dongcong.net
 
 

Chia sẻ của LM Jude Siciliano, OP


Chúa Nhật XXIV THƯỜNG NIÊN - C-2013
Xuất hành 32: 7-11, 13-14; Tvịnh 51; I Timôtê 1: 12-17; Luca 15: 1-32

TRỞ VỀ TRONG VUI MỪNG

Có bao giờ quý vị chơi trò đố hình với các con và đưa cho chúng xem hai bức hình giống nhau rồi đố chúng tìm ra điểm khác nhau trong hai bức hình hay chưa? Hoặc có bao giờ quý vị kể nhiều lần cùng một câu chuyện cho con nghe, và khi kể đi kể lại, quý vị biết từ nào cần nhấn mạnh và lặp lại để câu chuyện đạt hiệu quả hơn chăng? Quý vị cũng biết cách giả bộ bỏ qua những chi tiết quen thuộc và cả từ khóa để con trẻ thốt lên đúng ngay từ ấy.

Những câu chuyện Tin mừng cũng giống vậy: tuy chúng tường thuật cùng một sự kiện, nhưng mỗi bản lại khác nhau vài chi tiết để cho thích hợp với mục đích của soạn giả. Các trình thuật rất giống nhau, nhưng cũng có điểm khác nhau; một số chi tiết bị loại bỏ trong khi lại thêm chi tiết khác vào. Điều đó tùy thuộc vào ý định của tác giả sách Tin mừng cũng như nhu cầu của những người mà ngài muốn viết cho họ.

Hôm nay, chúng ta được nghe ba dụ ngôn của Tin mừng Luca. Người giảng sẽ băn khoăn không biết nên chọn cả ba hay chỉ hai dụ ngôn trên cùng. Nhưng nếu chúng ta để ý đến cả ba dụ ngôn và chơi một trò trẻ em, “tìm các từ được lặp lại”, thì hẳn chúng ta sẽ tìm thấy chìa khóa để giải thích các câu chuyện này bằng cách tìm ra đâu là điều được lặp lại trong các dụ ngôn. Có phải thánh Luca là một tác giả kém cỏi, thiếu trí tưởng tượng thế nên nhiều từ ngữ cũng như tình tiết được lặp lại bằng cùng một từ trong cả ba dụ ngôn chăng? Hẳn là không phải thế!

Dù là ba dụ ngôn nhưng chúng đều nói đến cùng một sứ điệp. Hãy tưởng tượng xem, liệu các dụ ngôn này có được treo ở khu vực “đồ thất lạc” tại phi trường không? Đúng, đó chính là lý do thánh Luca gom chúng lại với nhau, đây là những dụ ngôn về lạc mất và tìm thấy.

Một điểm cho thấy sự liên kết của chúng là sự lặp lại cùng một từ hay một từ tương tự trong mỗi dụ ngôn. Trong mỗi dụ ngôn, có thứ “bị mất” và rồi được “tìm thấy”. Khi tìm thấy thì “vui mừng”. Và sau đó, cộng đoàn được mời đến để chúc mừng vì vật mất nay lại tìm thấy. “Xin chung vui với tôi vì tôi đã tìm được…” Hoặc như người cha nói với đứa con lớn: “chúng ta phải ăn mừng vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”.

Điểm nổi bật của Tin mừng Luca là luôn nhắc lại lời loan báo tình thương của Thiên Chúa. Các dụ ngôn hôm nay, làm nên toàn bộ chương 15, là một ví dụ về chủ đề lòng thương xót của Thiên Chúa, qua việc sử dụng những từ “lạc mất”, “tìm thấy” và “ăn mừng/chung vui”.

Người chăn chiên ngớ ngẩn bỏ cả 99 con lại để đi tìm một con đi lạc. Một phụ nữ kiếm khắp cả nhà chỉ để tìm đồng bị mất. Một người cha gạt qua một bên danh phận và tiếng tăm của mình giữa những người đồng đẳng khi ông chạy ào ra để ôm chầm lấy đứa con hoang đàng nay trở về nhà.

Không mấy gì khó khăn để tìm thấy sự tương đồng giữa các nhân vật trong dụ ngôn và Thiên Chúa. Đây là một sự so sánh táo bạo và liều lĩnh. Nhưng chính Đức Giêsu đã làm thế nên chúng ta cũng sẽ so sánh như vậy. Nhân vật chính khiến chúng ta đi đến kết luận rằng chính Thiên Chúa đã dại dột mạo hiểm vì chúng ta, kiên trì tìm kiếm và quá nhân từ, tha thứ cũng như đón ta về nhà. Thiên Chúa không chỉ đưa chúng ta vào trong nhà mà còn ôm chầm lấy ta và mở đại tiệc ăn mừng.

Đức Giêsu nói trong kinh nghiệm mật thiết với Thiên Chúa. Các dụ ngôn là hiểu biết và kinh nghiệm của Người về Thiên Chúa cũng như đường lối của Thiên Chúa, điều mà Người hăng say chia sẻ với chúng ta. Người không chỉ rao giảng tin mừng bằng các dụ ngôn và giáo huấn, nhưng còn rao giảng nơi chính gương mẫu của Người. Đức Giêsu đã phải hứng chịu nhiều chỉ trích từ giới lãnh đạo tôn giáo vì đã hành xử như các nhân vật trong dụ ngôn của Người. Đức Giêsu ra đi để tìm kiếm người tội lỗi, tỏ lòng thương xót và đón nhận họ, hơn nữa Người còn dự tiệc đồng bàn với họ. Đức Giêsu không bao giờ quay lưng lại với bất kỳ kẻ tội lỗi nào chạy đến với Người.

Thánh Phaolô mô tả sự hiện diện của Đức Giêsu giữa chúng ta: “Đức Giêsu Kitô đã đến thế gian để cứu những người tội lỗi”. Chính Đức Giêsu là một dụ ngôn về nước Thiên Chúa cho những ai Người gặp gỡ: lời nói và hành động của Đức Giêsu phản ánh qua những dụ ngôn Người kể. Vì thế, một số người chấp nhận những cách thức giảng dạy của Người bằng dụ ngôn, kẻ khác thì không đón nhận.

Cách nào đó, Đức Giêsu giống như đứa con hoang đàng đối với chúng ta. Thư gửi tín hữu Hippri (4,15) nhắc chúng ta rằng Người “đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như chúng ta, nhưng không phạm tội”. Người sống trong một thế giới tội lỗi, để rồi đi đến: “một vùng quê xa xôi” và tận mắt chứng kiến cảnh khổ cực do tội lỗi gây ra. Đức Giêsu bị bỏ rơi, tẩy chay và bị giết chết ở “nơi xa xôi ấy”. Người trở nên một trong chúng ta để ta nhận ra rằng khi mình từ bỏ bất kỳ một cuộc đi hoang nào, thì như đứa con hoang đàng, chúng ta cũng đều được chào đón khi trở về.

Cách thức và các giá trị trong các dụ ngôn thì ngược với những giá trị trên thế gian này. Các giá trị của thế gian mâu thuẫn với những gì mà dụ ngôn tỏ cho thấy về đường lối hành xử của Thiên Chúa. Chúng ta đã nghe các dụ ngôn của Đức Giêsu về lòng thương xót và chấp nhận thì cũng có thể đáp lại những điều mình đã nghe. Chúng ta được mời gọi để sống đời sống như dụ ngôn ngày hôm nay, đó là: trở nên gương mẫu về lòng cảm thương, tha thứ và đón nhận tất cả những ai lạc lối mà nay đang tìm cách trở về.

Chúng ta dành thời gian dạy cho con cái về đức tin. Chúng ta cũng đảm bảo rằng chúng được tham dự lớp học giáo lý của giáo xứ. Trong khi, đây là những cách thức quan trọng để chuyển tải đức tin thì phương pháp mạnh mẽ và hiệu quả nhất để chuyển trao đức tin cho con cái và cả người khác nữa là sống các dụ ngôn về lòng nhân từ, đôn hậu và đón nhận: hãy sống và hành động dựa trên những gì ta tuyên xưng.

Một số người khi nghe các dụ ngôn của Đức Giêsu thì chỉ gãi đầu bảo rằng “tôi chẳng hiểu gì”. Nhưng những người khác nghe các trình thuật này, lại bước vào trong câu chuyện rồi tự an ủi mình rằng “tôi thích được ở đây. Cảm giác như đang ở nhà và tôi thấy mình được chào đón”.

Những người muốn khám phá niềm tin của chúng ta sẽ thắc mắc về niềm tin này. Chúng ta cố gắng cho họ câu trả lời tốt nhất. Nhưng, ai trong chúng ta lại không cần phải học hỏi thêm về đức tin của mình? Hôm nay là Chúa Nhật Huấn Giáo và chủ đề của năm nay là “Hãy Mở Ra Cánh Cửa Đức Tin”. Đức Giám Mục đã đưa những tư liệu cần thiết lên trang báo điện tử (website) của giáo phận để giúp cho giáo lý viên hiểu hơn về đức tin của mình. Nguồn tư liệu này cũng giúp cho giáo xứ chia sẻ và dạy đức tin trong suốt “Năm Đức Tin”.

Điều có thể khiến người khác thắc mắc về đức tin chính là kinh nghiệm về tình yêu và lòng nhân từ của Thiên Chúa nơi chúng ta. Hiểu biết về Thiên Chúa hầu như không đến nhiều từ những trang sách nhưng đến từ chính các chứng nhân sống động về đức tin; hoặc những người đã được nghe, đón nhận và thấm nhuần các dụ ngôn. Thực vậy, đó là cố gắng biến các dụ ngôn về nước trời thành hiện thực trong thế giới của chúng ta.

Chuyển ngữ : Anh em HV Đaminh Vò Vấp


24th SUNDAY IN ORDINARY TIME - C
Exodus 32: 7-11, 13-14; Psalm 51; I Timothy 1: 12-17; Luke 15: 1-32

Have you ever played one of those picture games with children where you show them two identical-looking pictures and ask them to find what’s missing in one? Or, have you told children the same story several times and, as you tell it again and again, you learn which words to emphasize and repeat for the full effect of the story? You also learn not to leave out a familiar detail or keyword because the children will spot that right away.

The gospel stories are like that: while they may narrate the same event, each synoptic varies the details to suit the author’s intended message. While the stories may be very similar, they differ; some details are omitted while others are added. It depends on the evangelist’s intentions and the needs of those to whom he is addressing the narrative.

Today we have three parables from Luke. The preacher has to decide whether to proclaim and preach from all three, or just the first two, the "short form." But if we were to look at all three stories and play a children’s game, "find the repeated words," we would discover that a key to interpreting the stories lies in finding what’s repeated in each of the parables. Is Luke such a pedestrian writer that he lacks imagination and a broad vocabulary and resorts to repeating the same words in three different parables? Far from it!

While they are three different parables they come around to the same message. Imagine these parables posted in a department store’s "lost and found department? Yes, that’s what binds them together in Luke, they are lost and found parables.

One sign of their close linkage is a repetition of the same or similar words in each parable. In each: something is "lost" and then is "found." Upon the finding there is "rejoicing." Then there is a community celebration when the lost are found. "Rejoice with me because I have found…." Or, as the father tells the older son, "But now we must celebrate and rejoice because your brother was dead and has come to life again, he was lost and has been found."

One of the marks of Luke’s gospel is its repeated pronouncement of God’s mercy. Today’s parables, which comprise the whole of chapter 15, are a good example of Luke’s theme of mercy, suggested in the connecting words "lost," "found" and "celebrate/rejoice."

A shepherd foolishly leaves 99 sheep in the desert to go look for the one lost. A woman searches throughout her home for a lost coin. A father puts aside his dignity and reputation among his peers when he spots and rushes out to greet his lost son returning home.

It’s hard not to draw parallels between the focus characters in the parables and God. It is also bold and risky to do it. But Jesus does and so shall we. The central figures lead us to conclude that God foolishly takes risks for us, persistently searches for us and overdoes generosity, forgiving us and welcoming us home. God not only lets us in the house, but warmly embraces us and throws a feast on our behalf.

Jesus spoke from his intimate experience of God. The parables reflect his knowledge and experience of God and God’s ways, which he is anxious to share with us. He proclaims the good news to us not only in parables and teachings, but by his own example. Jesus faced strong criticism from the religious establishment for behaving like the characters in his parables. He went out looking for sinners, showed them compassion and welcomed and celebrated with them at the feast of his table. Jesus never turned away from a sinner who came to him.

Paul describes Jesus’ presence among us: "Christ Jesus came into the world to save sinners." Jesus was a parable of the reign of God to all whom he met: his words and actions reflected the parables he told. Some people accepted his parabolic ways, while others rejected them.

In some ways Jesus became like the prodigal son for us. The Letter to the Hebrews (4:15) reminds us that he was "tempted in every way we are, yet never sinned." Still, he lived in a sinful world, went to "a distant country" and knew firsthand the misery sin causes. Jesus was abandoned, rejected and killed in this "distant country." He became one of us so that we would know that when we turned back from any wanderings we may have chosen we, like the prodigal son, would be welcomed home.

The ways and values exhibited in the parables are contrary to those of the world. The values of the world clash with what the parables reveal about God’s ways of treating us. We who have heard Jesus’ parables of mercy and acceptance can respond to what we have heard. We are called to live parabolic lives: to be models of mercy and compassion, forgiveness and welcome to those who have gotten lost and are seeking to return.

We spend time teaching our children about our faith. We also make sure they attend catechetical instruction in our parish. While these are important means to convey our faith, the most powerful and effective method for passing on the faith to our children, and others, is to live the parables of mercy, kindness and welcome: to live and act on the faith we profess.

When some people heard Jesus’ parables they probably just scratched their heads and said, "I don’t get it." But others heard the stories, entered into them, looked around and said to themselves, "I like it here. It feels like home and I feel welcome."

People who want to learn about our faith will ask questions about our beliefs. We will answer them the best we can. Yet, who among us doesn’t need to learn more about the faith? Today is Catechetical Sunday and the year’s theme is "Open the Door of Faith." The bishops have made materials available on their webpage to help catechists and teachers better understand our faith (see below). The free resources will also help parishes celebrate and teach the faith throughout this "Year of Faith."

What might stir questions about the faith in others is that they experience God’s love and mercy in us. Knowledge of God comes not so much from books but from living witnesses of faith; people who have heard, accepted and digested the parables. Indeed, strive to become the flesh and blood parables of the kingdom in our world.

CHÚA NHẬT 24 TN-C- 12-9-2010
Xuất hành 32: 7-11, 13-14; Tv 51; I Timôthê 1: 12-17; Luca 15: 1-32
Lm. Jude Siciliano, OP
ÂN SỦNG – ƠN BAN NHƯNG KHÔNG

Kinh thánh không chỉ  là một quyển sách, nhưng là  cả một thư viện. Đó là  những quyển sách khôn ngoan, lịch sử, tiểu sử, tin mừng, thư từ, thơ ca,… Thật khó mà tóm tắt “thư viện” này vào một thể loại văn chương. Nhưng chúng ta cứ thử xem sao. Sách Thánh có thể được gọi là “sách về ân sủng,” vì ân sủng làm nên từng trang. Thế nhưng, không ai có thể đưa ra một định nghĩa về ân sủng dẫu có đọc hết các sách thánh. Chúng ta không đi tìm một định nghĩa, cứ như là ân sủng có thể được tóm tắt trong một công thức ngắn gọn và bao hàm tất cả. Thay vì định nghĩa về ân sủng, thì các tác giả sách thánh lại vẽ lên cho chúng ta hình ảnh của ân sủng.

Sách Thánh giống như một quyển Album hình chúng ta đã thu thập (trong thời buổi kỹ thuật số ngày nay thì nó tuyệt chủng mất rồi) trong đó chúng ta lưu giữ những tấm hình của những người thân yêu, những người chúng ta ngưỡng mộ, và những cảnh đẹp trong những chuyến du lịch của chúng ta. Những quyển sách này là “những quyển sách ân huệ” của riêng chúng ta. Chúng giống như Kinh Thánh, có hàng tá những bức ảnh về ân sủng. Hôm nay, Chúa Giêsu bổ sung vào quyển album ảnh này bằng cách cho chúng ta ba dụ ngôn. Mỗi câu chuyện ghi lại một khía cạnh ân sủng đối với chúng ta; không phải là những định nghĩa cụ thể nhưng là chân dung nhân loại của hình ảnh ân sủng.

Hàng ngày chúng ta thường sử dụng những dạng thức của ân sủng từ những gì mà Kinh Thánh nói về ơn thánh? Ví dụ, nếu chúng ta học nhạc hoặc chơi một loại nhạc cụ nào đó chúng ta phải biết những dấu hoa mỹ để lưu ý về cường độ, khoản nghỉ... Đây là một lưu ý rất quan trọng, được viết vào một số trường canh của âm nhạc, thường được in nhỏ hơn so với các ghi chú khác, nó có vẻ như không quan trọng. Vì không phải là nốt thiết yếu cho dòng nhạc, nó chỉ là một chút gì đó thêm vào cho các giai điệu làm cho nó ngày càng mang âm hưỡng riêng. Do vậy thuật ngữ âm nhạc về "Dấu Hoa Mỹ" là điều đáng để giúp chúng ta hiểu về nhạc.  Đó cũng là điều mà chúng ta phải suy nghỉ lại khi còn ngờ rằng ân sũng là cái gì chưa quan trọng đối với đời sống chúng ta,

Có lẽ, chúng ta có được gợi ý về tầm quan trọng của ân sủng tốt hơn, nếu chúng ta nhìn về cuộc chạy điền kinh. Trong giải Olympic Mùa Đông vừa qua mà tôi theo dõi, những gì tôi nghĩ là, một kiểu ân sủng phi thường và khả năng mạnh mẽ của những vận động viên trượt ván nghệ thuật. Những bình luận viên phải thốt lên sau mỗi pha kết thúc màn trình diễn duyên dáng và mạnh mẽ của các vận động viên trượt ván. Chúng ta phải la lên một chữ “Tuyệt!” như thế. Những vận động viên thực hiện những động tác này có vẻ rất dễ dàng và nhàn nhã – nhưng nếu anh chị em thử bắt chước họ, rồi bị ngã dập mặt thì mới biết nó có dễ hay không. Ân sủng giống như là một bản chất thứ hai, nhưng với ân sủng một người có thể đạt được những kết quả vô cùng to lớn, dựa trên những gì chúng ta sắp đặt cách tự nhiên như những giới hạn của chúng ta.

Chúng ta có thể tìm thấy những ví dụ về ân sủng như thế trong những hành vi thường ngày của chúng ta. Một đứa trẻ bị sốt không ngủ được, và vì thế cha mẹ cùng thức với nó cả đêm, bỏ cả ăn, mất cả ngủ, để chăm sóc nó đến khi lành bệnh. Một đứa trẻ bị ốm không biết được sự hy sinh và chăm sóc nhẹ nhàng từ cha mẹ chúng, nhưng chắc chắn là cần thiết. Đứa trẻ là người đón nhận tình yêu thương của cha mẹ dành cho nó – cũng giống như đón nhận ân sủng, những kẻ ngay lành trong Sách Thánhh cảm nghiệm được bàn tay yêu thương của Thiên Chúa một cách nhưng không.

Đó là những gì đứa con nhận được từ cha nó như trong dụ ngôn hôm nay.  Nó đã được ăn ngon mặc đẹp không phải vì lời xin lỗi đã chuẩn bị kỹ càng – lời xin lỗi mà nó chẳng có cơ hội nói ra. Nhưng, đứa con được đón về trong ngôi nhà ấm áp và trong vòng tay cha của nó, vì người làm cha là thế. Đó cũng là những gì chúng ta cảm nghiệm được khi người nói “Tôi bỏ qua cho anh,” khi chúng ta biết mình đã làm điều sai lỗi và không xứng đáng với lòng tha thứ ấy.

Qua ví dụ trên đây, chúng ta có thể biết được ân sũng là gì. Ân sũng đến như một quà tặng và không cần đền đáp. Liệu có đứa con nào có thể trả lại cho cha mẹ những đêm dài thức trắng chăm lo sức khỏe cho con mãi đến khi con khỏe lại hay không? Ân sủng luôn đến cách tình cờ, nhất là khi chúng ta thấy mình không ổn hay sai phạm điều gì đó. Ân sủng thường xuất hiện ngay khi chúng ta thấy mình tệ hại nhất, như trường hợp đứa con hoang đàng trong dụ ngôn hôm nay. Dụ ngôn mô tả tình trạng bi đát của đứa con này: anh “phải đi ở đợ,”… “phải chăn heo”… và anh ta thậm chí muốn ăn “thức ăn dành cho heo.” Quả là chẳng còn gì thấp kém hơn.

Câu chuyện về đứa con “trẩy đi phương xa” là một câu chuyện về ân sủng, và đó chính là những gì chúng ta nghĩ theo lối suy luận tự nhiên. Khi ân sủng tác động, chúng ta nhận được gấp nhiều lần những gì chúng ta có thể thực hiện hay cống hiến, mà phép cộng trừ tự nhiên không thể làm nổi. Thông thường thì một cộng một bằng hai; nhưng trong thế giới của ân sủng, thế giới của đứa con hoang đàng, một cộng một bằng ba, bằng sáu hay thậ chí bằng cả triệu. Trong viễn cảnh của những dụ ngôn, nhiều thứ xem ra chẳng nghĩa lý gì – ít là theo quan điểm của chúng ta. Dụ ngôn không phải là một câu chuyện luân lý để mọi người làm theo. Chẳng hạn, đó không phải là một giáo huấn về việc đứa con được cất nhắc lên. Đó cũng chẳng phải câu chuyện hợp với quan điểm về công bình của chúng ta. Đức Giêsu kể một câu chuyện vượt ngoài những gì chúng ta vẫn thường nghĩ. Đó là câu chuyện về ân sủng. Liệu chúng ta có tin tưởng người kể chuyện biết rõ về đối tượng hơn chúng ta hay không?

Nhìn lại ân sủng trong dụ ngôn đứa con hoang đàng. Chúng ta có thể sẽ chẳng tìm được một định nghĩa, nhưng ân sủng như một bức tranh, một hình ảnh cho chúng ta thông qua câu chuyện. Nó có thể xuất hiện ở điểm thấp nhất và khơi lên hình ảnh “gia đình” –  về một cuộc sống tốt đẹp hơn bao giờ hết mà chúng ta từng cảm nghiệm. “Xin hãy nhìn đến con …. Con sẽ được tốt hơn.” Khao khát cứ lớn dần trong chúng ta, ân sủng giúp chúng ta đứng lên để tạo một điểm trở về, và chúng ta nhận ra mình có thể thay đổi chiều hướng cuộc đời mình. Lý do để thay đổi không phải lúc nào cũng đẹp đẽ, chúng có thể là từ tình trạng bi đát. Đứa con trong câu chuyện thì đói khát và đang cần một nơi để tránh mưa tránh nắng và chút cái để ăn, và nó chuẩn bị những câu nói với cha nó, chỉ để nhận được nhữngnhững những gì hắn cần.

Đứa con hoang đàng giống phần đông trong chúng ta. Vài người trong chúng ta đây cũng chẳng ngon lành gì. Hầu hết chúng ta, ngay khi chúng ta không có những hành vi tệ hại và ngu ngốc như đứa con thứ, thì vẫn nhận ra mình muốn thoát ra khỏi chính mình, để đi đến “một nơi xa”. Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu nói rằng dù chúng ta không thể đi đến “một nơi xa” đến đâu chăng nữa thì ân sủng vẫn tới được. Dù chúng ta có đi đến một nơi xa thế nào chăng nữa, dù là yếu đuối, quên lãng, hèn nhát, hay là cố chấp, có kế hoạch chắc chắn lâu dài thế nào chăng nữa, thì cánh tay ân sủng vẫn có thể vươn tới và mời gọi ta đứng lên, cất bước quay về nhà. Chúng ta có dám đáp trả hay không? Đó chẳng phải là lý do chúng ta quy tụ nơi đây để cử hành phụng vụ, để bước thêm một bướng trở về nhà đó hay sao?

Xuyên suốt dụ ngôn là Ân sủng: khi ngươi cha cho con mình tự do; khi người con xuất hiện trước mắt ông vì nó nhớ lại nhà của mình. Ân sủng đồng hành với nó khi nó trẩy đi xa và cùng với nó trong mỗi bước chân trên hành trình. Ân sủng hướng dẫn nó quay về với người cha đang mỏi mòn chờ đợi, người cha đã cắt ngắn lời xin lỗi của đứa con. Ân sủng cũng ở đó khi người cha nói với đứa con cả: “Mọi sự của cha là của con.” Ân sủng không phải là vài đồng xu lẻ từ trời rơi xuống, trả công cho những cố gắng chúng ta làm. Chúng ta không “chiếm lấy ân sủng”, nếu có, thì đó không phải là ân sủng nữa. Người con, cuối cùng chẳng phải làm gì để nhận được sự tha thứ. Người cha đã ôm nó vào lòng, và người anh cả với quan niệm của mình về công bình, không thể hiểu được tại sao cha anh lại làm như vậy.

Vì thế, có phải chúng ta đã bở lỡ sự hiện diện rõ ràng của ân sủng trong đời sống thường nhật hay không; dấu hiệu mình và máu của sự hiện diện của Thiên Chúa như quà tặng? Hãy quan sát và để ý lưu tâm đến:

  1. Anh chị  em là những người rộng lượng đang chăm sóc cha mẹ già  yếu, và tất cả những gì có thể làm để  đền ơn đáp nghĩa với các ngài là  “lòng biết ơn”.
  2. Một sự  giúp đỡ trong tình bằng hữu mà  người khác làm cho anh chị  em
  3. Một câu nói giúp đỡ: Hãy để tôi giúp anh/chị giải quyết vấn đề này
  4. Người bạn  đời hay bạn bè chia sẻ niềm vui nỗi buồn cùng anh chị em.
  5. Người giáo viên với  đồng lương còm cõi nhưng vẫn dành thời gian giúp  đỡ con em của chúng ta học tập.
  6. Những người đến thăm ta trong bệnh viện và lấy toa thuốc giùm chúng ta, nấu ăn và rước Mình Thánh Chúa cho chúng ta
  7. Những lời được nói ra khi chúng ta xưng tội “Tôi tha tội cho anh/chị  nhân danh Cha…”

Ân sủng cũng có cả  ở nơi sự cáu kỉnh bực bội, một người đủ thương để nói với chúng ta sự thật và muốn chúng ta xử lý vấn đề; một lời mạnh mẽ của ngôn sứ ngay giữa chúng ta, thức tỉnh chúng ta khi sống quá tiện nghi, trong khi những người khác lại đang túng thiếu; một tin tức hình ảnh trên tivi hay báo chí giúp chúng ta biết quan tâm đến những gì xa hơn vòng luẩn quẩn bé nhỏ của mình. Ân sủng không phải cái gì ngoại lệ nhưng la những điều hết sức bình thường trong cuộc sống của chúng ta, một tiếng nói cách này hay cách khác thức tỉnh chúng ta và giúp chúng ta biết ý thức.

Trong buổi cử hành Thánh Thể này, chúng ta cùng kỷ niệm nhiều dạng thức của ân sủng trong cuộc đời chúng ta. Chúng ta giống như đứa con thứ sau khi được chào đón về nhà và được tha thứ. Chúng ta bước vào yến tiệc này với lòng biết ơn vì những gì chúng ta chưa đạt được, nhưng sẽ được trao ban trong suốt hành trình trong đời sống chúng ta. Chúng ta cầu nguyện để có thể hoàn tất những cam kết chúng ta đã đưa ra – trong lễ thành hôn, việc chăm sóc con cái hay cha mẹ, thành thật trong công việc, phục vụ những ai cần được giúp đỡ, vv.. – và vẽ lên bức tranh ân sủng cho những người khác, để dẫu cho họ không thể định nghĩa được thế nào là ân sủng, thì cũng có thể nhận ra hình ảnh của ân sủng là thế nào nơi cuộc đời của mỗi người chúng ta. 

Lm. Jude Siciliano, OP
Chuyển ngữ: Anh em HV Đaminh Gò Vấp

24th SUNDAY -C- September 12, 2010
Exodus 32: 7-11, 13-14; Psalm 51; I Timothy 1: 12-17; Luke 15: 1-32
By: Jude Siciliano, OP

The Bible isn’t one book, it’s a library. In it are books of wisdom, history, biography, gospels, letters, poetry, etc. It is very hard to summarize this "library" under one category of literature. But let’s try anyway. The Bible can be called the "book of grace," for grace characterizes each page. Nevertheless, one can look in vain throughout all the biblical books for a definitions of grace. We don’t get one definition, as if grace could be summarized in one neat, all-embracing formula. Instead of defining grace, the biblical writers picture it for us.

The Bible is like the photo albums we have stashed away (now becoming extinct in the digital age) into which we pasted our photos of people we loved and admired, and scenes from our favorite vacation spots. Those albums were our personal "books of grace." They were like our Bible which has its own vast snapshots of grace. Today Jesus adds to the those "snapshots" of grace by giving us three parables. Each story captures aspects of grace for us; not strict definitions, but human portrayals of what grace looks like.

Does our common, daily usage of the word grace give us a clue into what biblical grace is about? For example, if you have studied music or play a musical instrument then you know what a grace note is. It’s not a very significant note, more of an ornament. When a grace note is written into a musical score it’s usually printed smaller than the other notes; it doesn’t even look important. It’s not essential to the musical line, it’s just a little something extra; the melody can make it on its own without the grace note. So, if we suspect grace is something important for our lives, then the musical term "grace note" is not going to help us learn about it.

Perhaps we get a better clue to grace’s significance if we look to athletics. During the last Winter Olympics I saw, what I thought was, a model of extraordinary grace and athletic ability in the figure skaters. The announcers of the events singled out specific skaters for their graceful and athletic accomplishments. Such "grace!" we exclaim. They make it look so easy and effortless – until you try to imitate them and fall flat on your face! Grace looks like second nature and yet with it one can achieve enormous results, beyond what we normally set as our limits.

We can find such examples of grace in everyday human activities. An infant is feverish and can’t sleep and so a parent stays up through the night with the child, loses sleep, skips breakfast and then drags him or herself through the rest of the day. A sick child hasn’t earned this devotion or tender care from a parent, but it certainly needs it. The child is the recipient of its parents’ love – its like receiving grace, the kind the people in the Bible experience from God’s loving hands. You don’t earn it, grace comes free of charge and usually arrives unexpected.

It’s what the son received from his father in the today’s parable. He wasn’t lavished with food and princely clothing because of his well-prepared apology – which he didn’t even get a chance to finish. Rather, the boy was let back into the warmth of home and his father’s embrace because that was just the way the father was. It’s what we also experience when someone said to us, "I forgive you," when we knew we had done something wrong and didn’t deserve the gift of forgiveness.

From the above examples we get hints of what grace is like. It comes as a free gift without expectation of payback–could the child ever repay the father or mother for all the sleepless nights they spent nursing the child back to health? ("Thanks dad, let me write you out of check....") Grace comes by surprise, especially when we don’t feel good about ourselves or something we have done. Grace comes frequently at our lowest point, as it did for the prodigal son in today’s gospel. The parable describes just how low the boy had sunk: he "hired himself out,"... "to tend the swine"... he even yearned to eat "the pods on which the swine fed." How low was that!

The story of the boy who went off "to a distant country" is a story of grace, and because it is, it defies our logic. When grace is operating we get more than we give or can produce; the usual math breaks down. Normally one plus one equals two; but in the world of grace, the world of the prodigal son, one plus one equals three, or six, or 11 or 1 million. In the world of parables some things just don’t make sense–at least not our kind of sense. The parable is not a story with a moral expectation to it. For example, it is not a teaching about child rearing. Nor is it a story that conforms to our sense of justice. Jesus is telling a story that goes outside the box of what we consider appropriate behavior. It’s a story about grace. Can we trust the storyteller knows more about the subject than we do?

Look again at the grace in the parable of the Prodigal Son. We may never find a definition, but grace is pictured for us throughout the tale. It can come at life’s lowest point and stir up images of "home" – of a better life than we are now experiencing. "Look at me... I could be better." A longing develops in us, grace enables us up to make a turning point and we find we can change the direction of our lives. The reasons for the change aren’t always the most noble, they can come from misery. The boy in the story is hungry and wants physical shelter and food and so prepares the speech he will make to his father to get what he needs.

The prodigal son is a lot like the rest of us. Some of us have really messed up. Most of us, while we have not behaved as badly or foolishly as the younger son, still know what it is like to go off on our own, to make a journey away to one "far country" or another. In the parable Jesus tells us we cannot go to any "far country" that can’t be reached by grace. Whatever the distance we have traveled from "home" – whether through weakness, negligence, cowardice, or regular, consistent and deliberate scheming over a long period, still the far-reaching arm of grace, reaches out to us and invites us to turn around and make the trip home. Shall we respond? Isn’t that why we come here to worship, to take one more step towards home?

Grace is all through the parable: when the father gives the son his freedom; when the son comes to his senses because he remembers his home. Grace accompanies him when he starts out on his journey and is with him each step of the journey. Grace guides him to his waiting father, who cuts the boy’s apology short. Grace is also there when the father talks to the older son reminding him, "Everything I have is yours." Grace isn’t some invisible coin dropped down from heaven, a payment for our hard work. We don’t "gain grace," if we did, it wouldn’t be grace. The son, after all, didn’t do anything to earn forgiveness. The father would have been justified in withholding it–ask the older brother, with his sense of justice, how he would have responded to his younger brother.

So, are we missing the obvious, the presence of grace in our daily life; the flesh and blood signs of God’s gifting-presence? Look around and notice:

  1. you’re generous brother or sister who is caring for an ailing parent and all you can do to "pay back" their generosity is just say "thank you"
  2. at the extended a hand of friendship someone offers you
  3. the words of help when someone says, "Let me help you with that problem."
  4. The spouse or friend who shares your joys and your grief
  5. the teacher, poorly paid, who spends extra time helping your children learn
  6. the person who visits our sickroom, gets a prescription for us, cooks a meal and brings us the Eucharist from our parish
  7. the words spoken after we confess our sins, "I forgive you in the name of the Father...."

There’s grace in the irritants too: the person who loves us enough to speak the truth and calls us to deal with an issue; the strident voices of the prophets in our midst who alert us to our too-comfortable lives, while others go without; the newspaper story or television program that awakens our attention to a need outside our small circle. Grace is not the exception, but the daily stuff of our lives, the voice in one form or another that awakens us and brings us to our senses.

At our Eucharist today we celebrate the many shapes grace has taken in our lives. We are like the younger son after he is welcomed home and forgiven. We enter this banquet with gratitude for what we have never earned, but have been given all along the journey of our lives. We pray we can fulfill the many commitments we have made – in marriage, the care of a child or a parent, honesty on the job, service to those with needs, etc. – and be pictures of grace for others so that, even though they can’t define grace, they can see what it looks like in us.

Fr. Jude Siciliano, OP

LM. Jude Siciliano, O.P.

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)