dongcong.net
 
 

Chia sẻ của LM Jude Siciliano, OP


Chúa Nhật XIX THƯỜNG NIÊN -C-2013
Khôn ngoan 18: 6-9; T.vịnh 33; Do Thái 11: 1-2, 8-19; Luca 12: 32-48

HÃY SẴN SÀNG VÀ TRUNG THÀNH

Tuần rồi chúng ta đã nghe về dụ ngôn người khờ dại giàu có, ông ta đã phá kho thóc của mình để xây những kho thóc khác lớn hơn nhằm chuẩn bị cho mùa gặt bội thu. Đức Giêsu gọi ông và những người như ông là kẻ khờ dại, vì họ “thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa” (Lc 12,21).

Hôm nay chúng ta trở lại nói chuyện về tiền bạc và của cải. Đức Giêsu hướng dẫn chúng ta cách thức sở hữu “một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời,” kho tàng đó không bị hủy diệt và hư nát được. “Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí.” Sự quan tâm của Đức Giêsu đến người nghèo khổ và kẻ bị áp bức diễn ra xuyên suốt Tin mừng theo thánh Luca. Trong bài diễn văn khai mạc tại hội đường Giêrusalem (4,14), Đức Giêsu trích dẫn từ sách ngôn sứ Isaia và công bố rằng tôi được sai đến “để loan báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,18). Quyền năng chữa bệnh của Người đã cứu giúp người nghèo khổ, kẻ bị áp bức và những ai bị xã hội xa lánh, đó là những người phong hủi, người phụ nữ bị băng huyết, người phụ nữ ngoại tình, kẻ chết, v.v...

Những phép lạ và lời giảng dạy của Đức Giêsu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của người nghèo đối với các môn đệ. Như hôm nay chúng ta đọc thấy rằng, những người theo Đức Giêsu được tách ra khỏi tài sản, “Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí.” Người chọn các môn đệ từ những người nghèo và những kẻ vô gia cư, rồi sai họ đi làm sứ vụ, không tùy thuộc vào gia tài của chính họ, nhưng vẫn bảo đảm rằng Chúa Cha đã ban cho họ nước trời. Không giống như người khờ dại giàu có trong Tin mừng tuần trước, những ai theo Đức Giêsu đều thực sự “giàu có trước mặt Thiên Chúa.”

Đức Giêsu nhắc nhở các môn đệ Người rằng quan tâm đến của cải là khép kín chúng ta lại trước lời mời gọi của Thiên Chúa. “Vì kho tàng của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó.” Khi những người giàu có gia nhập vào Giáo Hội sơ khai, họ đã chia sẻ gia tài của mình để giúp đỡ người nghèo khổ. Đức Giêsu dạy rằng những người giàu có mà gắn bó với của cải nhưng lại xa lánh những người nghèo khó xung quanh họ thì sẽ không ngồi dự trong bữa tiệc cánh chung, chỉ có người nghèo khổ và kẻ bị bỏ rơi mới ngồi dự tiệc đó mà thôi (Lc 14,16-24).

Dụ ngôn ngày hôm nay tập trung vào việc trở lại của Đức Giêsu, cũng như đòi hỏi lòng trung thành và sự sẵn sàng của chúng ta như chúng ta hằng mong đợi. Tất nhiên có vài yếu tố thất thường đối với vấn đề này (điều mà dụ ngôn nào cũng có), vì dụ ngôn đã đưa ra manh mối cho lời giải thích và ngụ ý. Ông chủ đang đi dự đám cưới về. Theo quan điểm về phong tục cưới hỏi thời bấy giờ, ông chủ sẽ trở về cùng với cô dâu. Điều này đã làm cho những hành động của ông chủ càng trở nên ngạc nhiên hơn. Phong tục có nghĩa là cử hành lễ mừng, bữa tiệc tùy thuộc vào việc đôi tân hôn đến. Các đầy tớ sẽ phải được chuẩn bị chu đáo, không chỉ việc ăn nhanh mà còn phải lo tổ chức mừng lớn.

Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ đừng sợ vì những nhu cầu của họ nằm trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Vì thế, Người chuyển qua hối thúc cảnh giác, phục vụ trung thành, chuẩn bị cho việc Người đến như mong đợi và tiếp theo đó là quy tụ lại, theo cách nhìn của dụ ngôn này, tiệc cưới cùng với Thiên Chúa.

Chúng ta có nhiều quan tâm hàng ngày đến việc phục vụ. Cho đến bây giờ người ta không bảo chúng ta là phải gắn bó với của cải, và cũng chẳng cho ta hay là phải phụ thuộc vào của cải để được bảo đảm. Chúng ta không thể nắm giữ bất cứ điều gì mà làm hài lòng mình, vì chúng ta chỉ biết qua kinh nghiệm, bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra. Khi thế giới xoay chuyển trên chúng ta, điều gì sẽ giữ chúng ta không bị chao đảo? Nếu chúng ta đặt quyền ưu tiên và lưu tâm đến đường lối bất ngờ của Đức Giêsu trong cuộc đời mình, thì chúng ta có thể tự tin rằng Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta những gì ta cần. "Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em.” Dường như “đoàn chiên bé nhỏ” của thánh Luca đang sợ hãi và cần được bảo đảm, đồng thời nhắc nhở rằng sự an toàn của họ ở nơi Thiên Chúa. Chúng ta cũng đồng cảnh ngộ như thế.

Nhân đây thánh Luca cũng viết rõ rằng thời gian chung cuộc không đến ngay tức khắc. Trước đó thánh Máccô đã tiên đoán việc trở lại nhanh chóng của Đức Giêsu. Thánh Luca phải nói giảm nhẹ đi về niềm mong chờ cao điểm đó, và vì thế thánh sử tuyên bố khá rõ ràng: Chúng ta không biết khi nào thời sau hết sẽ đến (Lc 19,11). Theo thánh Luca, bây giờ chúng ta đang sống trong thời kỳ của Giáo Hội, như dụ ngôn ngày hôm nay, Giáo Hội đang trong thời kỳ mong chờ cao điểm. Lúc bấy giờ Đức Giêsu quan tâm đến việc các môn đệ sống như thế nào, vì một cộng đoàn đang mong đợi Đức Giêsu.

Chúng ta là ai trong Giáo Hội này? Chúng ta là những người trải qua những thay đổi bên trong của Giáo Hội, và tất nhiên chúng ta đang trải qua những hậu quả của thay đổi đó bằng việc chứng kiến hiện tại và tương lai đang đến trong nước Thiên Chúa. Trong Tin mừng và sách Công vụ, thánh Luca trình bày rõ ràng những điều ám chỉ về Giáo Hội. Thánh sử viết Tin mừng sau ngày Lễ Ngũ Tuần, cùng với sự tiến triển hiểu biết của chính cộng đoàn như; khởi nguồn nơi Đức Giêsu; hoàn tất về niềm hy vọng của dân Israel và cộng đoàn của thời cánh chung.

Giáo Hội sẽ làm gì khi chúng ta mong đợi việc trở lại của Đức Giêsu? Trong những dụ ngôn khác, thánh Luca cho thấy những quyền năng sống động và mạnh mẽ về Lời của Đức Giêsu (Lc 8,4-15). Nên lưu ý rằng Lời có khả năng làm cho các môn đệ trở thành thành viên hoặc có thể loại trừ họ. Cộng đoàn sẽ nghe đi và nghe lại những dụ ngôn như ngày hôm nay, và vì thế những gì chúng ta nghe được sẽ hình thành nên con người chúng ta. Lời sẽ được ủy thác cho cộng đoàn và chính Lời làm thay đổi cộng đoàn như chúng ta nghe rằng: “Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến".

Thần khí đóng một phần quan trọng trong cả Tin mừng và sách Công vụ của thánh sử Luca. Vì chúng ta được trao phó Lời và thử thách để sống và công bố Lời đó cho thế gian, nên chúng ta cần đến sự hướng dẫn của Thần khí. Nếu không có sự hiện diện thường hằng của Thần khí ở giữa chúng ta, thì chúng ta sẽ biết tỉnh thức như thế nào và làm sao để không đánh mất kiên nhẫn khi chờ đợi chú rễ trở lại?

Tỉnh thức và trung thành không phải trong chính chúng ta tạo ra được, đặc biệt trong những lúc khó khăn, khi đó việc từ bỏ dường như là một quá trình chúng ta đang nhắm tới. Người ta nói rằng: “cho thì có phúc hơn nhận.” Nhưng điều đó không đúng đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa cho còn chúng ta thì nhận, ở đây nhận có phúc hơn chứ! Niềm tin và sự tỉnh thức là những ân huệ thuần khiết từ Thiên Chúa. Vì những ân huệ này, chúng ta cần có trách nhiệm và sẵn sàng trở thành người tôi tớ khi Đức Giêsu mời gọi chúng ta. Khi nhận lãnh những ơn huệ của Thiên Chúa, chúng ta phải biết sử dụng và tin cậy vào ân huệ đó theo sự phục vụ của mình.

Bài đọc hai cho thấy cách thức Đức Giêsu hoàn thành lời hứa mà Thiên Chúa đã thiết lập với dân Hipri năm xưa. Theo thánh Luca, lời hứa đó được hoàn thành nơi Đức Giêsu, Đấng đã ban cho chúng ta Thần khí của Người. Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta hãy sẵn sàng chào đón Người và biết mở lòng ra với Người khi Người đến. Thần khí bắt đầu tiến trình đó bằng cách tạo ta một tấm lòng cởi mở và tỉnh thức trong chúng ta.

Dụ ngôn này làm chúng ta ngạc nhiên. Thông thường chúng ta nghĩ rằng những tôi tớ chờ đợi ông chủ và bà chủ trở về, nhưng khi ông chủ này đến, gõ cửa và thắt lưng rồi mời các tôi tớ vào bàn ăn mà phục vụ cho họ. Đức Giêsu nói rằng Đấng Mêsia đến để phục vụ chúng ta chứ không phải để được phục vụ. Trong bữa tiệc Thánh thể này, Đức Giêsu dâng hiến cho chúng ta của ăn và thức uống hảo hạng, đó chính là mình và máu Người. Chúng ta có thể nghe lời mời gọi của Người hãy ngồi xuống mà ăn, không phải vì chúng ta kiếm được nơi ăn chốn ở, nhưng vì đó là ân huệ tình yêu của Người dành cho chúng ta, một tình yêu vĩnh cửu.

Trước khi chúng ta cho hoặc phục vụ ở bàn ăn, thì trước hết chúng ta phải có khả năng đón nhận và cảm kích rằng cuối cùng rồi chúng ta cũng là người đón nhận. Vì thế, lòng tri ân là lời đáp trả xứng hợp của chúng ta tại bàn tiệc của Thiên Chúa. Kế đến, chúng ta cần mở đôi mắt và hai tai để ý thức rằng ai là người cần mời đến ăn và uống, hãy tìm sự che chở và an toàn tại bàn ăn, để rồi chúng ta phải trao ban lại cho họ.

Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Vò Vấp

19th SUNDAY -C-
Wisdom 18: 6-9; Psalm 33; Hebrews 11: 1-2, 8-19; Luke 12: 32-48


Last week we heard the parable of the rich fool who would tear down his barns and build larger ones for his large harvest. Jesus called him, and people like him, fools because they "store up treasure for themselves, but are not rich in what matters to God" (12:21).

We return today to talk about money and treasure. Jesus instructs us how we can have an "inexhaustible treasure in heaven," which is indestructible and not subject to decay. "Sell your belongings and give alms." Jesus’ concern for the poor and oppressed flows throughout Luke. In his inaugural address in the synagogue in Nazareth (4:14ff), he quotes from Isaiah and announces that he has been sent "to bring glad tidings to the poor" (4:18). His healing powers benefit the poor, the oppressed and those shunned by society, lepers, the woman with the hemorrhage, the sinful woman, the dead, etc.

Jesus’ miracles and teaching stress the importance of the poor for his disciples. As we read today, his followers are to be detached from possessions, "sell your belongings and give alms." He chose his disciples from the poor and outcast and sends them on mission, not dependent on their own possessions, but with the assurance that the Father has already given them the kingdom. They are, unlike the rich fool of last week’s gospel, already "rich in what matters to God."

Jesus reminds his disciples that a concern for property closes us to God’s call. "For where your treasure is, there also will be your heart." When wealthy people entered the early church they shared their wealth to help the poor. Jesus taught that the rich, who are attached to their possessions and detached from the poor around them, would not sit at the eschatological banquet – but the poor and outcast would (14:16-24).

Today’s parable focuses on Jesus’ return and the need for our fidelity and preparedness as we wait. It certainly has unusual elements to it, which parables always have, as clues to their interpretation and application. The master is returning from a wedding. In light of the marriage customs of the time, the master could be returning with his bride. This would make the master’s actions even more startling. The custom would mean celebration and feasting upon the couple’s arrival. The servants should have been prepared, not just with a quick bite to eat, but with a major celebration.

Jesus has exhorted his disciples not to be afraid because their needs are in God’s hands. Then he shifts to urging watchfulness, faithful service, preparedness for his expected coming and the ingathering that will follow, in light of this parable, the feast at the wedding banquet with the Lord.

We have many daily concerns to attend to. Still, we are told not to be attached to possessions, or be dependent on them for our security. We can’t take anything for granted because, as we know from our experience, anything can happen. When the world turns upside down on us what will keep us from freefall? If we have set our priorities right, kept our eyes for Jesus’ unexpected entry into our lives, we can have confidence that God will give us what we need. "Do not be afraid any longer, little flock, for your Father is pleased to give you the kingdom." Apparently Luke’s "little flock" was afraid and needed to be reassured and reminded that their security was in God. So do we.

By the time Luke writes it is clear that the end time will not come immediately. Previously Mark anticipated Jesus’ quick return. Luke has to modify that heightened expectation, and so he states quite clearly – we don’t know when the end will come (19:11). For Luke, we now live in the period of the church which, according to today’s parable, is a period of heightened expectation. He is concerned about how disciples live now as we share in waiting for Christ.

Who are we in this church? – people who have experienced an interior change, and are visibly living out the consequences of that change by our witness to the world of the present and future coming of the kingdom of God. Luke is formulating in his gospel and then in Acts, what it means to be church. He is writing after Pentecost, with the community’s growing understanding of itself as: originating in Jesus; being a fulfillment of Israel’s hopes, and a community of the end times.

What should the church be doing as we wait for Jesus’ return? In other parables Luke has shown the dynamic and living powers of the Word of Jesus (8:4-15). Being attentive to that Word qualifies disciples for membership or exclusion. The community would hear, and hear again, parables like today’s and so be formed by what they hear. The community has been entrusted by the Word and also been challenged by it, as we heard today: "You also must be prepared, for an hour you do not expect, the Son of Man will come."

The Spirit plays an important part in Luke’s gospel and his sequel the Acts. Since we are entrusted with the Word and challenged to live and proclaim it to the world, we need the Spirit’s guiding presence. How else will we know how to stay vigilant, and not lose heart as we wait for the return of the bridegroom, unless by the Spirit’s constant presence in our midst?

Vigilance and fidelity are not ours to manufacture, especially in hard times when giving up seems like a practical course of action. It is said, "It’s better to give than receive." But that’s not how it is with God. God gives and we receive – that’s better! Faith and vigilance are pure gifts from God. Because of these gifts we can be the responsible and alert servants Jesus calls us to be. Having received God’s gifts we use them and rely on them in our service.

Our second reading shows how God fulfills the promise God made to the Hebrews. For Luke, that promise is fulfilled in Jesus who has given us his Spirit. The Lord asks us to be ready to welcome him and open our hearts to him when he comes. The Spirit has begun that process by creating a vigilant and welcoming heart in us.

The parable surprises us. Normally we expect servants to wait on masters and mistresses, but when this master comes and knocks he hitches up his robes and invites the servants to the table and then serves them! The Messiah has come, Jesus says, to serve us and not be served. At this Eucharist he offers the best food and drink for us – his own body and blood. Can we hear his invitation to sit down and eat, not because we have earned room and board, but because it’s a gift of his love for us – an everlasting love.

Before we can give – serve at the table – we need to first be able to receive and to appreciate that we are on the receiving end. Then gratitude is our appropriate response at the table of the Lord. Next, we keep our eyes and ears open to notice who needs an invitation to eat and drink, find shelter and safety at the table – which we must provide for them.

 

 

Đức Giêsu trở lại với người thức tỉnh và đợi chờ

CHÚA NHẬT 19 THƯỜNG NIÊN C

Khôn ngoan 18: 6-9; Tv 33; Dt 11: 1-2, 8-19; Luca 12: 32-48

ĐỨC GIÊSU VẪN TRỞ LẠI MỖI NGÀY VỚI NHỮNG AI THỨC TỈNH VÀ ĐỢI CHỜ

Không phải khoe khoang, nhưng như phần nhiều anh chị em, tôi cũng thường xuyên đọc Tin mừng. Tôi dùng Tin mừng để cầu nguyện và luôn giảng lời Sách thánh. Tôi đã làm như thế trong nhiều năm, nhưng thú thật, tôi không bị tác động gì nhiều từ bài dọc một trích sách Khôn ngoan. Nếu có, chắc tôi sẽ bối rối và cần được giúp đỡ. Có lẽ anh chị em cũng vậy. Nếu điều này đúng với cả anh chị em và cả tôi nữa thì tôi chắc là cộng đoàn chúng ta sẽ chia sẻ vấn nạn này khi nghe bài đọc một. Đoạn văn này bắt nguồn từ đâu? Nói về cái gì? Và nó liên hệ đến đời sống của chúng ta ra sao?

Thường thì tôi sẽ không chọn giải pháp đọc những dẫn giải Kinh thánh ngay, nhưng thường cố lắng nghe thông điệp từ những tác động bên ngoài. Nhưng hôm nay, tôi phải sử dụng đến quyển hướng dẫn Thừa tác viên Lời Chúa, Độc giả Tin Mừng và Người công bố Lời” (Chicago: Liturgy Training Publication, 2010) khi soạn bài giảng lễ Chúa Nhật. Trong những quyển sách đó có những đoạn chú giải ngắn gọn về các bài đọc và tôi thường thấy khá hữu ích, nhưng với bài đọc hôm nay thì quả thật lại là một thách đố. Quả vậy, Quyển hướng dẫn Thừa tác viên Lời đề nghị đọc bản Tin mừng trước để có thể hiểu rõ bài đọc một hơn. Tôi chọn cách làm ngược lại: đọc bản văn này trước khi bước vào “lãng địa Kitô giáo” với bài Tin mừng.

Tác giả sách Khôn ngoan lấy lại một biến cố quá khứ, việc Chúa giải cứu dân Israel ra khỏi ách nô lệ Ai Cập (đêm vượt qua) và diễn giải nó cho thế hệ tín hữu mới của thế kỷ thứ I. Chúa đã đưa ra một lời hứa (lời “thề”) với cha ông họ (mà bài đọc trích thư Do Thái gọi các ngài là “tiền nhân”), những người đang mong chờ sự giải thoát. Họ phải sống trong niềm tin, tin vào lời Chúa hứa, và hy vọng một ngày kia những lời hứa ấy sẽ được hoàn tất. Như thư Do Thái nhắc nhở chúng ta: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy.”

Đức tin chưa đạt tới đích, cũng chẳng có một bằng chứng cụ thể về sự hiện hữu của nó. Cũng vậy, tín hữu có thể thấy những gì chưa thực sự nhìn được bằng mắt vì chúng ta nhìn bằng con mắt đức tin. Cũng chính niềm tin không thể nhìn thấy đó đã giữ vững những tiền nhân mà hôm nay sách Khôn Ngoan ca tụng. Đó cũng là đức tin của con cái của Apraham và Sara, mà thư Do Thái nói với chúng ta, dù họ chết mà chưa được thấy lời hứa của Thiên Chúa được hoàn tất. Cuộc đời của họ kết thúc với một chữ “Amen” đầy tín thác vào Thiên Chúa.

Chúng ta đã biết những người sống niềm tin mà những bản Kinh thánh này nhắc tới; những người đả phải thử thách nghiêm trọng bằng nhiều mất mát và đau thương nơi chính mình hay những người thân yêu. Nhưng dù có phải đối diện với muôn vàn khốn khó, các ngài vẫn không từ bỏ tin tưởng Thiên Chúa. Dù lắm khi những chứng cứ chống lại đức tin đó cứ dâng lên như sóng thủy triều trước mắt họ. Nhưng các ngài vẫn luôn tín thác và chính nhờ đức tin ấy đã cho các ngài “bằng chứng những điều không trông thấy.” Khi chúng ta trải qua những thử thách như thế, thậm chí những gì thân thiết nhất với chúng ta cũng có thể thử thách chính đức kiên cường và niềm tin của chúng ta. Chúng ta không thể đưa ra bằng chứng cụ thể về giá trị đức tin của chúng ta. Chúng ta chỉ tin, như cha ông chúng ta đã tin, vào Đấng đã hứa ở với chúng ta, Đấng mà sách Khôn ngoan đã khẳng định là xứng đáng để chúng ta tin tưởng; và chính “lời hứa” của Ngài cho chúng ta can đảm bước tiếp những bước can đảm trên hành trình đức tin của mình.

Giờ thì chúng ta đã sẵn sàng để bước vào bài Tin mừng. Để cho rõ ràng và đi vào trọng tâm, tôi chọn bài bài ngắn (Lc 12, 35-4o). Bài Tin mừng này kể một dụ ngôn quá đủ cho chúng ta ngày nay!

Dụ ngôn người đầy tớ chờ đợi chủ trở về là sự hoàn tất lời hứa của Thiên Chúa đối với những ai đã chịu gian nan vất vả mà vẫn tin tưởng vào Ngài, những người đã được hai bài đọc trước tán dương. Bài thánh vịnh đáp ca đã tóm tắt như sau: “Hồn chúng tôi trông Đức Chúa là Đấng luôn phù trợ và chở che.” Dụ ngôn cho thấy rằng những ai tin tưởng đợi chờ đã không thất vọng và đã thấy lời hứa cứu độ của Thiên Chúa được hoàn tất nơi sự hiện diện của Đức Giêsu.

Những ai tin tưởng thì “tỉnh thức” khi chủ đến, dù cho phải chờ đợi lâu – dẫu là “nửa đêm hay lúc trời gần sáng.” Thế hệ Kitô hữu đầu tiên, những thính giả của thánh Luca, đã được khích lệ sống tỉnh thức và sẵn sàng để đón Chúa Giêsu trở lại. Đức Giêsu đã hứa với nhữg môn đệ có tinh thần cảnh giác là: khi Người trở lại, những ai hoàn thành bổn phận của mình cách đầy tin tưởng sẽ được chủ chăm sóc chu đáo. Chẳng lẽ anh chị em lại không yêu thích sự đảo ngược vai trò được mô tả trong dụ ngôn: ông chủ vừa mới trở về, đứng chờ bên bàn ăn để phục vụ những đầy tớ trung thành – sự đối đãi lạ thường mà những kẻ đầy tớ chẳng bao giờ có thể nghĩ mình như thế! Vì thế, quy tụ nơi đây để thờ phượng, chúng ta cũng đang cố gắng tin tưởng và tỉnh thức – như dụ ngôn khích lệ. Nhưng chúng ta không phải là những độc giả của thánh Luca. Cũng chẳng phải là cách ngày Đức Giêsu lên trời vài thế hệ, nhưng là 2000 năm! Nên chúng ta hết sức cần một niềm tin mà thư Do Thái đã ca tụng, “Tin là bảo đảm cho những già ta hy vọng, là bằng chứng cho những gì ta không thấy.” Chính đức tin đó và niềm hy vọng mai sau mới giúp chúng ta đủ sức tỉnh thức và đợi chờ Chúa. Chúng ta chưa từ bỏ Người, cũng chẳng phải vì chúng ta nghiến răng chịu đựng và “làm việc kiệt quệ” trong suốt những năm tháng qua. Không, nếu như thế, chúng ta chẳng khác gì những con robot được kiểm tra qua những nghi lễ bên ngoài với những quyết định khắc nghiệt.

Ngược lại, dù chúng ta có chiến đấu dài lâu, dù với tư cách như một giáo hội hay cá nhân, chúng ta vẫn tìm được niềm vui không thể diễn tả và sự tự tin trong niềm tin của chúng ta. Chúng ta cũng hy vọng rằng những gì chúng ta cảm nghiệm bây giờ thì chưa phải là trọn vẹn cuộc sống của chúng ta. Đức Giêsu là Đấng mà chúng ta vẫntrông đợi và chúng ta tuyên xưng Người là Thầy của chúng ta. Trong khi đó, chúng ta được mời gọi tiếp tục hành trình của mình, như Abraham và Sara, “không biết” nơi kết thúc, nhưng tin vào sự hiện diện của Thầy giửa chúng ta, phục vụ chúng ta, như Người thực hiện hôm nay trong hy lễ này, lương thực cần thiết cho chúng ta tiếp tục hành trình.

Làm thế nào chúng ta có thể tiếp tục cố gắng để luôn là những môn đệ tín thác – nhất là những ngày này, không chỉ thế giới, mà cả Giáo hội của chúng ta đang làm chúng ta thất vọng? Chúng ta tiếp tục, chúng ta là Giáo hội của đức Kitô vì, những gì đức Giêsu nhắc đến trong dụ ngôn đã xảy đến. Người đã ngự đến trong Thánh Thần của Người, và đã “lẻn vào” trong nhà chúng ta. Quả là đức Giêsu đã dùng một hình ảnh thật tuyệt vời để nhấn mạnh đến việc trở lại bất ngờ của Người: Người giống như một kẻ trộm lén lút. Chúng ta cần phải tỉnh thức. Hãy thực hành một sự tỉnh thức đặc biệt trong tuần này – để xem chúng ta có thể bắt được “kẻ trộm” lẻn vào cuộc sống của chúng ta và khiến chúng ta ngạc nhiên hay không.

Vậy chúng ta sẽ thấy điều gì? Làm sao chúng ta biết lúc “kẻ trộm” lẻn vào? Hãy tìm kiếm sức mạnh lạ lùng trong giây phút khủng hoảng. Hãy chờ đợi một niềm vui ẩn sâu bên dưới những công việc thường ngày. Hãy đợi chờ sự bất ngờ, có thể là một bữa tiệc với người thân yêu hay bạn cũ. Hãy chờ có người đến xin anh chị em giúp đỡ để chúng ta có thể nhận ra chúng ta được mời gọi để cho đi. Hãy tìm kiếm sự hiện diện bình yên trong những giây phút cầu nguyện trong yên lặng. Hãy tìm kiếm sự phó thác được canh tân để anh chị em tiếp tục thực hiện sứ mạng mình được mời gọi. Dù Đức Giêsu có sử dụng hình ảnh ông chủ trở về hay nhình ảnh kẻ trộm đi chăng nữa, chúng ta cũng vẫn hiểu rằng, chúng ta cần nghe theo lời cảnh báo của Người là hãy tỉnh thức, biết rằng Người sẽ trở lại và vẫn mãi trở lại mỗi ngày với các môn đệ có cặp mắt và đôi tai thức thỉnh.

Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp

LM. Jude Siciliano, O.P.

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)