Chia sẻ của LM Jude Siciliano, OP
CHÚA NHẬT XV TN -C- 14-07-2013
Đệ nhị Luật 30: 10-14; Tvịnh 69; Côlôsê 1: 15-20;
Luca 10: 25-37
Lm. Jude Siciliano, OP
Câu chuyện về người Samarita nhân hậu là một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất trong Kinh thánh. Thậm chí những không đọc Kinh thánh cũng biết “người Samarita nhân hậu” là gì. Trong thế giới luật pháp có “luật người Samari nhân hậu,” luật này yêu cầu bảo vệ hợp pháp với những ai giúp đỡ chính đáng cho người khác khi người đó bị thương tích, đau yếu hoặc trong những tình cảnh hiểm nghèo. Luật người Samarita nhân hậu này nhằm khuyến khích người khác trợ giúp những ai lâm cảnh hoạn nạn.
Dụ ngôn về người Samarita nhân hậu được thuật lại do một người kể chuyện điêu luyện và câu chuyện có những nét đặc biệt của một “chuyện kể hay.” Một số đặc điểm của câu chuyện hay được chứng thực qua việc sử dụng sự tái diễn, việc chú ý đến chi tiết và một cụm từ được lặp đi lặp lại để tạo ra sức ảnh hưởng có ấn tượng. So với những yếu tố khác, thì những yếu tố này là nét đặc trưng của một dụ ngôn. Ví dụ, bên cạnh những nét đặc trưng gây ấn tượng và khung cảnh khắc nghiệt của câu chuyện, dụ ngôn còn có một cụm từ được lặp đi lặp lại, đó là một hiệu quả hùng hồn.
Chúng ta được nghe kể hai lần rằng cả hai vị kinh sư và Lêvi, khi thấy người đàn ông dở sống dở chết, đều “tránh sang một bên mà đi.” Thật là một cú sốc đối với những thính giả của Đức Giêsu! Hai nhân vật đạo đức, những vị mà người khác mong đợi sẽ dừng lại để cứu giúp, nhưng rồi lại đi qua. Không những thế, họ còn “tránh qua bên kia” mà đi, như thể hai vị này tỏ một thái độ lạnh nhạt giữa mình và nạn nhân đang đau khổ quằn quại kia. Vào thời Đức Giêsu, tất cả mọi người quá quen thuộc với những vụ hành hung xảy ra dọc đường từ Giêrusalem đến Giêrikhô. Vậy, dụ ngôn của Đức Giêsu kể về một trong nhiều nạn nhân dọc con đường nguy hiểm đó. Vì thế, những ai nghe câu chuyện trên đây đều có thể hiểu tại sao hai người lữ hành đơn độc kia lại vội vã khi đi qua nơi này, vì những kẻ tấn công có thể vẫn còn ẩn nấp đâu đó, và đang chờ thời cơ để ra tay với nạn nhân khác.
Chúng ta cũng nghe nhiều về những câu chuyện bi thảm của người gặp đau khổ. Truyền thông đã cho chúng ta biết nhiều về nỗi đau trên toàn thế giới, như hậu quả của những cơn bão, lụt lội và cháy rừng, điển hình là nạn cháy rừng vừa xảy ra tại tiểu bang Arizona – Mỹ, cướp đi sinh mạng của 19 lính cứu hỏa. Chúng ta còn nghe nhiều câu chuyện đau thương khác xảy ra, không chỉ vì thiên tai, mà còn hậu quả từ những kẻ tàn bạo giáng xuống cho người khác. Con đường từ Giêrusalem đến Giêrikhô có nhiều đau khổ, như nội chiến, những xung đột diễn ra khắp nơi trên thế giới; tình trạng bất ổn ở Aicập; những vụ ném bom bên đường ở Afghanistan; các cuộc tấn công tự sát ở Iraq; và chúng ta không thể quên được nỗi kinh hoàng trong quá khứ về cuộc tàn sát và thủ tiêu của người Khơme đỏ đã gây ra cho hơn 1 triệu người Campuchia.
Quá nhiều nỗi kinh hoàng gợi lên trong tâm trí chúng ta những câu hỏi: Con người với nhau sao lại để cho những đau thương này xảy ra? Những người nhân hậu đâu cả rồi? Tại sao họ không kêu gào lên và ra tay hành động? Tại sao con người lại giữ thái độ thơ ơ lạnh nhạt với người khác như thế? Nên chăng phải để cho người ngoài cuộc không quá ngây ngô trong khi kẻ khác đang lâm vào cảnh thừa chết thiếu sống như vậy?
Mới đây Johanna Vos đã qua đời. Trong thời gian Chiến tranh thế giới II, bà và người chồng của mình là Art đã đánh cược mạng sống của mình khi cho những người hàng xóm Dothái trốn khỏi cơ quan mật vụ Đức quốc xã. Họ và những người khác có hành động anh hùng tương tự đều được biết đến như những “vị cứu tinh.” Những “vị cứu tinh” này là những con người bình thường, mà họ lại lấy sự mạo hiểm lớn lao để cứu các nạn nhân “bên đường.” Người ta ước tín khoảng 500.000 người Dothái được cứu sống nhờ những “vị cứu tinh” trong những ngày kinh hoàng đó.
Một cuộc nghiên cứu được thực hiện về những người như các “vị cứu tinh” này. Câu hỏi được đặt ra là: điều gì làm cho họ liều lĩnh như thế? 50 năm sau, khi được hỏi đến lý do tại sao liều lĩnh cứu người như vậy, thì Johanna và Art trả lời với một cung giọng hết sức bình thường rằng: “Chúng tôi không suy nghĩ gì về việc mình làm. Chúng tôi làm những việc mà bất cứ người nào cũng đều có thể làm.” Nhưng chẳng may, lịch sử lại không xác nhận về việc làm đó; lại có quá nhiều người vẫn còn là người bàng quang khi kẻ khác đang lâm vào cảnh nguy nan. Họ không dám băng qua bên kia đường để ra tay cứu giúp kẻ gặp nạn.
Cuộc nghiên cứu kết luận rằng: những vị cứu tinh đến từ tất cả mọi tầng lớp con người, họ là những người có giáo dục hay không có giáo dục, giàu hay nghèo, những người có niềm tin hay vô thần. (Đó là những thực trạng của người Samarita, những người Dothái bị trấn lột, và bên ngoài vỏ bọc của những người đạo đức tuân thủ luật pháp). Những vị cứu tinh là những người theo chủ nghĩa cá nhân; trong khi những người khác lại chạy theo nhu cầu của xã hội, họ không biết ngượng ngùng về những việc mà người khác mong đợi họ làm. (Gia đình, bạn bè và xã hội có thể gây ra áp lực và ngăn cản những hành động tốt.) Hơn nữa, nhiều vị cứu tinh có lịch sử về những việc làm tốt, như: thăm hỏi những người trong bệnh viện; sưu tầm sách báo cho sinh viên nghèo; chăm sóc những động vật đi lạc, v.v… Bản báo cáo về những vị cứu tinh cho hay rằng: “Họ đơn thuần là có thói quen làm việc tốt. Vì vậy, khi có một nhu cầu nảy sinh, họ thường xuyên đáp ứng.”
Những ai giúp đỡ cho người tuyệt vọng trong chiến tranh thì đều có ý thức về sự “phổ quát.” Họ không nhìn thấy những người Dothái như thể là người Dothái ưu tiên, nhưng nhìn thấy đó là con người. (Người Samarita trong câu chuyện không nhìn thấy người Dothái hay người Samarita bên vệ đường, nhưng đã nhìn thấy một người bị nạn.) Sau cùng, các cuộc phỏng vấn với những vị cứu tinh chứng tỏ họ tin rằng, ân sủng của lòng tốt sẽ qua đi; đó chính là bản tính tự nhiên trong mỗi con người, nhưng nó phải được trau dồi và nuôi dưỡng. (Điều này khuyến khích chúng ta phải nêu gương cho con cái về việc chăm sóc người khác, đặc biệt đối với những cá nhân nằm bên lề xã hội.)
Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Vò Vấp
15th SUNDAY -C- July 14, 2013
Deuteronomy 30: 10-14; Psalm 69; Colossians 1: 15-20; Luke 10: 25-37
by Jude Siciliano, OP
The story of the Good Samaritan is one of the best known in the Bible. Even people who don’t read the Bible know what a "good Samaritan" is. In the legal world there are the "good Samaritan laws," which offer legal protection to people who give reasonable assistance to those who are injured, ill or in perilous situations. These good Samaritan laws are meant to encourage people to offer assistance to those in need.
The parable of the good Samaritan was told by a master storyteller and has the qualities of a "story-well-told." Some of the marks of a good story are evidenced in its use of repetition, attention to detail and a phrase repeated for dramatic impact. These, among others, are the characteristics of the parable. For example, besides its dramatic features and stark setting, the parable has a phrase that is repeated – with powerful effect.
We are told twice that both the priest and Levite, upon seeing the battered man, "pass by on the opposite side." What a shock to Jesus’ listeners; two religious figures, whom they would expect to stop to give help, pass by. Not only that, but they pass by "on the opposite side" – as if to put distance between themselves and the suffering victim. In Jesus’ time people were all too familiar with incidents of violence happening along the road from Jerusalem to Jericho. So, Jesus’ parable tells about one more victim along that treacherous road. It’s possible then that those who heard the tale might understand why two solitary travelers would hurry by the place, because the attackers might still be lurking, waiting for another victim.
We have also heard many tragic stories of human suffering. The media makes us so aware of worldwide pain, the result of hurricanes, floods and forest fires – like the fire that just happened in Arizona and took the lives of 19 firefighters. We also hear stories of pain inflicted, not only by natural catastrophes, but as a result of the cruelty humans inflict on other humans – the roads from Jerusalem to Jericho are many: civil wars and conflicts around the world; unrest in Egypt; roadside bombings in Afghanistan; suicide attacks in Iraq; and let’s not forget the past horrors of the Holocaust and the slaughter by the Khmer Rouge of over 1 million Cambodians.
So many horrors stir up questions in our minds: How could people let these things happen? Where were the good people? Why didn’t they speak up and do something? Why do people keep a distance? Remain not-so-innocent bystanders while others are in dire need?
Recently Johanna Vos died. During the Second World War she and her husband Art risked their lives in Holland to hide Jewish neighbors from the Gestapo. They and others, who did similar heroic acts, were known as "rescuers." These "rescuers" were ordinary people who took great risks to save the victims "by the side of the road." It is estimated that 500,000 Jews were saved by "rescuers" during those terrible days.
A study was done of people like them. What made them take such risks? When Johanna and Art were asked, fifty years later, their response was quite ordinary-sounding, "We didn’t think about it. We did what any human being would do." But unfortunately history doesn’t bear that out; so many people have remained bystanders when others were in need. They wouldn’t cross over to the other side to offer help.
The study concluded: Rescuers come from all classes of people, educated and uneducated, rich and poor, believers and atheists. (That’s what Samaritans were, fallen-away Jews, outside the pale of the religious observant.) Rescuers were individualists; while other people followed demands of society, they weren’t constrained by what others expected them to do. (Family, friends and society can exert pressures and restrain good deeds.) In addition, many rescuers had a history of doing good deeds: visiting people in hospitals; collecting books for poor students; caring for stray animals, etc. The report about rescuers said, "They just got into the habit of doing good. So when a need arose, they habitually responded."
Many of those who helped the desperate during the war had a sense of "universalism." They didn’t see Jews as Jews first, but as human beings. (The Samaritan in the story didn’t see a Jew or a Samaritan by the side of the road, but an injured person.) Finally, interviews with rescuers showed they believed the gift of goodness could be passed on; that it is natural in every human being, but it must be cultivated and nursed. (This encourages us to set an example for our children of caring for others, especially those individuals outside the box.)
July 12, 2013
Anh em hãy đi và hãy làm như vậy
CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN –năm C-
Đnl 30: 10-14; Tv 69; Cl 1: 15-20; Lc 10: 25-37
Tôi viết một vài suy nghĩ về người Samaritano nhân hậu trong lúc đang chờ ở phòng đợi phi trường vì máy bay trễ 3 giờ. Ước gì hãng hàng không cho tôi biết trước để tôi ở nhà soạn bài giảng này với tiện nghi đầy đủ hơn. Và tôi được dùng bữa sáng nóng hổi, và được đọc báo nữa. Nhờ thế may ra tôi có được vài suy nghĩ về một người Samaritano nhân hậu hợp với thời buổi này chăng!. Trái lại, tôi phải viết trong khi ngồi trên ghế cứng ở phi trường đặt giấy viết trên đùi, không có tiện nghi gì cả. Nhưng dụ ngôn về người Samaritano không liên quan gì đến những điều bất tiện tôi vừa gặp phải, và không có ý gì đến việc phải tử tế với người khác, vì tôi vừa nóng nảy phiền trách với cô nhân viên của hãng hàng không. Và tất cả dụ ngôn đó cũng không nói gì đến việc đi đường hay làm gì trên đường đi. Đây là câu chuyện về người đi đường, và chúng ta tất cả là người đi đường. Dụ ngôn nhắc nhở chúng ta nhớ là chúng ta phải đối đãi với người khác như thế nào trong lúc chúng ta cùng đi đường với họ trong cuộc hành trình dương thế theo ý chỉ của đức tin.
“Người Samaritano nhân hậu” đó là một cụm từ để khen ngợi một người nào. Ai được gọi là Người Samaritano nhân hậu là chúng ta biết ngay là người đó có lòng thương cảm với người lạ đang cần được giúp đỡ, mặc dù phải tốn kém cho mình. Nhưng, lẽ cố nhiên, đối với người Do Thái, người Samaritano là những người không tốt, và họ bị xem là kẻ thù địch. Và cả hai bên đều không ưa nhau. Hai dân tộc thù nhau từ bao nhiêu thế hệ. Và những người Do Thái đang nghe Chúa Giêsu kể dụ ngôn này đều không cần nhắc đến việc đó. Đối với họ dụ ngôn này không làm họ hài lòng. Dụ ngôn này trở nên một cú sốc làm cho những người nghe suy nghĩ lại về những thành kiến họ đã có từ trước đến nay.
Người thông luật muốn biết ông “phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Ông ấy không muốn biết những chuyện gì xa lạ, nhưng chỉ muốn biết điều gì giúp ông có được sự sống trong liên hệ mật thiết với Thiên Chúa ngay từ bây giờ, một liên hệ mà ngay cả sự chết không phá huỷ được. Chúng ta nhận thấy câu trả lời cho ông ấy không chú trọng đến Thiên Chúa. Người Do Thái tốt đạo nào cũng biết thương yêu là gì. Và câu trả lời nói về thương người lân cận đều đã có sẵn trong kinh thánh (Đnl 6:4 và Lv 19:18). Điểm chính của dụ ngôn là “ai là người thân cận của tôi?” Và đó cũng là câu hỏi đối với cả chúng ta nữa?
Bài Phúc âm hôm nay nằm trong Phúc âm thánh Luca nói về “những chuyện xảy ra trên đoạn đường lên Jêrusalem” (9:51-19:27). Câu chuyện này bắt đầu khi Chúa Giêsu bắt đầu thay đổi vì “Ngài hướng về Jêrusalem” (9:51). Thánh Luca cho chúng ta thấy Chúa Giêsu biết trước việc Ngài sẽ gặp. Trước câu chuyện này, Chúa Giêsu gọi 72 môn đệ ra đi rao giảng (10:1). Các ông trở về mừng rõ vì đã được thành công (10:17-20). Chúa Giêsu cảm tạ Thiên Chúa vì sự mạc khải đã đến với các “người bé mọn”, là môn đệ (10:21-22), và Chúa Giêsu chúc lành cho họ (10:23-24). Đến đây thì câu chuyện người thông luật xảy đến để hỏi Chúa Giêsu về sự sống đời đời và chúng ta nghe câu trả lời của Chúa Giêsu. Câu chuyện Chúa Giêsu gặp người thông luật, và dụ ngôn kế tiếp là những lời nói của những người đi đường. Chúng ta, những người tin nghe Chúa Giêsu hãy tự hỏi xem chúng ta đối với những người cùng đồng hành với chúng ta như thế nào, hoặc đối với những kẻ đi ngược đường với chúng ta?
Khi người thông luật hỏi “Ai là người thân cận của tôi?”, ông ấy nghĩ là câu trả lời chắc sẽ là: người thân cận anh là bất kỳ người Do Thái nào. Câu trả lời như vậy sẽ chỉ rõ cho ông ta biết lề luật tôn giáo về sự yêu thương là như thế nào. Nhưng, Chúa Giêsu muốn đem hình ảnh người Samaritano ra làm câu trả lời cho người thông luật. Cho dù người bị thương năm kia có thuộc về giới “người thân cận” hay không. Điểm chính là Chúa Giêsu muốn chúng ta hãy làm như người Samaritano đã làm là: Hãy trở nên người thân cận bằng các săn sóc người cần sự giúp đỡ vì lòng bác ái. Điểm quan trọng là: tôi không còn vai vế nào trong xã hội cả?, và người cần tôi giúp đó là bất cứ ai?
Người thông luật muốn Chúa Giêsu nói rõ người thân cận là ai, nhưng, trái lại, Chúa Giêsu nói là không cần nói đến người mình giúp đỡ, mà phải nói đến người giúp đỡ: người Samaritano là người chính trong việc giúp đỡ. Ông ta là người biết yêu thương, và chúng ta cũng hãy làm như vậy. Rốt cuộc câu hỏi của người thông luật là câu hỏi sai. Và, có lẽ chúng ta cũng muốn biết yêu thương thế nào mới gọi là đủ. Hãy cho tôi biết ai là người tôi phải yêu thương và lúc nào tôi phải yêu thương họ. Nhưng, “thương người thân cận” không phải là một bài giảng chỉ định về tình thương yêu người khác. Câu hỏi không phải là “ai là người thân cận của tôi?”, nhưng là “tôi là người thân cận của ai?”. Đó là ý Chúa Giêsu khi Ngài hỏi “vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”… “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”. Từ “thân cận” chỉ sự liên hệ mật thiết. Thiên Chúa làm tất cả mọi người trở nên là người “thân cận” của chúng ta, và câu trả lời của chúng ta với Chúa là con sẽ trở nên người thân cận của người cần được giúp đỡ.
Trên đường đi lên Jêrusalem Chúa Giêsu có nhiều điều để dạy các môn đệ. Một điều Chúa Giêsu dạy các ông là: Jêrusalem sẽ là nơi Ngài chịu khổ hình và chịu chết. Trên đường lên Jêrusalem, Chúa Giesu muốn cho chúng ta biết là chúng ta phải sẵn sàng hy sinh mạng sống chúng ta vì sứ vụ và tình thương. Đó là tất cả những gì mà dụ ngôn hôm nay dạy chúng ta. Người theo Chúa Giêsu phải là người như thế nào? Làm sao chúng ta biết được người đó? Người theo Chúa Giêsu thật sự là người đáp lời ngay khi gặp người cần được giúp đỡ, không so đo xem họ có tiền không, có bằng cấp gì, ăn mặc ra sao, con người đó đi học trường nào, hay người đó thuộc quốc tịch nào, và thuộc nước nào v.v…?
Hôm nay trong phụng vụ chúng ta nghe dụ ngôn người Samaritano nhân hậu. Chúng ta có tạm dừng những thói quen đố kỵ trong làm việc, trong học hành, hay vui chơi trong gia đình như dụ ngôn. Trong đó nhấn mạnh những việc Chúa đã làm, đó là việc tốt dành cho những ai đã lãnh nhận đức tin qua bí tích Thánh Thể, đó là đem Chúa Giêsu đến như người Samaritano. Hôm nay khi chúng ta ra về Chúa Giêsu nói với chúng ta “anh em hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”. Trong phụng vụ chúng ta xin Thiên Chúa cho chúng ta “lương thực hàng ngày” và lương thực đi đường đến những nơi cần chúng ta giúp đỡ để trở nên người “Samaritano nhân hậu”.
Chuyển ngữ: FX Trọng Yên, OP
Lm. Jude Siciliano, OP
LM. Jude Siciliano, O.P.