Suy Niệm và cầu nguyện
CHÚA NHẬT XIX TN – B – 12-08-2012
I các Vua 19:4-8; T.vịnh 34; Êphêsô 4: 30-5:2;
Gioan 6: 41-51
Lm. Jude Siciliano, OP
ĐỨC GIÊSU, BÁNH HẰNG SỐNG CHO CHÚNG TA
Ngôn sứ Êlia đang trong tình trạng chán chường. Chẳng phải cũng có lúc quý vị cũng thốt lên như ông sao: “Lạy Chúa, thế là đủ rồi!” Ông vừa hoan hỉ vì chiến thắng các ngôn của thần Baal (chương 18) trên núi Caramel, nhưng làm như thế là chọc giận Hoàng hậu Jezebel, người đã đưa các ngôn sứ của Baal vào Israel. Bà thề sẽ giết chết ông và Êlia đã phải trốn đi. Chúng ta thấy ông kiệt sức, cả thể xác lẫn tinh thần, trước những thử thách. Ông không còn thiết sống nữa.
Cuộc tàn sát gần đây ở Aurôna, Côlôrađô và ở nhiều nơi khác chỉ là một phần của toàn cảnh – hai cuộc chiến tranh, tình hình thất nghiệp triền miên, gia đình ly tán, hạn hán,…lắm khi cũng khiến chúng ta phải kêu lên Thiên Chúa như Êlia, “Lạy Chúa, thế là đủ rồi!” Có thể hầu hết những vấn nạn riêng của chúng ta có thể không tệ hại như của những người khác nhưng lắm lúc chúng vượt quá sự kiên nhẫn và sức chịu đựng cũng như lòng tin của chúng ta. Nên chúng ta cũng sẽ cùng với Êlia mà thốt lên: “Lạy Chúa, thế là đủ rồi!” Cũng như Êlia, những lời ta thốt lên không bị Thiên Chúa bỏ ngoài tai.
Không có những giải pháp tức thời hay câu trả lời lập tức cho những vấn nạn nghiêm trọng mà con người phải đối diện, nhưng câu chuyện của ngôn sứ Êlia cho ta niềm tin tưởng vào một Thiên Chúa giàu lòng khoan dung, Đấng không thờ ơ trước những cảnh ngộ của chúng ta và, như Thiên Chúa đã làm cho Êlia, Người sẽ giúp ta đứng vững với sự hiện diện thánh thiêng, tỏ ra trong nước và bánh mà Êlia nhận được. Vị ngôn sứ được ban sức mạnh khi ông kiệt sức và nhờ thế ông có thể tiếp tục vượt qua được sa mạc thử thách. Cuộc hành trình này rồi sẽ đưa ông về đâu? Sau cùng, ông nhận ra Thiên Chúa trong cơn gió thoảng và được trở nên mạnh mẽ mà quay lại đối diện với kẻ thù.
Chúng ta có thể thấy tại sao bài đọc này được chọn đọc hôm nay; nó chuẩn bị cho chúng ta lắng nghe Tin mừng. Bánh của Êlia nhắc chúng ta rằng Thiên Chúa ban cho chúng ta Thánh Thể để làm của ăn trên hành trình của chúng ta. Cũng như Êlia, hành trình của chúng ta chưa hoàn tất và hiện nay có thể là giai đoạn khó khăn và chán nản. Như bánh ban cho Êlia, Thánh Thể cũng được ban cho chúng ta, lời Thiên Chúa hứa sẽ không bỏ rơi chúng ta cho tới cuối hành hành trình và chúng ta sẽ được nhìn thấy Chúa diện đối diện.
Những người Galilê mà Đức Giêsu đang giảng cho họ, đã thấy một dấu lạ cả thể - Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều để nuôi họ. Ấn tượng mạnh mẽ đó đã khiến họ quay lại với Đức Giêsu và khiến họ tin tưởng vào Người. Dấu đó cũng đã gợi lên một ký ức đức tin và nhắc họ nhớ rằng trong một hoang mạc khác, chính Thiên Chúa đã thấy dân Israel đang chạy trốn bị đói và Ngài đã cho họ ăn, mỗi ngày trong suốt 40 năm. Dấu chỉ Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều cho thấy rằng Thiên Chúa vẫn không ngừng đồng hành với họ, quan tâm đến sự đói khát của họ và một lần nữa cho họ ăn.
Manna trong sa mạc không thể cho họ sự sống đời đời. Khi dân ăn manna trong sa mạc, chỉ đủ cho một ngày, trừ hôm trước ngày sabát (Xh 16,16-25). Không còn gì sót lại. Nhưng khi Đức Giêsu cho đám đông dân chúng ăn, họ đã ăn no mà còn dư rất nhiều. Đức Giêsu ban cho thứ bánh có thể mang lại sự sống đời đời và bánh đó ở với chúng ta và không hủy hoại chúng ta.
Những kẻ nghe Đức Giêsu đã nhảy từ việc Đức Giêsu nói về niềm tin (đoạn kết của Tin mừng Chúa nhật trước 6,35) qua vấn nạn ít liên quan đến họ hơn – đó là khẳng định của Đức Giêsu “Tôi là bánh từ trời xuống”. Thực ra, điều này sẽ trở thành một vấn nạn rất riêng tư, nhưng ngay lúc đó họ có lẽ đã không nắm được mấu chốt vấn đề. Có vẻ như rất dễ đổi đề tài khi Đức Giêsu chuyển qua vấn đề liên quan đến cuộc sống của chúng ta.
Làm sao Người có thể là “bánh từ trời xuống” khi mà họ biết rõ song thân của Người? Làm thế nào một người có thể từ trời xuống, nhất là khi chúng ta biết cha mẹ của họ là ai? Các thính giả của Đức Giêsu đã “xầm xì”, cũng giống kiểu cha ông họ ngày xưa xầm xì trong sa mạc (bài đọc I của Chúa nhật tuần trước Xh 16,2-4;12-15). Việc khám phá nguồn gốc cũng như căn tính của Đức Giêsu chẳng ích gì. Cách chúng ta biết về Người, như các ngôn sứ của họ viết, “Tất cả họ đều được Thiên Chúa dạy dỗ”. Cây gia phả chẳng đưa chúng ta đến với Đức Giêsu, nhưng chính là niềm tin vào Lời Chúa mới giúp chúng ta đến với Đức Giêsu – chính Thiên Chúa kéo chúng ta đến với Người.
Đức Giêsu nhấn mạnh việc Người là ai bằng cách dùng một câu nói mở đầu: “Quả thật, quả thật, tôi bảo cho các ông biết…” Những gì Người nói thì hết sức ý nghĩa, vì những kẻ đến với Đức Giêsu bằng niềm tin “thì sẽ có được sự sống đời đời”. Một lần nữa thánh Gioan khẳng định sự sống này ở hiện tại. Bánh mà chúng ta ăn là “bánh hằng sống” có sự sống bên trong và ban sự sống cho những ai ăn bánh ấy.
Liệu những người ăn bánh mà Đức Giêsu hóa ra nhiều có hiểu ra được dấu chỉ được ban cho họ hay không? Đức Giêsu mang sự sống trong mình và, trong dấu chỉ của bánh, Đức Giêsu tỏ cho thấy chính Người là sự sống lại và là sự sống. Nếu chúng ta được nuôi bằng lời của Người thì chúng ta có sự sống và được thông hiệp với Người và Cha của Người. Nay Đức Giêsu nói đến cách Người có thể ban sự sống cho chúng ta – Người sẽ trao ban chính mình để cho “thế gian được sống”.
Một lần nữa hãy lưu ý, khi nói đến sự sống đời đời, thánh Gioan dùng thì hiện tại, chứ không phải cách nói về tương lai. Những ai tin vào Đức Giêsu thì có sự sống đời đời. Thuật ngữ này có nhiều nghĩa trong Tin mừng, nhưng trước hết nó mang nghĩa là sự sống hiệp thông với Thiên Chúa – bắt đầu ngay từ bây giờ. Đức Giêsu là “bánh hằng sống” của chúng ta, và Người nuôi chúng ta bằng giáo huấn của Người cũng như sự trao nộp chính sự sống của Người. Những kẻ ăn manna trng sa mạc đều đã chết (“Tổ tiên các ông đã ăn manna trong sa mạc, nhưng đã chết”); trong khi Đức Giêsu, bánh sự sống, giải thoát chúng ta khỏi nô lệ của sự chết. Cái chết đã không kết thúc cuộc sống của Người, nó cũng không thể kết thúc cuộc đời của chúng ta trong Người.
Bài Tin mừng hôm nay nói về bánh, nhưng chỉ có ba câu cuối là nói về bánh Thánh Thể. Những câu này sẽ chuyển tiếp từ giáo huấn hôm nay về đức tin vào Đức Giêsu đến “bánh hằng sống” là thân mình của Đức Giêsu trao ban cho thế gian được sống.
Đức Giêsu không chỉ mời gọi chúng ta chấp nhận giáo lý về đức tin, nhưng trước hết là đến trong tương quan với Người. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa, trong Đức Giêsu, đã chia sẻ đời sống của chúng ta và, kết quả là, chúng ta cũng được chia sẻ sự sống của Thiên Chúa. Cuộc đời của Đức Giêsu cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa không để chúng ta phải đói khát và bị lạc lõng trong sa mạc, nhưng đã đến nuôi dưỡng chúng ta, ở cùng chúng ta và gia đình nhân loại. Trong Giêsu cuộc đời chúng ta có mục đích và hy vọng. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa không để chúng ta gục ngã, dẫu cho có lúc chúng ta cũng kêu than như Êlia: “Lạy Chúa, như thế là đủ rồi!”
Tin không có nghĩa là tách rời khỏi thực tại: Êlia đã đứng lên, đi “suốt bốn mươi ngày, bốn mươi đêm” qua sa mạc và đối diện với kẻ thù. Đức Giêsu cũng phải đối diện nhiều; chúng ta nghe biết điều đó qua đoạn cuối bài Tin mừng hôm nay, khi Người nói: “và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống”.
Những ai tin rằng Đức Giêsu là bánh sự sống của chúng ta và đang sống trong tương quan với Người, cũng sẽ được mời gọi và được kiện cường hầu trao ban chính mình, cuộc sống của mình, để phục vụ tha nhân như Người đã làm. Những ai “ăn bánh từ trời xuống” được mời gọi trở nên niềm hy vọng trong một thế giới đang tuyệt vọng; cảm thông trong một thế giới khổ đau; trở yêu thương trong một thế giới lạnh giá; lời chân lý trong một thế giới của sự lọc lừa. Hay nói cách khác, để sống “sự sống đời đời” mà chúng ta đã lãnh nhận.
Lm. Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ::Anh em HV Đaminh Gòvấp
19th SUNDAY (B) - August 12, 2012
I Kings 19:4-8; Psalm 34; Ephesians 4: 30-5:2;
John 6: 41-51
By Jude Siciliano, OP
The prophet Elijah is in a bad way. At times haven’t you wanted to say what he says, "This is enough O Lord!" He has just enjoyed a triumph over the prophets of Baal (chapter 18) on Mount Caramel, but in doing so, infuriated Queen Jezebel, who brought the prophets of Baal to Israel. She has sworn to kill him and Elijah has had to flee. We find him exhausted, both physically and spiritually, from his trials. He just wants to die.
The recent slaughter in Aurora, Colorado and so much else that is just part of our national and local climate – two wars, persistent unemployment, family trials, drought, etc. make us want to implore God with Elijah, "This is enough, O Lord!" For most of us our personal issues might not be as upsetting as those of others, but there are days that just tax our patience, endurance and faith. We too would add our voices to Elijah’s, "This is enough, O Lord!" With Elijah, our voices do not go unheard by God.
There are no quick solutions or easy answers to the serious issues people face, but the Elijah story encourages us to trust in a gracious God, who is not indifferent to our plight and, as God does for Elijah, will sustain us by the divine presence, represented in the bread and water Elijah receives. The prophet was given strength when he had none and he was able to continue his journey across the punishing desert. Where will his journey take him? Eventually he will discover God in the whisper of a gentle breeze and be strengthened to go back and face his enemies.
We can see why this reading was chosen today; it prepares us to hear the gospel. Elijah’s bread reminds us that God gives us Eucharistic bread for our journey. Like Elijah our journey is not complete and this stage of our lives may be arduous and a desert. As the bread was for Elijah, our Eucharistic bread is for us, a promise that God will not abandon us until our journey is complete and we see God face to face.
The Galileans, with whom Jesus is speaking, have seen a powerful sign – Jesus multiplied bread for them. That impressive sign should have turned their faces towards Jesus and stirred them to put faith in him. The sign should also have stirred their faith-memory and reminded them that in another deserted place, God saw the hungers of the escaping Israelites and fed them, day by day for 40 years. The sign Jesus performed by multiplying the bread announced that God was still traveling with them, aware of their hungers and once again feeding them.
The desert manna did not give eternal life. When the people ate manna in the desert it was sufficient for one day, except if the next day were the Sabbath (Exodus 16:16-25). There was none left over. But when Jesus fed the crowd, they had enough to eat and there was a lot left over. Jesus provides a bread that gives eternal life and that bread stays with us and does not fail us.
Jesus’ audience skip right away from his mention of faith (the conclusion of last week’s gospel, 6:35) to a less personal issue for them – Jesus’ statement, "I am the bread that came down from heaven." Actually, this will turn out to be a very personal discussion, but for the time being they probably feel off the hook. It’s always easier to change the subject when Jesus seems to be moving in on a discussion of our personal lives.
How can he be the "bread that came down from heaven" when they know his father and mother? What human being could possibly come down from heaven, especially when we know his parents? Jesus’ audience "murmurs" among themselves, the way their ancestors did in the desert (our first reading last Sunday, Exodus 16:2-4; 12-15). There is no use trying to figure out Jesus’ origins and identity by discussion. The way we will learn about him is, as their prophets wrote, "They will all be taught by God." A genealogical tree doesn’t bring us to Jesus, but faith in God’s Word does – God draws us to him.
Jesus underlines what he is about to say by prefixing it with the solemn, "Amen, Amen, I say to you…." What he says is indeed very significant, for the one who comes to Jesus in faith "has eternal life." Once again John states this life in present- tense terms. The bread we eat is the "living bread" which has life in itself and gives life to whomever eats it.
Did those who ate the loaves Jesus multiplied understand the sign they were being given? Jesus has life in himself and, in the sign of the bread, Jesus reveals himself to be the resurrection and the life. If we feed on his words we have life and are in communion with him and his Father. Now Jesus mentions how he can gift us with life – he will offer himself for the "life of the world."
Note again, that when John speaks of eternal life he uses the present tense, not the future tense. Those who believe in Jesus have eternal life. The term has many meanings in the gospel, but it primarily means a life in communion with God – beginning now. Jesus is our "living bread" and he feeds us by his teaching and the surrender of his life. Those who ate manna in the desert died ("Your ancestors ate the manna in the desert but they died."); while Jesus, the bread of life, frees us from the slavery of death. Death did not end his life and, in him, it will not end ours either.
While the gospel today speaks of bread, only the last three verses refer to the Eucharistic bread. These verses will make the transition from today’s teaching on faith in Jesus, to the "living bread" that is Jesus’ flesh given for the life of world.
Jesus is not just calling us to an intellectual assent to a doctrine of faith, but primarily to a relationship with him. We believe that God, in Jesus, has shared our life and, as a result, we have a share in God’s. Jesus’ life tells us that God has not left us hungering and lost in one desert or another, but has come to nourish us, stay with us and with our human family. In Jesus our life has purpose and hope. We trust that God will not let us down, even when we want to cry out, as Elijah did, "This is enough, Old Lord!"
Faith is not an escape from reality: Elijah had to get up, walk "forty days and forty nights" through the desert and then he had to face his enemies. Jesus has much to face as well; we hear hints of it when, at the end of today’s gospel, he says, "I will give my flesh for the life of the world."
Those who believe in Jesus as our bread of life and are in relationship to him, will also be called and empowered to give up our flesh, our lives, in service to others as he did. Those who "eat the bread that has come down from heaven" are called to be hope in a world of despair; compassion in a world of pain; loving in a world of chill; truth telling in a world of deception. In other words, to live the "eternal life" we already possess.
Rev. Jude Siciliano, OP
Nhận lấy Thánh Thể - Nhận được cuộc sống đời đời
Chúa Nhật 19 Thường Niên B (I V 19:4-8; Tv 34; Êphêsô 4: 30-5:2; Ga 6: 41-51)
Chúng ta gặp Êlia giữa chặng đường thân thể rả rời. Êlia ở trong sa mạc, ai đưa ông đến đó? Tại sao ông lại xin cho được chết đi? Trong chúng ta, ai đã cầu xin được chết đi, có phải là những người chán nản khi sự sống không còn ý nghĩa nữa, không có tương lai? Nói đến sự nghèo khó, sự sợ hãi, Và Êlia trong cơn tuyệt vọng Ông lớn tiếng kêu “...Bây giờ xin ĐỨC CHÚA lấy mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con.”.
Êlia chạy trốn vào sa mạc để tìm đường sống. Trước đó ông ta thắng những 450 tiên tri của Ba-an trên núi Các-men (1V 18:40). Các tiên tri Ba-an do hoàng hậu I-de-ven đem đến cho dân Israel, và thề rằng Êlia sẽ bị giết. Vì thế Êlia sợ chạy vào sa mạc, và ông ta đói và mệt lã do thi hành nhiệm vụ ngôn sứ. Ông ta chán ngán việc nói tiên tri và muốn chết đi.
Câu chuyện tiên tri Êlia nhắc đến câu chuyện dân Israel làm nô lệ ở Ai Cập. Họ không còn hy vọng gì nữa cho đến khi Thiên Chúa cứu họ. Thiên Chúa đưa họ vào sa mạc, và ở đó trong sự cực khổ để họ hiểu nhiều về Thiên Chúa cũng như câu chuyện đã xảy ra cho Êlia trong sa mạc. Sách I Vua liên hệ câu chuyện Êlia với câu chuyện dân Israel như sau: Êlia trong sa mạc than phiền với Chúa, ông ta có bánh ăn và sẽ phải tiếp tục lên đường đi tiếp. Ông ta đi 40 ngày và 40 đêm cho đến núi Thánh. Cũng như dân Israel phải ở trong sa mạc 40 năm.
Qua câu chuyện của Êlia, chúng ta có thấy được Thiên Chúa là đấng nhân từ không? Ông ta than phiền với Chúa về những cực khổ, sao nó không biến đi, và ông vẫn phải đứng dậy đi tiếp chặng đường dài cho đến núi Thánh. Và sự khó khăn vẫn còn, nhưng Thiên Chúa đồng hành với ông và thêm sức cho ông qua bánh và nước để ông thi hành sứ vụ.
Thời nay mọi người cũng có thể cảm nhận được câu chuyện dân Israel và tiên tri Êlia trong sa mạc. Trong mỗi thế hệ chúng ta sống đều gặp những lúc khó khăn không vượt qua được. Như tình hình kinh tế suy thoái làm nhiều người chán nản, kể cả những người trước kia cảm thấy mình đầy đủ. Cũng như Êlia, nhiều người đang lo sợ vì bị lạc lõng và chán nản.
Một Thiên Sứ phải chỉ cho Êlia thấy của ăn ngay trước mắt ông. Tôi tự hỏi Thiên Chúa cho chúng ta của ăn gì trên chặng đường dương thế này? để thêm nguồn lực nuôi sống chúng ta mà chúng ta không nhìn thấy? Có phải Thiên Chúa cho chúng ta một người bạn đường kiên nhẫn, thân yêu và trung thành, hoặc một đồng nghiệp giúp đỡ chỉ bảo cho chúng ta nơi sở làm; một thầy giáo dạy phụ đạo; một bác sĩ, y tá tận tụy; một thân nhân giúp chúng ta tiền bạc cho qua ngày khó khăn v.v…? Trong sa mạc Thiên Chúa cho chúng ta của ăn đơn sơ, như Êlia được thấy “bánh nướng trên những hòn đá nung và một hũ nước”. Trong Thánh Lể hôm nay, chúng ta xin được mở mắt để trông thấy của ăn Thiên Chúa đặt trước mặt chúng ta. Khi chúng ta mở mắt nhìn thấy của ăn đó thì chúng ta sẽ biết được “Bánh Hằng Sống” của Thiên Chúa chúng ta.
Trong 3 Chúa Nhật vừa qua chúng ta được nghe Phúc âm chương 6 của thánh Gioan nói về “Bánh Hằng Sống”. Cho đến hôm nay Thánh Gioan nói đến chủ đề lòng tin vào Chúa Giêsu. Phúc âm chưa nói đến bánh trong phép Thánh Thể. Câu cuối cùng của Phúc âm hôm nay nói đến phép Thánh Thể và kế đó chúng ta thử đặt câu hỏi là: chúng ta có tin vào Chúa Giêsu hay không? Nếu chúng ta trả lời “tin” thì câu hỏi tiếp theo là: Đức tin đó sinh ơn ích gì cho đời sống hàng ngày của chúng ta? Chúng ta có khác biệt gì với người khác khi chúng ta tin Chúa Giêsu?
Chúa Giêsu xưng mình là “Bánh Hằng Sống”. Có phải Ngài nói về “sự sống” thường ngày như ăn uống, ngủ, thở phải không? Tôi không nghĩ như vậy. Tôi nghĩ Chúa Giêsu là bánh nuôi dưỡng chúng ta có “sự sống” đặc biệt của Ngài mà tự chúng ta không thể có được, vì Chúa Giêsu muốn lối sống riêng tư của chúng ta chết đi để có sự sống của Ngài: là sự sống tha thứ, thương yêu, tin tưởng và phục vụ. Nhưng chính Ngài cho biết là Thiên Chúa đã mời gọi chúng ta đến với chính đức tin nơi Chúa Giêsu; với lời dạy của Ngài; chúng ta sẽ giữ vững được sự sống của chúng ta.
Chúa Giêsu là “Bánh” của sự sống mới, một sự sống mà chúng ta không tự có được. Nhưng chúng ta lãnh nhận sự sống đó bởi Đức Chúa Cha, người cha luôn cho con cái của ăn. Thiên Chúa thương tất cả các con cái Người, và tất cả mọi người đều là con của Thiên Chúa. Nhờ có đức tin vào Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi sống sự sống của Ngài trong thế gian này. Chúng ta sẽ sống như thế nào? Các bài đọc hôm nay cho biết là chúng ta không bị bỏ rơi trong sa mạc, và Ngài, luôn đồng hành với chúng ta, sẽ nuôi dưỡng chúng ta trên từng bước đường chúng ta đi.
Đức tin chúng ta được lãnh nhận không phải chỉ để cho riêng chúng ta. Chúng ta có trách nhiệm phải chia sẻ niềm tin ấy qua lời nói và việc làm. Thiên Chúa ban của ăn cho dân Israel, và tiên tri Êlia trong sa mạc. Chúa Giêsu cũng ban của ăn cho dân chúng. Chính trong sa mạc là nơi chúng ta cần có của ăn, vì chúng ta không tự chúng ta tìm của ăn được. Chúa Giêsu ban của ăn cho chúng ta qua lời Ngài giảng dạy và qua sự sống Ngài cho chúng ta.
Chúng ta thường nghĩ đời sống Kitô Hữu đòi hỏi rất nhiều, và thật như thế. Chúng ta phải quên mình. Nhưng trước khi chúng ta làm việc đó thì hôm nay các bài đọc nhắc chúng ta nhớ là Thiên Chúa đã làm mẫu trước cho chúng ta. Ngài đã cho Ngôi Lời làm người là Chúa Giêsu ở với chúng ta, để mời gọi chúng ta đến với Chúa Giêsu, và qua Chúa Giêsu đến với Thiên Chúa. Đối với những ai đáp lại lời mời gọi này, Thiên Chúa sẽ ban của ăn mà người đi trong sa mạc cần, đó là “Bánh Hằng Sống”.
Niềm tin vào Chúa Giêsu không dựa trên các tín điều hay học thuyết. Không cần phải thông tuệ. Theo bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta, trước tiên là liên hệ mật thiết với Ngài. “Thật tôi bảo thật các ông, ai tin thì được sự sống đời đời. Tôi là bánh trường sinh”. Niềm tin chúng ta vào Chúa Giêsu là một sự công nhận chính Thiên Chúa đã ban sự sống của Người cho chúng ta qua Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã mạc khải sự thương yêu hải hà của Thiên Chúa cho chúng ta. Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta đói khát trong sa mạc. Tin vào Chúa Giêsu “Bánh Hằng Sống” không phải ban cho chúng ta một đời sống dễ dàng, nhưng cam đoan là chúng ta có được sự sống của Thiên Chúa nhờ đó có năng lực và can đảm làm những việc của người Kitô Hữu trong thế gian này.
Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta vui mừng về tình yêu thương và sự săn sóc của Thiên Chúa đối với chúng ta qua Chúa Giêsu. Chúng ta cảm tạ vì chúng ta được lãnh nhận đức tin làm chúng ta biết được Chúa Giêsu và qua Ngài biết được Đức Chúa Cha. Đức tin chúng ta chia sẻ trong phép Thánh Thể hôm nay không làm chúng ta tốt hơn người khác, nhưng đó là một trách nhiệm, mời gọi chúng ta trở nên công cụ của tình yêu thương Thiên Chúa ở trần gian. Là dấu chỉ giao ước yêu thương của Thiên Chúa với chúng ta và giao ước ấy không hề chấm dứt được.
Bánh phải được bẻ ra. “Người đồng hành” theo tiếng Latinh là người cùng bẻ bánh với chúng ta. Chúng ta hãy nhìn chung quanh chúng ta, ai là người đồng hành qua sa mạc khắt khe này? Chúng ta sẽ bẻ bánh và chia với ai? Chúng ta cần bánh gì? Bánh của tình thương, của sự hiểu biết, của sự nâng đỡ v.v… Hay những người đó cần bánh phần xác, cần nhà ở, cần việc làm, cần nơi nương tựa v.v… Chúng ta có thể chia với họ “Bánh Hằng Sống” như thế nào?
(Chuyển ngữ FX Trọng Yên, OP)
Lm. Jude Siciliano, OP
Lm Jude Siciliano OP