dongcong.net
 
 

Chia sẻ của LM Jude Siciliano, OP


CHÚA NHẬT LỄ CHÚA PHỤC SINH
ÁNH SÁNG CỦA NIỀM TIN
Ga 20, 1 – 9.

Thưa quý vị,

Phúc Âm hôm nay mở đầu như sau: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối.” Hẳn độc giả có cảm tưởng u tối là cảnh trí chung của trời đất lúc ấy. U tối về nhiều mặt. U tối bao quanh nấm mồ, u tối vì buồn rầu, u tối vì không biết sự gì đã xảy ra. U tối vì mất mát, u tối vì bất ngờ trước đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu. Sự thực đối với môn đệ Chúa và các phụ nữ, bầu khí quả là ảm đạm nặng nề. U tối bao trùm ngoại cảnh và nhất là trong tâm trí họ, cho tới khi người môn đệ kia nhìn vào nấm mồ. Có lẽ đây cũng là hoàn cảnh chung cho các tín hữu hôm nay, khi nhìn vào tình hình thế giới: Chiến tranh, áp bức, bóc lột, độc tài, nghèo khổ. Liệu chúng ta có đủ can đảm để nhìn vào nấm mồ Chúa và tin? Hay chỉ than khóc xuông rồi chẳng làm gì cả?

Nhưng xin lưu ý, cả 2 tồng đồ Phêrô và Gioan cùng cúi nhìn vào mồ, thấy cùng một sự việc: ngôi mộ trống với mấy cuộn dây băng. Người môn đệ kia đã thấy và đã tin. Chắc chắn ánh sáng giúp đỡ không phải là ánh sáng vật lý. Nhưng là ánh sáng Chúa Kitô, kiểu như ánh sáng mà người mù từ thủơ mới sinh của Gioan đoạn 9: “Bao lâu thầy còn ở thế gian, thày là ánh sáng thế gian.” Anh mù đi rửa mắt ở hồ Silôac và được sáng mắt. Sau đó anh phải giải thích cho các tư tế, luật sĩ, kinh sư Do thái về thứ ánh sáng đó. Gioan đã nhìn vào mồ trống trong luồng ánh sáng ấy và ông đã tin. Chúng ta cũng không thể làm hơn nếu chúng ta muốn gặp Chúa sống lại. An ở kiểu Pharisêu thì muôn đời sẽ chẳng thể thấy Chúa phục sinh. Tệ hại thay, đây lại là lối sống của đa phần tín hữu, gồm luôn linh mục, tu sĩ, giám mục mà thánh Catarina thành Sienna thường phàn nàn. Khi anh mù của Gioan bị đuổi ra khỏi công đường sau phiên xử án, Chúa Giêsu tìm gặp và hỏi anh xem có tin vào Con Người hay không. Anh ta nói: “Thưa Ngài, Người ấy là ai để tôi tin”. Chúa trả lời: “Người anh đang thấy và nói chuyện với anh.” Người mù sấp mình xuống chân Chúa và nói: “Thưa Ngài, tôi tin.” Như vậy anh không nhìn bằng đôi mắt thường, mà bằng đôi mắt đức tin. Ước chi chúng ta cũng được đôi mắt ấy, từ bỏ mọi sự và đi theo Ngài.

Đúng vậy, đức tin của chúng ta sẽ ra sao nếu Maria Macdala đi ra mồ mà còn thấy xác Chúa Giêsu? Đây không phải là sự kiện Kinh Thánh, mà chúng ta giả dụ như vậy để cho thấy đức tin thế nào là đúng nghĩa. Nếu Maria tìm thấy xác Chúa vẫn nằm trong mồ, thì đức tin của người tín hữu chẳng qua chỉ là ký ức về đấng sáng lập tôn giáo lạ lùng, đầy thương cảm với số phận nhân loại, thế thôi, như ký ức về đức phật, lão tử, khổng tử. Chúng ta chỉ còn thấy Ngài như một vị tôn sư, dạy dỗ những điều hiền lành, làm gương cho con cái noi theo. Chúng ta sẽ nhắc nhở: Vào hoàn cảnh của con, Chúa Giêsu sẽ làm chi? Đó sẽ là nguyên tắc phải theo để có hạnh kiểm tốt, nhưng chẳng còn chi hơn. Chính chúng ta cũng vậy, hai mươi thế kỷ sau chúng ta sẽ phản ánh giáo lý của Ngài, tìm ra những lối sống phù hợp, thế thôi. Nghĩa là Đức Kitô xếp hàng với các nhà sáng lập tôn giáo trên thế giới. Nhưng sự thật, xác Chúa không còn trong mộ nữa, biến mất từ lúc nào. Đó là sự khác nhau giữa Chúa Giêsu và các vĩ nhân khác. Sự khác nhau to lớn đến độ đảo lộn nhân loại. Đảo lộn từ gốc rễ, niềm tin và trí não, từ cách suy nghĩ và nếp sống.

Nhưng xin dừng lại một chút để tìm hiểu xem Maria đã lý giải ra sao khi chứng kiến ngôi mộ trống? Đối với bà, đơn giản chỉ là: “Người ta đã lấy xác thầy ra khỏi mồ.” Nhưng người ta là ai? Là chính quyền Rôma? Là thế lực đền thờ, là kẻ trộm, là các môn đệ? Vô số câu trả lời. Nhưng chẳng lý lẽ nào đủ thuyết phục. Thái thú Rôma sai lính đến lấy xác Chúa Giêsu đi vì sợ các môn đệ Ngài biến ngôi mộ thành nơi hành hương và như thế ấp ủ một cuộc nổi loạn? Họ quá hiểu tâm lý đám đông Dothái, đã từng nghe, từng chứng kiến những phép lạ ông Giêsu làm và từ đấy nổi lên chống đối Rôma. Chi bằng phi tang đi là thượng sách. Thế lực đền thờ? Rất có thể, bác thợ mộc làng Nazareth đã từng thách thức luật Môisê và các tập tục cha ông? Lại còn nguyền rủa họ là mồ mả tô vôi, hội đồng phải vất vả lắm mới triệt hạ được hắn, phải dùng đến cả mưu mẹo xé áo để có thể kết án được hắn. Nhưng hắn đã lôi kéo được đám đông khổng lồ về phe. Không khéo các môn đệ hắn lợi dụng nấm mồ để phát tán giáo lý và lối sống của hắn. Lúc ấy, mối nguy còn lớn hơn. Chi bằng đem xác hắn đi, để bịt miệng vĩnh viễn. “Người ta” có thể còn là bác làm vườn, hay các môn đệ, bởi vì Chúa Giêsu đã hứa ba ngày sau Ngài sống lại. Phải thực hiện cho được lời hứa này bằng cách giấu xác đi và phao tin sống lại!

Đây không phải là những giả định viễn vông, vì cho đến hôm nay “nhiều triết gia” đã đưa ra các giải trình “ghê gớm”. Thí dụ có kẻ giải thích rằng: các môn đệ Chúa đã quá thất vọng về thày mình, không làm trọn mộng ước bá vương của họ. Cho nên việc Chúa sống lại chỉ là cặn bã của óc tưởng tượng, mộng mơ. Các môn đệ nghĩ là đã gặp thầy, chẳng qua chỉ là cơn hốt hoảng của ấn tượng mạnh mẽ mà thôi, để rồi chạy ra phố loan truyền tin thất thiệt.

Nhưng chúng ta, những kẻ tin, hôm nay tụ họp nhau trong nhà thờ, có phải là hậu quả của cơn hốt hoảng các tông đồ xưa? Đúng là một ý nghĩ dễ sợ, phải không quý vị? Nhưng làm sao chúng ta chứng minh được Chúa đã sống lại, để phản bác các kẻ không tin? Xin thưa ngay chẳng được đâu. Vì muôn đời việc Chúa phục sinh vẫn là một mầu nhiệm, làm sao chúng ta chứng minh nổi? Phương pháp tốt nhất là hãy đồng hoá mình với những kẻ “nhìn vào trong mồ”. Nhiều người cũng nhìn như Phêrô, nhưng chẳng thấy chi ngoài tấm khăn niệm và cuộn vải băng. Họ nhìn vào cuộc đời mình, nhưng toàn thấy một màu u tối: “Tảng sáng ngày thứ nhất, lúc trời còn tối.” U tối tràn lan khắp cuộc đời họ, tương tự không gian Phúc Âm hôm nay. Nhưng khi người môn đệ được Chúa yêu dấu nhìn vào ngôi mộ trống thì có ánh sáng ở cuối đường hầm: “Ông đã thấy và ông đã tin.” Như vậy, “thấy” đối với Phúc Âm thứ tư là trông bằng con mắt tinh thần chứ không phải vật chất. Thực ra, đối với Gioan chỉ có yêu mến mới ban cho người ta khả năng “thấy” được. Hẳn nào xưa nay chúng ta không được thấy vì chưa yêu mến thực sự, chưa từ bỏ mọi sự mà theo thầy, môi miệng là chính.

Đó là điều hôm nay chúng ta được mời gọi: Tin yêu Chúa thì mới có thể được “thấy” Ngài phục sinh. Cho nên sau này Gioan chỉ rao giảng có hai chữ thương yêu vì không thương yêu, chẳng đời nào người ta được phúc “thấy” Chúa sống lại. Còn nếu yêu mến Ngài thực sự thì thấy Ngài phục sinh trên mọi nẻo đường đời, mọi biến cố của cuộc đời. Bởi lẽ Chúa sống lại để biến đổi mỗi cuộc đời thành ánh sáng. Mùa này là mùa xuân, cây cối khắp nơi đâm chồi nảy lộc, mang những phiến lá mới, xanh tươi mơn mởn, chứng minh sức sống mới trong thân cây. Vậy thì Chúa phục sinh cũng mang đời sống mới cho nhân loại như vậy. Nhưng chỉ những kẻ tin yêu mới trông thấy được mà thôi. Thánh Phaolô trong bài đọc hai viết: “Thưa anh em, anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới…chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” Là để chúng ta có khả năng sống nếp sống của Đức Kitô. Ngài sẽ ban cho chúng ta nếp sống mới, nếp sống phục sinh.

Trên thế giới, mặc dù còn chiến tranh, chém giết nhau nhưng vẫn có vô số người tốt lành. Cuộc sống của họ phản ánh tính yêu và phục vụ kẻ khác. Họ là những mẫu mực của lòng thương cảm đối với số phận hẩm hiu của nhân loại. Họ sống rất tốt lành mà chưa hề biết Chúa Kitô đã chết và sống lại để bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa. Liệu cuộc sống của họ có thách thức chúng ta? Liệu việc Maria Macđala còn thấy Chúa trong ngôi mộ có đòi hỏi chúng ta phải tin? Liệu lời giải thích ban đầu của các môn đệ “người ta đã lấy xác Chúa ra khỏi mộ” là đúng thì chúng ta hành xử ra sao? Tôi nghĩ chúng ta phải có thái độ khác. Nhưng Chúa đã sống lại và chúng ta không giải thích được. Sức sống Chúa ban qua bí tích rửa tội có khả năng làm cho thế giới nhìn thấy Chúa phục sinh. Chúa phục sinh là thành phần của cuộc sống mỗi người. Nó phải là nguyên lý để chúng ta ảnh hưởng thế giới. Đức tin ban cho chúng ta cái nhìn mà con mắt xác thịt không thể thấy. Cho nên bổn phận của mỗi tín hữu là bày tỏ Chúa phục sinh cho nhân loại.

Các triết gia còn đang bàn tán: “Liệu có cần Chúa hiện ra để các môn đệ tin Chúa sống lại? Theo thiển ý của tôi thì không cần. Bởi vì người môn đệ kia đã thấy ngôi mộ trống và đã tin. Cho nên chúng ta không cần gặp Chúa nhãn tiền như Maria Macđala và các người khác trong Tin Mừng hôm nay để có thể tin. Đức tin của bí tích Rửa Tội là đủ rồi, như Chúa phán cùng Tôma: “Phúc cho những ai không xem thấy mà tin.” Chúng ta nên giống như Gioan, chỉ nhìn vào ngôi mộ trống và đã tin. Chúng ta nên giống như anh mù từ lúc mới sinh, đi rửa mắt ở hồ Siloê và đã xem thấy. Chúng ta nhìn thấy Chúa phục sinh trong những kẻ nghèo hèn chung quanh mình mà cố gắng giúp đỡ. Chúng ta nhìn thấy Chúa phục sinh trong những hoạt động giáo xứ, hội đoàn để tích cực tham gia vào đời sống đức tin chung. Chúng ta nhìn thấy Chúa sống lại trong hàng giáo phẩm, linh mục, tu sĩ, hội dòng để xây dựng nước Chúa giữa trần gian. Chúng ta nhìn thấy Chúa sống lại trong các chính phủ, các trung tâm giáo dục, cứu trợ bác ái để cố gắng làm dậy men muối cho đời. Liệu chúng ta có nhận ra rằng: khổ chế, hi sinh, từ bỏ bản thân là dấu hiệu của Chúa phục sinh trong cuộc đời mình? Và sức sống mới đang tăng trưởng để vươn tới Nước Trời vĩnh cửu?

Người ta hỏi cha Pio 5 Dấu, giải thích về thánh lễ vì ngài dâng lễ rất sốt sắng, tuy kéo dài tới hơn 2 tiếng đồng hồ. Ngài trả lời: “Đó là vĩnh cửu, giống như Chúa Kitô. Làm sao tôi giải nghĩa nổi.” Đức Kitô phục sinh cũng là vĩnh hằng, quyền phép vô biên, chúng ta không thể cắt nghĩa được. Nhưng chúng ta nhìn vào trong mồ trống và chúng ta tin. Ngài sống lại sáng láng hơn biến cố trên núi Tabor. Sáng láng không lưỡi nào tả xíêt như thánh Phaolô viết.

Nhưng Ngài cũng có thân xác loài người như chúng ta. Hy vọng của chúng ta là ở chỗ đó, cũng được phục sinh vinh hiển như Ngài. Ngài sẽ lên cùng Thiên Chúa Cha cũng là Thiên Chúa chúng ta, và thưa: “Con xin về cùng Cha, Con đã thắng trận, là người đầu tiên trong nhân loại sống lại để sống vĩnh cửu, là người đầu tiên trong tạo vật mới của Cha. Xin cha vui mừng với Con. Anh chị em con sẽ theo sau, từng người một trong đời sống đức tin vào Con. Cuối cùng tất cả đều sẽ trở về cùng Cha vinh hiển để sống muôn đời như con nay đang sống.”

Vậy hôm nay chúng ta nên nhập đoàn với các tông đồ khi họ nhìn vào ngôi mộ trống và với người môn đệ kia, chúng ta nhìn thấy cuộc sống mới: Cuộc sống của Đức Kitô Phục Sinh, đang thả rông khắp thế gian, không ai ngăn cản được nữa. Thiên hạ sẽ trông thấy rõ ràng khả năng biến đổi đời mình, biến đổi thế giới, đang sẵng sàng cho những ai đặt hết tin tưởng vào Đấng từ cõi chết sống lại. Amen. Alleluia.

 

Tình Yêu Khơi Nên Hy Vọng Phục Sinh
Chúa nhật phục sinh – C – 4-4-2010

Cv 10: 34a, 37-43; Tv. 118;  Cl 3: 1-4 (or I Cr 5: 6-8); Ga: 20: 1-9

Người “môn  đệ Chúa yêu” đóng một vai trò quan trọng trong bài Tin Mừng hôm nay. Nhưng đây không phải là lần  đầu người môn đệ này xuất hiện trong Tin Mừng Gioan. Ông không chỉ xuất hiện trong trình thuật nói về ngôi mộ trống, thấy vải liệm được cuốn lại và tin. Ông còn có một lai lịch và chính điều này giúp ông tin ngay lập tức khi nhìn vào ngôi mộ trống. Hẳn chúng ta vẫn nhớ hình ảnh ông dưới chân thập giá khi Đức Giê-su bị đóng đinh đã  tin tưởng và trao phó thân mẫu của Người cho ông săn sóc. Ông đã ngồi sát bên Đức Giê-su trong Bữa Tiệc Ly và cùng với Phê-rô, ông nhận tin báo của Ma-ri-a Mác-đa-la về ngôi mộ trống.

Bà Ma-ri-a nghĩ rằng thân xác Đức Giê-su đã bị người ta lấy mất, một kết luận hết sức hợp lý đối với nhiều người chúng ta. Không một ai chờ đợi sự phục sinh! Khi nhận được tin của Ma-ri-a, người môn đệ được yêu đã chạy tới mộ nhanh hơn cả Phê-rô, nhìn vào trong và thấy khăn liệm được xếp gọn gàng. Mặc dù việc khăn liệm được xếp gọn gàng là bằng cớ loại bỏ khả năng thân xác Đức Giê-su bị ăn trộm, nhưng đây vẫn không phải là bằng chứng về sự sống lại. Niềm tin vào sự phục sinh không dựa trên những gì người ta có thể thấy và đo đếm. Người môn đệ này đã không dùng những lý lẽ hay khả năng loại suy để đi đến việc tin. Phải có một điều gì khác nữa, đúng hơn, Một Ai khác.

Người môn  đệ này được gọi là “Người môn đệ  được Chúa yêu.”

Tin Mừng thậm chí cũng không nói với chúng ta là người môn đệ này có nét đặc trưng khác với mọi người bởi có một tình yêu khác thường dành cho Đức Giê-su, một tình yêu lớn hơn tình yêu của các môn đệ khác. Tình yêu của ông dành cho Đức Giê-su như thế nào, chúng ta không hề biết. Chỉ biết rằng ông là người môn đệ được Chúa yêu. Đúng hơn, ông có được vị trí được ưu ái này là do tình yêu của Đức Giê-su dành cho ông. (chúng ta xem như người môn đệ này là một người nam. Điều chúng ta khám phá được về người môn đệ này chính là tước hiệu “người môn đệ được Chúa yêu” có thể áp dụng cho bất cứ ai trong chúng ta – cả nam lẫn nữ.)

Vậy thì, đâu là kinh nghiệm được yêu giúp hình thành niềm tin nơi người môn đệ này? Để biết mình không được yêu không phải chỉ là công việc của cái đầu, một sự kiện để suy tư thuần lý. Nó là một “sự kiện” lan toả khắp mọi phần thân thể, nghĩa là họ phải cảm nghiệm bằng cả con người. Toàn thể hiện hữu của chúng ta sẽ trở nên sinh động hơn trong sự ấm áp và đượm nồng của tình yêu. Người môn đệ được yêu biết rõ tình yêu của Đức Ki-tô và, mặc dầu rõ ràng biết Đức Giê-su đã chết và được mai táng, một cách nào đó ông vẫn tiếp tục cảm nghiệm tình yêu của Ngài. Đấng đã yêu ông vẫn còn yêu ông mãi – Ngài vẫn còn sống, bất chấp những gì đã xảy ra trên cây thập giá mà ông thấy. Cho nên, điều khiến cho ông tin không chỉ là những mảnh vải liệm được xếp gọn gàng, mà chính là tình yêu, một tình yêu mãnh liệt ông vẫn luôn cảm nghiệm. Đó ắt phải là một tình yêu diệu kỳ vượt trên tất cả. Bởi lẽ, ông được biết như là “người môn đệ Đức Giê-su yêu” mà. Kinh nghiệm  trước tiên của chúng ta với tư cách là những môn đệ là chúng ta được yêu với một tình yêu mãnh liệt hơn cả sự chết. Chúng ta tin trong sự lan toả của tình yêu đó và xác tín rằng không chi có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Đức Ki-tô dành cho chúng ta. Ngay cả tội lỗi và cái chết cũng không thể.

Vì chúng ta vẫn luôn ý thức sâu sắc về tình yêu của  Đức Giê-su dành cho chúng ta và tình yêu chúng ta dành cho Ngài, chúng ta cũng tin vào sự phục sinh. Ngài vẫn còn sống và chính tình yêu chúng ta vẫn đang cảm nghiệm khẳng định điều đó. Chúng ta tin rằng chúng ta vẫn đang được ôm ấp trong tình yêu kỳ diệu này –chúng ta đang được hưởng sự sống đời đời, cả khi chết và sau cái chết.

Vậy chẳng phải là chúng ta sẽ sống mãi sao?

Nó có  nghĩa là ngay tại đây và lúc này cái chết không có quyền gì trên chúng ta. Chúng ta đã được biết đến một sự sống được tái sinh. Sự sống chúng ta được hưởng trong Đức Ki-tô. Trong Tin Mừng Gio-an, thấy là thấy bằng con mắt đức tin. Cùng với người môn đệ Chúa yêu chúng ta cũng “thấy và tin.”

Chẳng phải mỗi người chúng ta vẫn nhìn vào một ngôi mộ dạng này hay dạng khác sao? Khi nhìn vào như vậy, chúng ta có khi nào bị cám dỗ không tin chưa? Chúng ta vẫn thấy cái chết và những thi hài: trong bản tin buổi chiều, trên internet, hay báo đài…

Có nhiều bằng chứng cụ thể chống lại niềm tin của chúng ta nơi sự mạnh mẽ của tình yêu trổi vượt trên cái chết. Nơi ngôi mộ trống, người môn đệ biết tình yêu của Thầy mình, vậy thì ngày nay tình yêu đó ở đâu nơi đời sống của rất nhiều người đang sống trong cảnh tuyệt vọng. Chắc chắn họ không thể cảm nghiệm được tình yêu đó dưới bàn tay của các chế độ độc tài, các chính phủ thối nát, hủ bại, các cuộc xung đột sắc tộc và các nhóm tôn giáo, các tập đoàn quốc tế đến chiếm đất và tài nguyên của họ… Ngay cả rất nhiều người trong chúng ta, những con người đang chịu cảnh thất nghiệp, bạo lực, bất công cũng không đủ tự tin để nói rằng mình vẫn được yêu.

Qua đời sống của Đức Giê-su, chúng ta đã nhận biết tình yêu nhưng không của Thiên Chúa dành cho chúng ta và giờ  đây có thêm cơ hội được củng cố trong tình yêu đó nơi bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta phải ý thức rằng đã đến lượt chúng ta phải đặt thịt máu mình vào tình yêu – như Thiên Chúa đã làm cho chúng ta trong Đức Ki-tô. Giờ đây chúng ta rời khỏi ngôi mộ trống, nhìn và mang theo những gì mình tin – Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương. Nhưng chúng ta phải tự vấn rằng : liệu nhận thức đó sẽ ảnh hưởng thế nào tới cách chúng ta đối xử với người khác? Liệu lời nói và việc làm của chúng ta có giúp họ nhận ra Thiên Chúa yêu họ biết bao không?

Chẳng phải qua việc chúng ta tha thứ cho họ, băng bó vết thương cho họ sao? Chẳng phải đó là việc chúng ta đồng hành với họ khi họ bị lạm dụng hay bị lợi dụng sao? Chẳng phải việc chúng ta chia buồn với họ bên mộ phần người thân của họ sao? Chẳng phải đó là việc đến chăm nom và trợ giúp khi những người khác bỏ rơi không quan tâm, săn sóc họ sao?

Nơi ngôi mộ trống, nhìn vào những hệ luỵ sau cái chết, đường như Đức Giê-su luôn vắng mặt: khi kế  hoạch của chúng ta thất bại, tương quan bị mất, sự sống đang rời bỏ chúng ta từng ngày, bệnh tật thắng thế, hôn nhân đổ vỡ… Những ngôi mộ của sự chết và thối nát ra như luôn đeo bám ta suốt cuộc đời và luôn chiếm ưu thế. Nhưng ngôi mộ của Đức Giê-su không chứa đựng sự chết và hư hoại – Nó là một ngôi mộ trống. Đối với các tín hữu, ngôi mộ trống là một dấu hiệu tràn đầy hy vọng và hứa hẹn. Nơi ngôi mộ trống của Đức Giê-su, có nhiều điều mà mắt thường không thấy: các môn đệ được yêu là những người thấy bằng con mắt đức tin, đã tin và rời khỏi ngôi mộ để sống trong một niềm hy vọng và một tình yêu thực hành.

Chúng ta đừng quên Phê-rô. Bài đọc trong sách Công Vụ Tông Đồ hôm nay chỉ là một phần trong bài giảng quan trọng của ngài. Thánh Luca dành khá nhiều không gian cho bài diễn từ này (10,1–11,8) như thể để nhấn mạnh tầm quan trọng của nó. Bài đọc hôm nay cho thấy cách rõ ràng việc Phê-rô tuyên xưng đức tin ở nhà ông Co-nê-li-ô. Co-nê-li-ô và mọi người nhà của ông đều là dân ngoại và sắp được lãnh phép rửa. Phê-rô đang đáp lại lời chăn trối của Đức Giê-su trước lúc ra đi trong Tin Mừng Luca, tin mừng phải được loan báo cho hết mọi dân nước ( 24, 47-49).

Phê-rô  đang bày tỏ những thay đổi sự kiện phục sinh tạo ra nơi ông và cộng đoàn các tín hữu tiên khởi. Sự hiểu biết của ông về Thiên Chúa ngày càng gia tăng. Giờ đây ông nhận ra rằng sứ  điệp cứu độ luôn mở rộng với những ai “làm chứng” Đức Giê-su là “Đấng được Thiên Chúa chỉ định làm Đấng xét xử kẻ sống và kẻ chết.” Phê-rô và các tín hữu tiên khởi đi đến nhận thức rằng Đức Giê-su là Đấng cứu độ phổ quát: Một dấu hiệu của tình yêu Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người, cho dù họ có khác biệt và cách xa với Phê-rô và công đoàn tín hữu nguyên thuỷ bao nhiêu đi nữa.

Phê-rô  cho thấy ông tin vào sứ điệp này và mong muốn công bố cho mọi người. Vậy thì điều gì  đã tiếp thêm sự can đảm cho Phê-rô để  ông nói một cách đầy uy quyền về sự thành toàn của Thiên Chúa nơi Đức Giê-su? Làm sao ông có thể đoan chắc rằng Thiên Chúa muốn vượt ra ngoài dân được chọn để đến với “mọi dân nước”?  Ông không trưng dẫn bất cứ “bản băn làm bằng chứng” nào từ truyền thống. Thay vào đó, ông khẳng định vai trò chứng nhân, “người được Thiên Chúa chọn trước, cùng ăn cùng uống với Đức Giê-su sau khi Người trỗi dậy từ cõi chết.” Ông là một chứng nhân, đã làm chứng cho điều chính bản thân ông cảm nghiệm.

Thế  còn ông Co-nê-li-ô, gia đình và các thế hệ  con cháu của những người được rửa tội thì sao? Chẳng phải họ không chia sẻ kinh nghiệm của Phê-rô; họ không phải là những chứng nhân mắt thấy tai nghe sao? Qua việc đón nhận lời chứng của Phê-rô, họ đã trở thành thế hệ Ki-tô hữu đầu tiên, chứ không phải thứ hai. Như chúng ta vẫn nói, “Thiên Chúa không có cháu.” Những ai tin thì thuộc về thế hệ Ki-tô hữu đầu tiên, chúng ta là con cái Thiên Chúa, được sinh ra nhờ nước qua Thánh Thần. Chúng ta cũng là những Ki-tô hữu chính thống như Phê-rô, người môn đệ Chúa yêu và cộng đoàn những người đầu tiên cảm nghiệm Đức Ki-tô Phục Sinh.

Vì lời chứng chúng ta nghe đến từ những người làm chứng cho sự phục sinh, chúng ta cũng cần nhìn vào ngôi mộ trống, “để thấy và tin.” Chính đôi mắt và đôi tai chúng ta phải được mở ra để ta có thể nhận biết Đức Ki-tô Phục Sinh ngay trong cuộc đời mỗi người chúng ta.

Giờ  đây, chúng ta trở thành những chứng nhân, chúng ta sẽ diễn tả những chứng từ mà bản thân kinh nghiệm về sự phục sinh như thế nào đây? Chính là qua việc trao ban những gì chúng ta đã đón nhận, đó là trao ban sự tha thứ và tình yêu cho những ai chưa tìm thấy. 

Anh Em HV Đaminh chuyển ngữ.


LM. Jude Siciliano, O.P.

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)