình làm phép lạ. Chúa bảo đem cái dở dang ấy đến. Sao Chúa không làm phép lạ cho có bánh, mà chỉ làm phép lạ
cho bánh hóa ra nhiều ? Sao Chúa ưa thích
cái dang dở của các Tông đồ làm chi (Mc 6, 36-43) ?
Chúa thích làm phép lạ dang dở. Chúa làm có một nửa nên nhân loại mới được
góp phần trong công việc trọng đại ấy. Cái dang dở Chúa để xẩy ra là dang dở
huyền nhiệm. Thiếu dang dở này con
người thiệt thòi biết bao. Cần có những dang
dở của Chúa để dang dở của con
người hết dở dang. Con người không thể
làm phép lạ tự cứu lấy mình. Chúa cũng không
cứu con người khi con người không tự do lãnh
nhận. Phép lạ của Chúa cần là phép
lạ một nửa, phép lạ dang dở để tôi
được tham dự. Cái dở dang
của Chúa là chỗ trống cho tôi bước vào. Cái dở dang của Chúa thật là huyền
diệu, sâu thẳm. (Nguyễn tầm Thường,
Viết trong tâm hồn, tr 7)
Các Tông đồ chỉ kiếm cho Chúa
được có 5 cái bánh và 2 con cá. Thật
là một đóng góp quá nhỏ nhoi, nhưng thực ra,
chỉ cần bằng ấy đã quá đủ
đối với Chúa. Chúa không muốn
làm phép lạ tự không mà có bánh cho họ ăn, nhưng
Chúa muốn cho con người đóng góp một chút
để cộng tác với Chúa. Như vậy, phép
lạ hóa bánh ra nhiều là kết quả của sự
kết hợp giữa quyền năng vô biên của Chúa
với sự cộng tác nhỏ bé của con người.
Việc này muốn dạy rằng để giải
quyết kinh tế, con người với trí óc thông minh và
sức lực sẵn có của mình tự tìm kiếm
miếng cơm manh áo cách chính đáng trước, còn
thiếu những gì Chúa sẽ bù đắp thêm. Cho nên phải
tránh tính ỷ lại, lòng cậy trông kiểu giao khóan
trắng cho Chúa an bài, còn mình ngồi không mà thụ
hưởng hay kiêu căng tự phụ cho mình làm ra
tất cả, chẳng ai giúp đỡ kể cả Thiên
Chúa.
Truyện: Người chạnh lòng thương.
Me Têrêsa Calcutta thuật lại một câu chuyện như
sau: Một hôm, có một cặp vợ chồng trẻ
đến thăm tu viện và trao tặng cho chúng tôi
một khoản tiền lớn, bảo là để
đóng góp vào chi phí mua thức ăn cho
những người nghèo.
Ở
Calcutta
mỗi ngày dòng Nữ tử Bác ái Truyền giáo chúng tôi
phải cung cấp lương thực cho 9000 người. Bởi đó không lạ gì hai bạn trẻ
này muốn dùng khoản tiền họ tặng vào mục
tiêu trên.
Thấy họ còn quá trẻ, tôi tò mò hỏi:
- Hai con có thể cho mẹ biết tiền đâu mà hai con
có nhiều thế ?
Họ trả lời:
- Chúng con vừa cưới nhau được hai ngày. Chúng
con quyết định không may đồ cưới,
cũng không tổ chức linh đình, để dùng
tiền đó giúp những người kém may mắn hơn
chúng con..
Mẹ Têrêsa hỏi tiếp:
- Ở Ân độ, không có quần áo
cưới và tiệc cưới là điều nhục
nhã. Tại sao các con lại quyết định táo bạo
như thế, làm phật lòng cha mẹ và họ hàng ?
Họ thưa:
- Chúng con yêu nhau và muốn tặng nhau món quà cưới
đặc biệt. Chúng con muốn khởi đầu
cuộc chung sống bằng một hy sinh mà cả hai cùng
đóng góp vào. (Thiên Phúc, Như Thầy đã yêu, tr 106-107)
Hôm nay, Người cũng mời gọi chúng ta góp phần
nhỏ bé và âm thầm của mình cho anh em. Người
chờ đợi nơi chúng ta một chút lòng chạnh
thương. Và cả thế giới được
hưởng chung phép lạ lẫy
lừng của Thiên Chúa.
Thực ra, con người chỉ tìm
được ý nghĩa cho cuộc sống khi biết chia
sẻ cho đi. Con người chỉ lớn lên theo mức độ của sự trao ban vô
vị lợi mà thôi. Có biết trao ban thì con người
mới thực sự triển nở trong nhân cách. Có
biết trao ban thì con người mới vui sống và tìm được
hạnh phúc đích thực trong cuộc sống. Triết
gia Platon quả quyết: ”Con
người chỉ tìm được hạnh phúc khi làm cho
người khác được hạnh phúc”. Thánh Phaolô
cũng đã ghi lại khuôn vàng thước ngọc
của Chúa Giêsu: ”Cho thì có phúc hơn
nhận lãnh” (Cv 20,35).
Chúng ta hãy làm cho thế giới này
được hạnh phúc. Chắc chúng ta cho rằng
mình chỉ là hạt cát trong biển cả làm sao có thể
làm gì cho thế giới ? Đúng
vậy, chúng ta quá nhỏ nhoi và yếu đuối, tài hèn,
nhưng Thiên Chúa chỉ cần chúng ta đúng góp phần
nhỏ mọn của chúng ta như một dụng cụ
trung thành, còn bao nhiêu hãy dành cho Chúa. Cậu bé với 5
cái bánh và 2 con cá làm sao có thể làm cho ngần ấy
người ăn no lại còn thu được 12 thúng
đầy ? Cậu không làm được, nhưng
Chúa làm được. Thiên Chúa sẽ
hoành chỉnh được những cái “dang dở”
của ta.
Trong thời kỳ mới tìm hiểu
đạo Chúa, Premanand đến liên lạc với Giám mục
Whiley ở
Ranchi
. Ông viết: ”Vị giám mục
đọc Kinh thánh với tôi mỗi ngày. Đôi
khi tôi đọc tiếng Bangal. Càng
sống gần vị giám mục, tôi càng đến gần
ngài hơn, và Chúa Cứu thế càng được bầy
tỏ cho tôi qua đời sống của ngài. Hành động và lời nói của ngài khiến
tôi dễ hiểu được giáo huấn của Chúa
Giêsu về những điều tôi đọc trong Kinh thánh
mỗi ngày. Tôi có một sự hiểu biết
mới về Chúa Giêsu khi tôi nhìn thấy cuộc đời
yêu thương, hy sinh và từ chối bản thân của
Chúa Cứu thế trong đời sống hằng ngày
của vị giám mục, đối với tôi ngài thực
sự là sứ giả của Chúa Giêsu. Chúa
Giêsu cần những môn đệ để Ngài có thể
làm việc qua họ, và nhờ họ đem chân lý và tình yêu
của Ngài đến với đời sống của
người khác. Không có những
người như vậy, Ngài không thể làm việc. Phận sự chúng ta là làm những người
đó cho Ngài. Người ta dễ lo
sợ nản lòng đối với một công tác to
lớn như vậy”.
Nhưng còn một điều khác trong câu
truyện này có thể nâng cao tinh thần của chúng ta. Khi Chúa Giêsu bảo môn đệ cho đám
đông ăn, họ bảo chỉ có 5 cái bánh và 2 con cá. Với những thứ họ mang đến
đó, Chúa Giêsu đã làm phép lạ. Chúa
đặt trên mỗi chúng ta một công tác trọng
đại là truyền đạt Ngài cho người khác,
nhưng Ngài không đòi hỏi chúng ta những tài năng,
tiền của và những phẩm tính mà chúng ta không có. Ngài bảo chúng ta: ”Hãy đến với
Ta bằng con người thật của ngươi, dù nó
nghèo nàn, hãy mang đến Ta điều gì ngươi có, dù
ít ỏi, và Ta sẽ xử dụng nó một cách lớn lao
trong công việc của Ta”. (TVH, Tin mừng Chúa nhật,
năm A, tr 192)
Chúng ta hãy kết thúc với bài thơ của Amado Nervo, một
đại thi sĩ cũng là một nhà huyền bí,
người Mễ tây Cơ. Bài thơ này tóm tắt sứ điệp
và tinh thần bài Tin mừng hôm nay:
“Con chỉ là một tia lửa,
xin biến con thành ngọn lửa.
Con chỉ là một sợi dây,
xin biến con thành chiếc đàn.
Con chỉ là một ngọn đồi cỏn con,
xin biến con thành ngọn núi.
Con chỉ là một giọt nước,
xin biến con thành một giòng suối.
Con chỉ là một cọng lông,
xin biến con thành chiếc cánh.
Con chỉ là gã ăn mày,
xin biến con thành một ông vua”.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Lm Giuse
Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt