SUY NIỆM Tin Mừng của Lm Nghĩa
Tin Mừng đặc biệt cho dân ngoại
Chúa nhật lễ Chúa Hiển Linh, Năm C
1. Một chuyện trớ trêu trong đoạn Tin Mừng hôm nay
Trong bài Tin Mừng, ta thấy có điều khá ngộ nghĩnh và buồn cười, đó là: Dân Do Thái nóng lòng trông chờ suốt mấy trăm năm trời Đấng Cứu Thế mà các ngôn sứ loan báo trước đó. Thế mà chẳng mấy ai muốn tìm kiếm Ngài, nên khi Ngài đến, thì chẳng mấy ai trong nhận ra mà đến gặp Ngài. Thật đúng như Tin Mừng Gio-an nói: «Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận» (Ga 1,11). Chẳng những họ không nhận ra, mà còn bách hại Ngài nữa.
Điều ngược đời và trớ trêu là những người đến tìm Ngài, nhận ra Ngài là Vua, là Đấng Cứu Thế, lại không phải là những người mang danh là vẫn trông chờ Ngài đến, không phải là những người đã từng nghe nói về Ngài, không phải là những người thông thạo Kinh Thánh, càng không phải là người biết được Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra ở đâu. Đúng lý ra, chính những người trông chờ Ngài, biết nhiều về Ngài phải là những người đến tìm Ngài và nhận Ngài đầu tiên, trước tất cả những người khác. Nhưng trớ trêu thay, những người tìm Ngài, gặp được Ngài, và nhận ra Ngài là ai, lại là những người ngoại giáo ở tận đâu đâu, rất xa xôi, và những mục đồng dốt nát chẳng hề cầm đến cuốn Kinh Thánh, thậm chí có thể chẳng biết Kinh Thánh nói gì.
Điều ấy khiến chúng ta nhớ đến lời Đức Giêsu nói khi nghe viên đại đội trưởng đến xin Ngài chữa bệnh cho con gái ông ta: «Tôi không thấy một người Ít-ra-en nào có lòng tin như thế. Tôi nói cho các ông hay: Từ phương Đông phương Tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 8,11-12).
2. Biết đâu chuyện trớ trêu ấy lại ứng nghiệm nơi chúng ta!
Những sự kiện ấy khiến chúng ta phải suy nghĩ. Nhiều khi chúng ta tự hào mình là đạo gốc, là người thuộc hàng giáo sĩ, tu sĩ, là giáo lý viên, là giáo dân loại «hảo hạng», hay là người thông thạo lẽ đạo, hiểu biết nhiều về Kinh Thánh, v.v… Vì thế, chúng ta nghĩ mình sẽ là những người ưu tiên vào Nước Trời: ta nghĩ rằng nếu mình mà còn không được vào Nước Trời thì còn ai vào được nữa? Suy nghĩ và tự hào như thế có thể chúng ta đã lầm. Một cái lầm hết sức tai hại.
Chúng ta tưởng rằng mình có đức tin, chúng ta tưởng rằng cách giữ đạo của mình hiện nay là đẹp lòng Thiên Chúa. Chúng ta tự hào là mình đã nắm được ý muốn của Thiên Chúa, luật lệ của Ngài, hiểu rõ lẽ đạo, chân lý của Ngài, và tưởng rằng mình đang sống đúng đường lối của Ngài. Nhưng thật ra chúng ta đang sống một lối sống ích kỷ, kiêu căng, tự mãn, tự hào về những công đức của mình, chẳng hề quan tâm và giúp đỡ những người khốn khổ chung quanh ta. Có thể chúng ta có tính ganh tị, thấy ai hơn mình, may mắn hơn mình, thì tìm cách dèm pha, hạ giá họ xuống. Có thể chúng ta là những người không thể cộng tác với nhau và với ai, vì «cái tôi» của chúng ta lớn quá. Có thể chúng ta có tính không tha thứ khi có ai đó xúc phạm đến ta. Có thể chúng ta chưa yêu thương những người sống ngay bên cạnh ta ở mức độ đúng như Chúa đòi hỏi. Có thể chúng ta có rất nhiều hành vi có vẻ yêu thương, chứ không phải thật sự yêu thương. Có thể chúng ta đang sống rất xa Chúa, mà cứ ngỡ là mình gần Chúa lắm.
Chúng ta tưởng rằng mình thiện chí hơn, sống tốt hơn những người ngoại đạo, hay hơn nhiều Kitô hữu khác, nhưng trong thực tế, chúng ta kém họ, chúng ta không quảng đại bằng họ, không hy sinh cho những người sống chung quanh bằng họ, không cư xử có tình có nghĩa bằng họ. Và chính vì thế, họ gặp được Chúa, được Ngài chúc phúc, còn chúng ta thì chẳng gặp được Ngài, không nhận ra sự hiện diện rất cụ thể và tràn đầy của Chúa ở nơi những người mình gặp, trong những biến cố hằng ngày. Và vì thế, những người chung quanh ta không cảm thấy hạnh phúc vì có ta ở giữa họ, ở với họ.
Những người thông luật, thông Kinh Thánh, được tiếng là đạo đức như những người Pha-ri-siêu, các Ráp-bi Do Thái, các tư tế, các thầy Lê-vi đã không gặp được Ngài lúc Ngài sinh ra. Và ngay cả sau này, khi Ngài đích thân đến gặp họ, nói chuyện với họ, thì họ cũng chẳng nhận ra Ngài, mà tệ hơn nữa, còn tìm cách hãm hại Ngài. Hãy nghiêm túc tự hỏi: tinh thần của chúng ta hiện nay có giống họ không? giống chỗ nào? và nếu có khác, thì khác họ ở chỗ nào? Nếu Chúa đến theo cách khác hẳn với cách mà chúng ta vẫn nghĩ – mà chắc chắn là như vậy – thì ta có nhận ra và tiếp đón Ngài không? hay chúng ta lại nhân danh luật đạo và niềm tin của ta để kết án Ngài, giống như những người có vẻ đạo đức xưa kia đã làm cho Ngài? Ngài tiên báo sẽ đến như kẻ trộm, mà kẻ trộm thì lúc nào cũng đến bất ngờ, không chỉ theo thời gian mà theo cách thế nữa. Nếu không tỉnh thức, làm sao biết được. Coi chừng Ngài đang ở ngay bên ta, mà ta đâu có biết!
3. Đây là dịp để chúng ta xét lại cách suy nghĩ về cách sống
Trong lịch sử cứu độ, ta thấy Thiên Chúa dành rất nhiều ưu tiên cho Dân Ngài trong việc lãnh nhận ơn cứu độ. Đức Giêsu cũng vậy. Ngài nói với các môn đệ: «Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Sa-ma-ri. Tốt hơn là hãy đến với các chiên lạc nhà Ít-ra-en» (Mt 10,5-6), hoặc «Ta chỉ được sai đến với các chiên lạc của nhà Ít-ra-en thôi» (Mt 15,24). Nhưng điều tai quái xảy ra là những kẻ được ưu tiên thì lại tự hào về sự ưu tiên ấy, để rồi sống ngược lại với ý của Thiên Chúa, khiến họ không xứng đáng được cứu rỗi. Dụ ngôn tiệc cưới (xem Mt 22,1-14, hay Lc 14,15-24) cho thấy rõ điều đó. Người được ưu tiên mời thì không chịu đến, khiến cho chủ tiệc phải mời tất cả những người ở ngoài đường vào dự tiệc. Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến với họ, nhưng họ không nhận ra đó là ngôn sứ của Thiên Chúa, trái lại họ nghe thấy các ngôn sứ nói chói tai, và giết đi.
Phải coi chừng kẻo điều ấy lại xảy ra tương tự cho chính chúng ta, những người đã được rửa tội, mang danh là Kitô hữu, là người theo Chúa, là người đạo đức, nhưng nếu trong thực tế, đời sống chúng ta lại phản lại Tin Mừng, nghĩa là ích kỷ, kiêu căng, rất tự hào về đạo mình, khinh chê đạo khác. Liệu Đức Giêsu có thể nói với chúng ta như đã từng nói với người Do Thái xưa: «Tôi nói cho các ông hay, Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi» (Mt 21,43).
Lễ Hiển Linh là một tin mừng đặc biệt cho dân ngoại. Qua nhiều đoạn Tin Mừng (như đã từng trưng dẫn ở trên), ta thấy Thiên Chúa mạc khải rằng chính dân ngoại cũng có thể được cứu rỗi nếu họ sống đúng theo lương tâm, hay sống đúng theo truyền thống tôn giáo của họ, sống xứng đáng là người đúng nghĩa là con người (xem thêm Rm 2,17-29; Rm 10,19-21; v.v…)
NGUYỆN:
Lạy Chúa, bài Tin Mừng về lễ Hiển Linh khiến con phải xét lại cách sống đạo của con. Có thể con đang sống theo kiểu người Do Thái xưa, hiểu biết về Chúa rất nhiều, nhưng lại sống một lối sống hết sức xa lạ với tinh thần Tin Mừng. Xin Chúa hãy làm cho trái tim của con mềm lại thành trái tim bằng thịt đích thực, biết rung cảm trước những đau khổ, những cảnh ngheo nàn túng thiếu, những thế kẹt của những người đang sống quanh con, đồng thời biết quảng đại ra tay giúp đỡ, dấn thân bênh vực. Amen
Lm Anrê Nguyễn hữu Nghĩa
Tính phổ quát của ơn cứu độ
Lễ Hiển Linh, năm C-2010
Kế hoạch của Thiên Chúa là muốn tất cả mọi người nhận biết chân lý để được cứu độ ( x. 1Tm 2,3-4 ). Thánh Tông đồ dân ngoại đã khẳng định về tính phổ quát của ơn cứu độ rằng: “Trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại cùng được thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” ( Eph 3,5-6 ). Như thế, ơn cứu độ không dành riêng cho một ai, cho một dân tộc nào. Họp mừng lễ Hiển linh hay là lễ Chúa tỏ mình cho muôn dân, Hội Thánh không gì hơn là muốn khẳng định với chúng ta rằng ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người, mọi thời, mọi hoàn cảnh, đồng thời cảnh báo chúng tránh xa thái độ cao ngạo độc quyền chân lý, và mặt khác dạy ta cần tích cực sẻ chia cho tha nhân kho tàng ân sủng mình đã lãnh nhận theo khả năng và hoàn cảnh của mình.
Ơn cứu độ là dành cho mọi người. Ngôn sứ Isaia loan báo cảnh huy hoàng rực rỡ của Giêrusalem và chư dân Đông Tây, sẽ tay bế tay bồng dìu nhau đến thờ lạy, ca tụng, tôn vinh Thiên Chúa ( x. Is 60,3-5 ). Thiên Chúa là Đấng công bình và đầy tình lân ái. Người tỏ mình cho mỗi người mỗi cách khác nhau tuỳ theo khả năng và hoàn cảnh của họ. Chúa công bình vì Người tỏ mình cho tất cả mọi người, chẳng trừ một ai. Chúa lân ái nên Chúa tỏ mình bằng nhiều cách thế để mỗi người theo mỗi hoàn cảnh có thể gặp được Người.
Với những người chăn chiên cừu, vốn ít học nhưng đơn sơ chất phác, thì lời loan báo của vị Thiên Sứ cùng với tiếng hát của đoàn cơ binh Thiên Thần trong ánh sáng huy hoàng quả là một sứ điệp không gì bằng. Dòng lịch sử minh chứng cho ta sự thật này: Chúa Kitô, Mẹ Maria thường hiện ra với những người thôn quê, nghèo hèn nhiều hơn là với những người trí thức, học cao, hiểu rộng hay chốn thị thành. Với các nhà đạo sĩ Đông phương, thì sự xuất hiện một ánh sao lạ trên bầu trời hẳn là một lời mời gọi thiết thực với những “chuyên gia thiên văn”. Còn với các kinh sư, các Thượng tế Do thái giáo, thì thử hỏi có gì quan trọng cho bằng Thánh Kình. Chúng ta không quên việc họ thường mang Lời Chúa được ghi trên các dải vải đính ở tay áo. Thế thì một duyên cớ để họ đọc lại lời của Ngôn sứ Mikêa: “Phần người, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa. Vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời” ( Mk 5,1 ), quả là một lời mời gọi hay nói cách khác, là một sự tỏ mình của Thiên Chúa cách tuyệt vời cho họ. Rồi với Vua Hêrôđê, một vị vua trần thế vốn tham quyền cố vị, thì câu hỏi của các nhà đạo sĩ Đông phương: “Đức Vua dân Do Thái mới sinh hiện đang ở đâu” đúng là một sự tỏ mình của Thiên Chúa cách đúng đối tượng.
Thiên Chúa luôn tỏ mình ra với mọi người theo cách thức Người chọn, phù hợp với từng người theo từng hoàn cảnh, số phận khác nhau của họ. Như thế, ta có thể nói là bất cứ ai cũng đều có thể tìm gặp chân lý, đều có thể tìm đến cội nguồn hạnh phúc vĩnh cửu theo khả năng, hoàn cảnh của mình. Giáo lý Công giáo khẳng định rằng ngoài phép rửa bằng nước còn có phép rửa bằng máu và bằng lòng mến. Thánh Công đồng Vatican II dạy chúng ta: “Vì Chúa Kitô đã chết cho mọi người và vì ơn gọi cuối cùng của con người thực ra là duy nhất, nghĩa là do Thiên Chúa, nên ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần ban cho tất cả mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm Phục Sinh cứu độ của Đức Kitô, tham dự bằng cách nào thì chỉ có Chúa biết mà thôi. ( MV số 20 ). Ơn cứu độ là dành cho muôn dân, vì thế chúng ta có thể rút ra một vài hệ luận như tất yếu sau:
Không được phép độc quyền chân lý: chân lý không thuộc riêng một ai, một tập thể nào. Khi ta độc quyền chân lý cách này cách khác là khi ta tự biến mình thành ngẫu tượng. Cần phải bỏ dần thái độ cao ngạo tự tôn của một thời quá khứ khi ta đồng hoá mọi niềm tin, tôn giáo khác ta đều là lầm lạc, là ma quỷ, bụt thần… Cần phải minh định rằng “không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Chúa Kitô” ( x.Ga 14,6 ). Tuy nhiên cũng cần cảnh giác thái độ tự tôn cho rằng “ngoài Giáo Hội thì không có ơn cứu độ”, một thái độ thiếu tôn trọng hoạt động của Chúa Thánh Thần, Đấng “muốn thổi đâu thì thổi” ( x. Ga 3,8 ). Khi ta có thái độ độc quyền chân lý là lúc ta tưởng như mình đã nắm trọn vẹn chân lý và hữu ý hay vô tình ta đã rơi vào chước cám dỗ của Satan ngày xưa khi cám dỗ tổ tiên loài người: Cứ ăn trái cấm này đi thì hai ông bà sẽ nên như Thiên Chúa, biết được điều lành điều dữ ( x. St 3,5 ).
“Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ” ( Ga 6,45 ). Thiên Chúa tỏ mình cho mỗi người mỗi cách phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của họ. Tuy nhiên để nhận biết Thiên Chúa, phần phía con người cũng cần có sự đáp trả cân xứng. Một vài thái độ đáp trả cần có đó là:
Một tâm hồn biết lắng nghe: đây là thái độ khiêm nhu chân thành, luôn khao khát tìm về chân, thiện, mỹ. Người có tâm hồn biết lắng nghe là người có tấm lòng thành trước những những gì là chính đáng, là phải đạo. Các nhà đạo sĩ Đông phương và những người mục tử thôn dã lúc bấy giờ là những người có tấm lòng thành. Tấm lòng thành ở đây được hiểu như là sự hướng thượng và hướng thiện. Quân vương Hêrôđê chắc chắn không có tấm lòng thành. Các thượng tế, kinh sư ở thành Giêrusalem lúc bấy giờ thì ta không dám quả quyết nhưng chắc chắn họ thiếu động thái lên đường, ra đi.
Một động thái lên đường, ra đi: Khi đã nhận ra tiếng nói của chân lý toàn thiện, tình yêu vĩnh cửu, thì cần phải lên đường, ra đi. Chân lý toàn thiện, tình yêu vĩnh cửu đòi hỏi chúng phải ra đi khỏi cái vị thế hiện tại. Không một ai ở trần gian này có thể nắm được tình yêu vĩnh cửu hay chân lý toàn thiện. Tất thảy đều ở phía trước, chính vì thế cần phải lên đường, ra đi. Các thượng tế và kinh sư ở thành Giêrusalem năm nào dù đã nhận ra Ánh Sáng cứu độ nhưng vì họ đã không lên đường nên không thể gặp được Đấng Cứu Thế. Trái lại khi nhận được dấu chỉ mời gọi, các đạo sĩ Đông phương và các mục tử đã biết lên đường, ra đi. Ra đi là chấp nhận từ bỏ. Lên đường là chấp nhận hy sinh và gian khó. Có một cái khó mà không dễ gì vượt qua hay từ bỏ, đó là những tập tục hay truyền thống mang tính nhân loại. Chúng dễ nhận ra sự thật này nơi nhiều người biệt phái, luật sĩ, tu tế thời Chúa Giêsu, khi Người công khai rao giảng tin mừng.
Chân lý đã thực sự hoàn hảo và đầy đủ nơi Chúa Kitô, Đấng là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình ( x. Col 1,15; Dt 1,1-2 ). Nhưng chúng ta, dù là giáo dân hay giáo sĩ, dù là thần học gia hay “xứng với bậc tông đồ” thì cũng chỉ nhận biết chân lý kiểu như thấy trong tấm gương đồng. “Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi” ( 1 Cor 13,12 ).
Ra khỏi tháp ngà tự mãn cho rằng đã nắm được trọn vẹn chân lý, ra khỏi tháp ngà độc quyền chân lý là cách thế tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Hiển linh, Chúa tỏ mình cho muôn dân cách thiết thực, hữu hiệu và khả tín. Không ngừng kiếm tìm và đón nhận chân lý là một thái độ khiêm nhu vừa có tính giải thoát và tính truyền giáo. Sự thật không chỉ giải thoát chúng ta, mà còn có sức cuốn hút những tâm hồn thiện chí. Và như thế sự thật sẽ làm cho chúng ta xích lại gần nhau, làm cho chúng ta nên một bằng cách thánh hiến chúng ta ( x. Ga 17,17 )
Mừng mầu nhiệm Chúa Hiển Linh, ước gì chúng ta mãi luôn nuôi dưỡng cái tấm lòng thành nơi chúng ta bằng thái độ khiêm nhu biết lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần. Lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần không chỉ trong Thánh Kinh, trong các cử hành Phụng vụ, trong lời dạy của Hội Thánh…mà còn trong các biến cố lịch sử, trong các nét đẹp thánh thiêng nơi các niềm tin, tôn giáo ngoài Công giáo, nơi các nghĩa cử cao đẹp của những người chưa tin hay chưa nhận biết Thiên Chúa. Lắng nghe không phải để đứng nhìn mà để can đảm lên đường tìm kiếm và đón nhận chân lý. Sự thật toàn vẹn luôn ở phía trước, vì có đó nhiều điều ngay các Tông đồ vẫn chưa thấu hiểu. Chính Thánh Thần là Đấng sẽ dẫn đưa chúng ta đến sự thật toàn vẹn ( x. Ga 16,12-13 ). Người là Đấng đang mãi hoạt động cho đến ngày Đức Kitô lại đến trong vinh quang. Không ai có thể trao ban điều mình không có. Tích cực tìm kiếm và đón nhận chân lý là tiền đề tất yếu để ta chia sẻ cho tha nhân hồng ân cứu độ.
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa - dongcong.net