dongcong.net
 
 

Suy Niệm và cầu nguyện

Kính Chúa và yêu người
Lm Jude Siciliano, OP 11/1/2012

CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN – B
Đệ nhị Luật 6: 2-6; Thánh vịnh 18; Do Thái 7: 23-28; Máccô 12: 28b-34


KÍNH CHÚA VÀ YÊU NGƯỜI

Trong Tin Mừng chúng ta thường nghe các kinh sư liên kết với các Pharisêu, thượng tế và trưởng lão để bắt bẻ Đức Giêsu (Mc 11,27). Nhưng hôm nay, chúng ta lại gặp một kiểu kinh sư khác. Ông đến để hỏi Đức Giêsu, “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu?” Khi Đức Giêsu trả lời thì ông kinh sư lại khen: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng.” Trong Lề luật, các Rabbi đếm được 613 điều, và vì thế, các cuộc bàn cãi và tranh luận được giải quyết xung quanh việc phân biệt rõ ràng giữa điều răn “nặng” và “nhẹ”. (cũng giống như phân biệt giữa tội nặng và tội nhẹ).

Đức Giêsu bắt đầu trả lời với mệnh lệnh, “Nghe đây, hỡi Israel,” và đưa ra ba trích dẫn (Đnl 6,4-9, 11,13-21; Ds 15,37-41), ba lời trích dẫn này vốn tạo nên các lời cầu nguyện mà những người Dothái nhiệt thành vẫn đọc mỗi ngày ba lần. Đức Giêsu không giới thiệu cho chúng ta một Thiên Chúa mới toanh, nhưng là Thiên Chúa của Israel. Đức Giêsu mời gọi chúng ta hãy yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa với tất cả tâm trí, vì Người là Thiên Chúa duy nhất. Một số người lấy làm ngạc nhiên khi thấy có sự phân biệt giữa “Thiên Chúa Cựu ước” và “Thiên Chúa Tân ước”, tựa như Thiên Chúa có sự phân chia về phẩm tính của mình, hoặc có hai bản tính khác nhau! Những người Dothái nghe Đức Giêsu đã nhận ra Thiên Chúa, Người cũng dẫn dắt chúng ta. Cùng với anh chị em Dothái, chúng ta được mời gọi yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi.” Nói cách khác, yêu mên Thiên Chúa với bằng con người, không loại trừ, không do dự!

Câu trả lời của Đức Giêsu cho vị kinh sư là một đoạn quen thuộc đối với các Kitô hữu. Thậm chí đối với những ai không tinh thông về Kinh thánh cũng có thể trích dẫn câu trả lời này gần như đúng nguyên văn. Câu trả lời nằm ngay trong trí nhớ chúng ta và gắn ta với những giáo huấn của Đức Giêsu. Có thể đây là lý do khiến chúng ta không thấy nhiều chỉ dẫn liên quan đến tình yêu đối với Thiên Chúa trong Tân ước. Thông thường Tân ước nói về nhận biết, tin và suy phục Thiên Chúa.

Sau khi trích dẫn “điều răn thứ nhất,” Đức Giêsu trích dẫn sách Lêvi (19,18b) rằng: “Ngươi phải yêu thương người thân cận như chính mình.” Vì khi quan tâm, bảo vệ và có thể yêu thương chính mình, thì chúng ta mới thể hiện tình yêu đó đối với người thân cận. Trong những bản văn Hípri cổ, “người thân cận” được giới hạn trong một gia đình hay dân tộc. Chúng ta biết thêm về “người thân cận” từ lời dạy khác của Đức Giêsu, đặc biệt là qua dụ ngôn người Samari nhân hậu. Theo đó, Người đã mở rộng ý niệm về người thân cận khi kể đến những người bên ngoài gia đình, dân tộc, thậm chí là kẻ thù nữa (Xc. Lc 10, 29-37).

Tôi nghĩ rằng vị kinh sư chỉ hỏi về “điều răn đầu tiên” thôi. Thế chẳng phải Đức Giêsu lại trả lời cho ông ta hai điều răn đó sao? Đúng vậy, nhưng hai điều răn đó lại được liên kết với nhau bằng cùng một từ “yêu thương”. Chỉ có một điều răn duy nhất: yêu mến Thiên Chúa và người thân cận. Đó là điều răn Đức Giêsu đã dạy. Về giáo huấn này, vị kinh sư đã lắng nghe và trả lời rằng đây là điều răn thật hoàn hảo, điều răn tình yêu quả là “quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ”.

Vị kinh sư đã đặt Đức Giêsu và giáo huấn của Người về nước Thiên Chúa trên cả việc thờ phượng Thiên Chúa trong Đền thờ ở Giêrusalem. Đức Giêsu đã khen ngợi câu trả lời này, không phải vì ông lập lại lời phát biểu của Đức Giêsu, nhưng vì đã nhận ra rằng tình yêu cao hơn hy lễ trong Đền thờ.

Đức Giêsu bảo vị kinh sư rằng: “Ông không còn xa nước Thiên Chúa nữa đâu”. Xa như thế nào? Quả thực, vị kinh sư vừa nhận ra sự trổi vượt trong lời dạy của Đức Giêsu. Câu hỏi được đặt ra là: lúc bấy giờ ông có chấp nhận, trở thành đồ đệ và sống theo điều răn yêu thương như Đức Giêsu đã dạy hay không? Liệu ông có phải là người hâm mộ, tin nhận Đức Giêsu như là vị thầy khôn ngoan và đạo đức, nhưng chỉ dừng lại đó thôi, không tiến xa hơn như những người cùng thời đã làm hay không? Nói cách khác, liệu vị kinh sư đó có thực thi điều mà chúng ta nghe Đức Giêsu truyền dạy cho các đồ đệ của Người thi hành trong những tuần qua là: hãy bỏ lại của cải, phục vụ cộng đoàn và vác thập giá mình mỗi ngày hay không?

Khi chúng ta đã nghe bài đọc hôm nay trong sách Đệ nhị luật, thực sự chúng ta nghe một bài giảng. Cuốn sách được viết ra như một bài giảng của ông Môsê dành cho dân Israel, những người cuối cùng cũng được vào Đất hứa. Ông Môsê được miêu tả là giảng dạy cho dân chúng đang tụ họp tại sông Jordan. Trong sách Đệ nhị luật, ông Môsê dạy bảo dân chúng đừng quên Thiên Chúa, Đấng đã tuyển chọn họ, đưa họ thoát khỏi cảnh nô lệ và bảo vệ họ qua khỏi hành trình dài trong sa mạc. Họ là dân của Thiên Chúa và phải sống xứng với việc Thiên Chúa chọn họ. Dân luôn dễ bị cám dỗ thờ các thần hư ảo. Hành vi và ngôn ngữ của họ phải thể hiện họ là ai – là dân được Chúa tuyển chọn (7,6-11).

Ông Môsê giảng cho dân Israel và bảo họ không bao giờ được quên những gì Thiên Chúa đã thực hiện cho họ, đồng thời kêu gọi họ phải đáp lại ân sủng mà Thiên Chúa đã ban cho bằng cách duy trì mối dây yêu thương với Thiên Chúa. Tình yêu này được diễn tả qua việc vâng phục những gì Thiên Chúa dạy. Thật vậy, giáo huấn ngày hôm nay cho thấy rõ ràng dân Israel phải hoàn toàn kính thờ Thiên Chúa. Nghe có vẻ quen thuộc phải không quý vị? Đức Giêsu mạc khải về Thiên Chúa – ân sủng, Đấng tiếp tục: kêu gọi chúng ta thoát khỏi tình trạng nô lệ, đồng hành với chúng ta qua những hành trình cam go của sa mạc, và cuối cùng đem chúng ta về quê hương tự do. Đức Giêsu nhận thấy tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu của người thân cận chỉ là một điều răn, điều răn đó đòi buộc cả lòng mộ mến và sự tuân phục.

Trong khi sách Đệ nhị luật mô tả dân Israel bình an tiến vào vùng Đất hứa, thì sau này, suốt thời quân chủ, sách được viết về thời kỳ thịnh vượng, khi mà dân chúng đã an cư lạc nghiệp. Thời gian này, họ có được sự yên ổn và hạnh phúc, đồng thời họ lại mơ màng về những hành trình trong sa mạc. Chính khi sống trong sự phồn vinh, dân chúng lại sinh ra lơ là bổn phận phụng thờ, và quên rằng chính Thiên Chúa đã đưa họ vào cuộc sống tiện nghi hiện nay, chứ không phải nhờ vào sức mạnh của họ mà có được. Vì thế, sách Đệ nhị luật được viết ra để thức tỉnh họ và giúp họ tập trung vào Thiên Chúa.

Cuốn sách Đệ nhị luật ra đời trong thời lưu đày ở Babylon, và nhắm đến những người đã kinh nghiệm về sự mất mát lớn lao. Bấy giờ, vì cảnh tha hương, nên thông điệp là một trong những niềm cậy trông và hy vọng cho họ. Đó chẳng phải cũng nói cho chúng ta hay sao? Những khi thuận lợi, chúng ta lại quên Thiên Chúa và sự săn sóc của Người dành cho chúng ta trước đây. Lúc khó khăn, chúng ta lại đánh mất niềm hy vọng và cần được nhắc nhở về ý Thiên Chúa muốn và chúng ta có thể bắt đầu lại.

Sách Đệ nhị luật nói với con người cả trong hoan lạc lẫn đau thương, và cho chúng ta biết rằng, “Đừng quên Thiên Chúa của ngươi và những việc mà Người đã làm cho ngươi. Ngươi hãy yêu mến Thiên Chúa và ghi lòng tạc dạ”. Chính Thiên Chúa là trung tâm của toàn bộ Sách thánh và là trọng tâm của cuộc đời chúng ta.

Tháng 11 cũng là tháng chúng ta nhớ về những ai đã ra đi trước chúng ta. Tuần trước, tôi ngồi ghi lại danh sách thân nhân và bạn bè đã an nghỉ giấc ngàn thu. Bởi vì, tôi muốn tưởng nhớ đến họ cách đặc biệt trong tháng này. Danh sách này sẽ còn dài thêm – nó nhắc chúng ta về ngày chết của riêng mình.

Ý thức mọi vật sẽ qua đi khiến chúng ta thắc mắc về di sản đạo đức của mình. Chúng ta sẽ để lại cái gì cho con cháu và thế hệ mai sau? Liệu chúng có nhớ một tình yêu phong phú và tràn đầy mà chúng ta dành cho Thiên Chúa cũng như người thân, hoặc có nhớ đến cách chúng ta thể hiện tình yêu đó hay không? Hiện nay, chúng có đang cảm được tình yêu đó bằng ngôn từ và hành động không? Chúng có biết rằng yêu Thiên Chúa và yêu người thân cận là giá trị căn bản của đời sống chúng ta hay không?

Ngày nay Đức Giêsu mời gọi chúng ta nhận ra rằng chỉ một mình Thiên Chúa là Chúa chúng ta. Chỉ một mình Thiên Chúa mới làm cho cuộc sống có ý nghĩa, và vì thế chúng ta phải yêu mến Thiên chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực. Và khi sống trong tình yêu đó, chúng phải yêu thương chính mình và yêu thương nhau. Không có gì lớn hơn tình yêu đằm thắm này. Dạy cho thế hệ trẻ biết về Thiên Chúa yêu thương là món quà vĩ đại nhất mà chúng ta để lại cho chúng.

Chuyển ngữ : Anh em HV Đaminh Gò Vấp

31st SUNDAY IN ORDINARY TIME (B) -
Deuteronomy 6: 2-6; Psalm 18; Hebrews 7: 23-28; Mark 12: 28b-34

In the Gospels we are used to hearing the scribes teamed up with the Pharisees, chief priests and elders to confront Jesus (11:27). But today we meet a different kind of scribe. He comes inquiring of Jesus, "Which is the first of all the commandments?" When Jesus responds to him the scribe compliments Jesus, "Well said teacher." In the Torah the rabbis counted 613 commandments and so discussions and debates resolved around the distinction between "heavy" and "light" commandments. (It sounds a bit like the distinction between mortal and venial sins.)

Jesus began his response with the command, "Hear, O Israel...," and draws from three quotations (Deut 6:4-9, 11:13-21; Num 15:37-41), which constitute the prayers still said three times a day by pious Jews. Jesus didn’t introduce us to a brand-new God, but the God of Israel. He calls us to love and worship God with our whole being, as the one and only God. Some people make strange distinctions between the "Old Testament God," and the "New Testament God" – as if God has a split personality, or two different natures. Jesus’ Jewish audience would have recognized the God he directs our attention to. Along with our Jewish brothers and sisters, we are called to love and worship God with "all your heart, with all your soul, with all your mind, and with all your strength."In other words, to love God with our whole being – no exceptions, no holding back!

Jesus’ response to the scribe is a familiar passage to Christians. Even those who are not very versed in the Bible probably can quote it more or less verbatim. It is fixed in our memory and ties us to Jesus’ teachings. Perhaps that is why there are not many other references to love for God in the New Testament. Usually the New Testament speaks of knowing, believing and obeying God.

After quoting the "first commandment," Jesus quotes from Leviticus (19:18b), "you shall love your neighbor as yourself." As we care for, protect, and presumably love ourselves, so we should show that same love towards neighbor. In the ancient Hebrew texts the understanding of "neighbor" is limited to one’s family or people. We know from Jesus’ other teachings, especially his parable of the Good Samaritan, that he has widened the notion of neighbor to include the outsider and even the enemy (Luke 10:29-37).

I thought the scribe asked for the "first of all the commandments." Didn’t Jesus just give him two? Yes, but they are linked by the same word, "love." It is the one commandment, love for God and neighbor, that Jesus teaches. The scribe gets it and responds that this dual-faceted, one commandment of love, "is worth more than all burnt offerings and sacrifices."

The scribe has just placed Jesus and his teachings about the kingdom of God, over even the worship paid God in the Temple in Jerusalem. Jesus compliments the man’s response – not the repetition of Jesus’ own statement, but the recognition that love surpasses even sacred Temple sacrifices.

Jesus tells the scribe that he is "not far from the kingdom of God." How far? Well, he has just recognized the superiority of Jesus’ teaching. The question is: will he now accept, become a follower and live out the commandment of love Jesus just gave him? Or, will he just be an admirer, crediting Jesus with being a wise and great religious teacher, and go no further, as so many of our contemporaries do? In other words, will the scribe do what we have heard Jesus instructing his followers to do these past weeks: leave riches behind, be servant to all and take up their cross daily?

As we listen to today’s reading from Deuteronomy we are in fact hearing a preaching. The book is written as if it were a sermon given by Moses to the Israelites, who are finally about to enter the Promise Land. Moses is depicted as preaching to the people gathered at the Jordan. In Deuteronomy he instructs the people not to forget the God who had elected them, brought them out of slavery and sustained them through their long desert journey. They are God’s people and must live up to God’s choice of them. The people were always in danger of falling back to worshiping false gods. Their words and actions must reflect who they are – God’s chosen (cf. 7:6-11).

Moses preaches to the Israelites and tells them they are never to forget what God has done for them and to respond to the grace God has bestowed on them by remaining in a relationship of love with their God. This love is expressed by obedience to what God asks. It’s clear from today’s injunction that Israel’s devotion to God must be total. Sound familiar? Jesus reveals the God-of-grace who continues to: call us out of slavery, travel with us through the arduous journey of our own deserts and finally bring us home to freedom. Jesus saw love of God and love of neighbor as one commandment, which requires total devotion and observance.

While the Book of Deuteronomy describes the Israelites poised to enter into the Promise Land, it was written later, during the period of the monarchy, a prosperous time when the people had grown settled and complacent. They had the security and well-being they daydreamed of during the desert travels. As it is with prosperity, the people grew slack in their religious fervor and forgot it was God, not their own strength, that had gotten them to their present, comfortable life. So, Deuteronomy was written to shake up their consciousness and bring God back into focus.

The final edition of Deuteronomy came during the Babylonian exile and was addressed to the people who had experienced great loss. Now, for these exiles, the message is one of hope and new possibilities. Isn’t that the way it is for us? In good times we can forget God and God’s past care of us. In hard times we can lose hope and need to be reminded what God wants for us and can do again.

Deuteronomy addresses people in both comfort and distress and tells us, "Don’t forget your God, and what God did for you. Love the God you remember with all your being." This is the God who is at the center of our Bible and who should be at the center of our lives.

For us in the northern parts, November is a month that reminds us of the passings and dyings we have experienced. The season is turning cold; the earth is being stripped of its color. It’s a time when we remember our dead as well. Last week I began to make a list of family and friends who have died. I want to remember them in a special way this month. The list keeps getting longer – it is a reminder of the passing of our own days.

This awareness of things passing raises some questions about our legacy. What is it that we are leaving for our children and the next generation? Will they remember the full and rich love we had for God and our neighbor, and the many ways we expressed that love? Are they now experiencing that love by our words and actions? Do they perceive that love of God and love of neighbor is the fundamental value of our lives?

Today Jesus invites us to see that God alone is our God. God alone gives meaning to our lives and so we are to love God totally – all of our heart, soul, mind and strength. And living in that love, we are to love ourselves and one another. Nothing is greater than this embracing love. To teach our young ones about this God is the greatest gift we can leave them.

 

Lm Jude Siciliano OP

 

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)