dongcong.net
 
 

Chia sẻ của LM Jude Siciliano, OP


CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH -C- 21-4-13
CVTĐ 13: 43-52; Tv. 100; Khải.huyền 7: 9, 14-17; Gioan 10: 27-30

TÔI BIẾT CHÚNG, VÀ CHÚNG THEO TÔI

Trong đời, ai mà không từng có những lần dao động lòng tin? Ai không từng băn khoăn những lúc trầm cảm và phân vân về lòng tin của mình? Khi người thân yêu của ta qua đời sau một thời gian dài chịu đau khổ, nhiều người sẽ tự hỏi: “Sao Chúa lại để cho bà ấy chịu đau khổ lâu thế? Sao Người không cất bà đi sớm hơn? Tất cả những đau khổ ấy thì có ích gì kia chứ?” Đôi lúc gặp phải những vấn đề như thế, người ta đâm ra thất vọng về Thiên Chúa. Dù họ có thể không từ bỏ niềm tin hoặc những việc thực hành đạo đức nhưng có lẽ giờ đây việc cầu nguyện và thờ phượng đối với họ chỉ như như công việc thường ngày, đơn giản chỉ làm vì thói quen.

Những Kitô hữu mà sách Khải huyền và Tin mừng Gioan hôm nay nhắc đến đã phải trải qua nhiều gian truân trong đức tin. Họ bị rúng động bởi việc bắt bớ và sự phản đạo. Kết quả là, trong những lúc khó khăn như thế người ta đã bỏ việc thực hành đức tin của mình. Đức Giêsu ở đâu và tại sao Người không trở lại như đã hứa? Bên cạnh những áp lực bên ngoài, thì cám dỗ nghi ngờ Thiên Chúa còn đến từ rất nhiều những vấn đề như được nhắc đến ở trên. Cũng như chúng ta, họ đã tự hỏi Thiên Chúa ở đâu khi mà những thảm cảnh ấy xảy ra cho gia đình, hoặc chính bản thân họ.

Trong những lúc gian truân, người tín hữu có thể sẽ cảm thấy rất bất an hoặc không còn muốn bám víu vào Thiên Chúa. Quý vị có thể thấy hậu cảnh của những đau khổ mà các tín hữu thời Giáo hội thời sơ khai phải trải qua như được nhắc lại trong sách Khải huyền và Tin mừng Gioan. Nhưng điều mà tác giả sách thánh muốn nói với chúng ta hôm nay là ngay cả khi chúng ta cảm thấy mình đang rơi tự do thì Thiên Chúa không bao giờ buông tay chúng ta.

Đôi tay vững chắc là tài sản quan trọng và cần thiết đối với các vận động viên. Nhưng thậm chí một cầu thủ bóng chày xuất sắc nhất cũng có thể đánh một cú pop-up và khiến cho đội kia ghi điểm dành chiến thắng trước đội chủ nhà. Nhưng Đức Giêsu, vị Mục Tử, sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta. “Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”. Chúng ta, những người tín hữu, cần những đôi tay vững chắc như thế khi cuộc sống đang cố hạ gục chúng ta.

Những Tông đồ đầu tiên là Phaolô và Banaba có thể đã bị cám dỗ nghĩ rằng Thiên Chúa đã bỏ rơi họ. Trong sách Công vụ Tông đồ, chúng ta nghe về phương pháp rao giảng của các ông. Khi đến một thành mới, thì trước tiên hai ông đến hội đường và rao giảng vào ngày Sabbát. Nhưng, lời giảng của hai ông ở Antiôkhia gặp phải sự chống đối của một số người, “họ sinh lòng gen tức và phản đối những lời ông Phaolô nói”. Thay vì bỏ cuộc thì hai ông lại tiến lên. Hai ông nhận ra rằng sứ điệp cứu độ không chỉ dành cho những người Dothái mà còn dành cho cả thế giới. Đức Kitô đã không bỏ rơi các ông. Sau những thất bại ban đầu thì đôi tay chắc chắn của Vị Mục Tử Nhân Lành đã mở ra một cách thức mới để toàn thể nhân loại được nghe Tin mừng.

Sách Khải huyền mô tả hàng loạt những thị kiến liên quan đến các tín hữu đã trải qua thử thách. Một số người xem sách Khải huyền như là cẩm nang dự đoán về ngày tận thế. Đây thực ra không phải là sách viết về những phỏng đoán tương lai, nhưng là lăng kính giúp giải thích hiện tại cũng như giúp chúng ta biết đặt niềm hy vọng nơi Vị Mục Tử đang nói với chúng ta hôm nay trong Tin mừng Gioan.

Trong đoạn trích sách Khải huyền hôm nay, “đoàn người đông đảo” mặc áo trắng, “tay cầm nhành lá thiên tuế” – là dấu hiệu của sự chiến thắng. Cuối cùng! Họ đã chiến thắng sau khi “đã trải qua cơn thử thách lớn lao…!” Những người kiên nhẫn chịu đau khổ này đã được Con Chiên dẫn dắt. Thật là sự nối kết tài tình giữa các hình ảnh! Đấng là Mục Tử cũng là Con Chiên, dẫn dắt chúng ta qua đau khổ và cái chết. Đấng đã từng đi qua hành trình gian khổ ấy không bỏ mặc chúng ta, nhưng Người sẽ đi trước, dẫn đường và đưa chúng ta đến sự sống bất diệt. Khi nghe được lời hứa này ngay trong đời thì không một khó khăn và thử thách nào có thể kéo chúng ta xa rời con đường mà Đấng Mục Tử đã đảm bảo, “…không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”.

Ngày nay chúng ta có Internet, lò vi sóng và phi cơ, nhưng chúng ta sống như những người tín hữu thuở đầu, trong một thế giới đầy cám dỗ và đau khổ. Ngoài ra, Giáo hội của chúng ta cũng bị phân chia thành nhiều phần vì phụng vụ, quyền lực, hình thức mục vụ, và những tranh cãi về giáo thuyết,… giống như Giáo hội của họ. Giữa những Giáo hội Kitô giáo còn một khoảng cách rất lớn. Vì thế, chúng ta ngồi xích lại cạnh bên những người còn ngăn cách với chúng ta trong niềm tin, những người lần đầu nghe sách Khải huyền.

Với họ, chúng ta nghe được lời hứa về cuộc quy tụ cuối cùng của tất cả mọi người trước nhan Thiên Chúa. Khi việc ấy xảy đến, chúng ta tín thác vào lời hứa này rằng “Đấng ngự trên ngai sẽ căng lều của Người cho họ trú ẩn”. Tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa sẽ ôm ấp tất cả chúng ta, dù ta có xuất thân từ đâu, thuộc tầng lớp nào, nói thứ ngôn ngữ gì. Chúng ta sẽ trở thành những thọ tạo mới quây quần quanh bàn ăn dư đầy: “sẽ không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa”.

Tác giả sách Khải huyền có lẽ sẽ tiếp tục bằng câu: “Trong khi đó…” Vì bài đọc không chỉ nói đến cái nhìn về tương lai. Nhưng đó là việc chúng ta sống ra sao ngay ở đây và lúc này. Chúng ta tin tưởng vào bàn tay dẫn dắt và tiếng nói của vị Mục Tử, Đấng đã hứa cho chúng ta một nơi an toàn “không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha”.

Sách Khải huyền cho biết về một tương lai mà chúng ta không tự mình đạt được. Trong một thế giới cạnh tranh và chia rẽ chúng ta mới cảm thấy cần nhau. Chúng ta phụ thuộc lẫn nhau; tương lai và hiện tại đan xen vào nhau. Chúng ta không thể sống dửng dưng và cô lập nếu muốn đến trước “Đấng ngự trên ngai” để được chung bàn và cùng nhau dự tiệc.

Thị kiến mà sách Khải huyền cho chúng ta biết hôm nay đã xảy ra: ngay tại yến tiệc Thánh Thể này chúng ta có một tương lai dọn sẵn mà chúng ta mong muốn chia sẻ cho những người khác. Với hiện tại, chúng ta có thể thấy điều mà một ngày nào đó, sẽ hoàn toàn xảy ra. Chính Thiên Chúa quy tụ chúng ta lại cùng nhau và nhờ đó giờ đây chúng ta sống và cùng nhau cộng tác với viễn cảnh đó cũng như lời hứa về sự hiệp nhất.

Chuyển ngữ : Anh em HV Đaminh Vò Vấp

4th SUNDAY OF EASTER -C
Acts 13: 43-52; Psalm 100; Rev. 7: 9, 14-17; John 10: 27-30

Who hasn’t wavered in faith over a lifetime? Who hasn’t wondered in times of stress, whether they could continue to believe? The death of a loved one who has gone through a period of suffering raises questions for some, "Why did God let her suffer so long?" "Why didn’t God take him sooner?" "What possible good could all that suffering have done?" Sometimes, after such periods of stress, people feel let down by God. While they might not stop believing or practicing their faith, they go in a kind of automatic pilot, as prayer and worship feel routine and merely done out of habit.

The early Christians, to whom the Book of Revelation and John’s Gospel were addressed, had much that stressed their faith. They were shaken by persecution and apostasy. As a result, in the hard times people gave up their practice of faith. Where was Jesus and why hadn’t he returned as he promised? Add to all these outside pressures, the temptation to doubt God brought on by similar issues mentioned above. They, like us, would have wondered where God was when personal tragedies to their families and loved ones occurred.

Believers under stress can feel very insecure, as if they are losing their grip on God. You can hear the background of suffering in the lives of the earliest Christians in our readings from the Book of Revelation and the gospel of John. But what our sacred writers tell us today is that, even when we feel in free-fall God hasn’t lost hold of us.

Sure hands are essential and necessary assets for most athletes. But even the best baseball player can drop a routine pop-up, causing the winning run to score and the home team to lose. But Jesus, the Shepherd, won’t drop us. "No one can take them out of my hand." We believers need those sure hands when life struggles try to pull us to the ground.

The earliest apostles Paul and Barnabas must have been tempted to think that God had left them on their own. In Acts we hear about their preaching methods. When they arrived in a new town,they would first go to the synagogue on the Sabbath to preach. But their message in Antioch met hostility from some, "and with the violent abuse contradicted what Paul had said." Rather than give up they made a critical move. They realized the message of salvation wasn’t just meant for the Jewish community, but for the whole world. Christ had not abandoned them. Out of initial failure and frustration the sure hands of the Shepherd opened the way for the world to hear the Good News.

The Book of Revelation describes a series of visions addressed to believers undergoing trial. Some people read the visions in Revelation as a roadmap to discover when, at some future time, our world will end and the end-time begin. It’s not a book that predicts the future, but a lens to help us interpret the present and give us hope in the Shepherd who speaks to us today in John’s Gospel.

In today’s passage from Revelation, "the great multitude" is wearing white robes, "holding palm branches in their hands" – signs of victory. Finally! Victory – after having "survived the time of great distress…!" The struggling and long-suffering ones have been shepherded by the Lamb. What a combination of images! The one who is the Shepherd is also the Lamb, who was one of us through suffering and death. He who has made that arduous journey first, will not let go of us, but will walk ahead of us, leading us to eternal life. Hear the promise in the midst of this moment of our lives: no matter the difficulties and tests that would pull us off the path, we have the Shepherd’s assurance, "… they shall never perish. No one can take them out of my hand."
We moderns have the Internet, microwaves and jet travel, but we live as the early Christians did, in a world with temptations and suffering. In addition, our church is divided into factions over liturgy, authority, forms of ministry, doctrinal disputes, etc. – as was theirs. Among Christian denominations there are deep rifts. So, we pull up a chair and sit besides our forbearers in faith who heard Revelation for the first time.

With them we hear the promise of a final gathering of all peoples before God. Until that happens we hold to the assurance that, "The one who sits on the throne will shelter them." God’s love and power will embrace us all, whatever our backgrounds, national origins, races, first languages, etc. We will be a new creation gathered around a bountiful table. "They will not hunger or thirst anymore, nor will the sun or heat strike them."

The author of Revelation should have started the next sentence, "In the meanwhile…." Because the reading isn’t just a look into the future. It’s about how we are to live here and now. We trust in the guiding hand and voice of the Shepherd who assures us of our secure place, "No one can take them out of the Father’s hand."

Revelation gives us a vision: a prospective we don’t have on our own. In a competing and divided world we receive a vision of our mutuality. We are interdependent; our present and our future are entwined. We cannot live lives of indifference and isolation; not if we plan to go before, "the one who sits on the throne" and be fed together at the same table.

The vision Revelation gives us has already begun to happen: at this Eucharistic feast we have a kind of down payment on the future that we expect to share with one another. For the present, we can see – what will be one day, is already happening. God is drawing us together and so we might as well live now cooperating with that vision and promise of unity.

April 18, 2013

LẮNG NGHE VÀ THỰC HÀNH LỜI CHÚA TRONG CUỘC SỐNG
CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH C
Ga 10, 27 – 30

Thưa quý vị,

Tuần trước tôi đề nghị mùa này chúng ta suy niệm bài đọc 1 và 2, tức sách Tông Đồ Công Vụ và sách Khải Huyền. Tuần vừa qua, chúng ta suy niệm về sách Khải Huyền. Tuần này về Công Vụ.

Thánh sử Luca kết thúc Phúc Âm khá đột ngột với lời dặn dò của Chúa Giêsu: “Phần thầy, thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em hãy ở lại trong thành cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống”(Lc 24,49). Trong Công Vụ Tông Đồ, Luca nhắc lại lời hứa ấy: “Một hôm, đang khi dùng bữa với các tông đồ, Đức Giêsu truyền cho các ông không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe thầy nói.” (Cv 1, 4). Chúng ta nên theo gương các môn đệ, cũng chờ đợi ơn đổi mới của thần khí đổ xuống trên chúng ta và trên Giáo Hội. Nghĩa là cầu nguyện và tỉnh thức suốt mùa Phục Sinh này cho tới ngày đức Thánh Linh ngự xuống. Công Vụ tuyên bố rõ như vậy khi mô tả lưỡi lửa xuất hiện và đậu trên mỗi môn đệ trong nhà tiệc ly – tức lời hứa cuả Chúa Giêsu đã được làm tròn: “Và họ đầy tràn Thần Khí.”(2, 4). Bản văn hôm nay mô tả sứ vụ của hai môn đệ Barnaba và Phaolô (13, 1-15; 35). Phaolô có cơ hội rao giảng trong hội đường (13, 16-41). Đầu tiên người ta nghe ông thuận lợi. Nhưng ngày thứ 7 sau, ông gặp chống đối từ “các người Dothái”. Hậu quả là ông và Barnaba chuyển đổi sứ vụ “Chúng tôi sẽ quay sang dân ngoại”. Đây là khúc quẹo quyết định của Giáo Hội tiên khởi, đúng lúc mà các ông nhận ra rằng ơn cứu độ của Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho dân Dothái mà thôi, nhưng cho cả thế giới.

Bước đi từ đóng kín sang mở rộng không phải dễ dàng. Giáo Hội tiên khởi đã ăn rễ sâu trong truyền thống Dothái, lúc này thay đổi não trạng để chấp nhận dân ngoại quả là điều khó khăn. Hơn nữa các dân ngoại đâu có biết chi về truyền thống và tôn giáo của các tín hữu tiên khởi thì làm thế nào thích nghi nổi? Ngoài ra dân tộc Dothái từng chịu và đang chịu đau khổ do các bàn tay độc ác của quyền bính dân ngoại. Làm sao có thể tin tưởng và yêu mến “dân ngoại”? Những cuộc lưu đày Ai Cập, Babylon, những kiếp nô lệ, thần phục ngoại bang chưa đủ bằng chứng sao? Chưa chết đối với não trạng truyền thống tôn giáo của cha ông và ngay cả dân chúng lúc này, dân ngoại chẳng qua chỉ là kẻ thờ ngẫu tượng, phục bái gỗ đá, satan, và vô luân thường đạo lý thì làm sao ngồi chung với họ? Cho nên các tín hữu gốc Dothái phải chịu một sự chia rẽ đau đớn. Một số muốn giữ cặn kẽ luật Môsê và truyền thống của dân tộc không muốn quan hệ với dân ngoại, ngay cả khi họ đã tin kính Đức Kitô. Số khác ý thức về nghĩa vụ truyền giáo Chúa ban, muốn rao giảng Ngài cho muôn dân, đem họ về tin kính Đức Kitô càng nhều càng tốt.

Ngay cả thời nay việc mở cưả Giáo Hội cho cộng đồng dân ngoại, thâu nhận họ vào hàng ngũ tín hữu không phải lúc nào cũng thuận lợi. Cứ nhìn xem tình hình các giáo xứ hẳn chúng ta nhận ra sự thật: Di dân, người nước ngoài, da màu, nghèo khổ, thất nghiệp, ly dị, đồng tính luyến ái đâu có được chấp nhận dễ dàng, đâu có hoà hợp hoàn hảo? Cứ hỏi chính các đương sự, người ta sẽ cho biết mình bị các chức sắc Giáo Hội “hành” ra sao? Giấy tờ, tiền bạc, chứng minh thư, điều kiện, thôi thì đủ mọi thứ! Có người phải mất tới nửa năm mới “ổn” được một chỗ trong giáo xứ! Thử hỏi chúng ta có tiến bộ hơn công đoàn tín hữu tiên khởi? Câu trả lời phải là “không”, vì tiêu cực đầy rẫy.

Vậy thì tại sao lại xảy ra tình trạng đó? Nhiều người ngày nay đặt câu hỏi: “ecumenism”(phong trào đại kết) mà Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII lớn tiếng hô hào nghĩa là gì? (ĐGH dùng tiếng Ý “aggionamento”). Đã là tín hữu Chúa Kitô, tại sao người ta phân biệt, kỳ thị? Tín hữu Chúa Kitô, hay tín hữu cha này, cha kia? Rào cản tự ý dựng nên nhiều quá! Tại sao sợ hãi tìm hiểu đối thoại? Sợ mất cái chi? Thua thiệt điều gì mà không hạ bớt các hàng rào ngăn cách các tín hữu? Phải chăng sợ mất uy quyền, lợi lộc, căn cước? Câu hỏi không khó trả lời. Cho nên chúng ta không thể trách cứ cộng đồng tiên khởi. Việc Phaolô, Barnaba quay sang dân ngoại là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Hội Thánh! Chọn lựa của hai vị rất đúng và do Thánh Linh quyết định.

Suy gẫm kỹ hơn, người ta nhận ra đặc tính của các tông đồ sau khi Chúa lên trời là sẵn lòng chịu bách hại và khiển trách, một đặc trưng của các ngôn sứ! Bài đọc kể, nếu nơi nào đó, người nào đó từ chối, các ngài rũ bụi chân lại mà đi nơi khác, vì Lời Chúa không thể bị trói buộc. Bị khước từ, họ không bi quan yếm thế, nhưng ý thức mạnh mẽ hơn sứ vụ “bởi Chúa đã truyền cho chúng tôi phải nói nhân danh Đức Kitô.” Đấy cũng là đặc trưng khác của các tông đồ. Bài đọc tuần qua kể: “Các tông đồ ra khỏi thượng hội đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Kitô” (Cv 5, 4). Khi đi rao giảng lần thứ nhất, các tông đồ loại trừ dân ngoại (Mt 10, 5). Nhưng hôm nay hai ông Barnaba và Phaolô lại đến với họ. Sau này Phaolô được mệnh danh là tông đồ dân ngoại. Như vậy các ông đã ngộ ra lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ thầy".(Mt 28, 19). Phúc Âm phải vươn tới thế giới. Do thái và dân ngoại không loại ra khỏi tầm với của nó. Hai tông đồ ý thức được điểm nhấn của Chúa trong sứ vụ rao giảng.

Như vậy trong tinh thần của họ, chúng ta cũng nên thực hiện một bước ngoặt trong nhiệm vụ gieo rắc Lời Chúa cho thế giới, nhất là trực tiếp trong môi trường giáo xứ, các đoàn thể và phụng vụ. Xin đừng “hành” thiên hạ nữa, mà thực sự phục vụ. Gặp khó khăn thì nên tháo gỡ thay vì trói buộc, cảm thông hơn là hành quyền. Liệu quý chức trong ban hành giáo, giám đốc các đoàn thể có phản ứng ra sao về tính đa dạng trong các hàng ghế nhà thờ? Kỳ thị hay thân thiện? Liệu ý kiến của thiểu số được tôn trọng hay đám đông a dua nịnh bợ bề trên là hơn hết? Liệu đúng là nhóm cầm “nọc” quyết định mọi sự? Liệu chúng ta có vui lòng chào đón những di dân, người ngoại quốc hay khinh bỉ, tẩy chay? Liệu “dân ngoại” tân thời có tồn tại trong giáo xứ chúng ta? Nhiều câu hỏi khác sẽ thức tỉnh thái độ giữ đạo của tín hữu hôm nay. Lời Chúa Giêsu trước khi về trời là hứu ban Thánh Thần xuống trên các môn đệ, Thần Khí của Ngài sẽ đem khả năng cho các ông hiểu đúng và tuân giữ các lệnh truyền. Ngày lễ hiện xuống, chúng ta cử hành Chúa Thánh Thần xuất hiện trên mỗi linh hồn và ở với chúng ta luôn mãi. Trong danh Thần Khí đó mà Barnaba và Phaolô đã đến với dân ngoại. Còn chúng ta thì sao? “Dân ngoại” của chúng ta là những ai? Tin Mừng hôm nay sẽ trả lời câu hỏi.

Chúa nhật 4 Phục sinh được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Tiêu đề này phần nào trả lời cho câu hỏi trên. Trước bản văn là tường thuật Chúa Giêsu đi đi lại lại trong đền thờ vào dịp lễ cung hiến: “Khi ấy, ở Giêrusalem người ta đang mừng lễ cung hiến đền thờ. Bấy giờ là mùa đông, Đức Giêsu đi đi lại lại trong đền thờ, tại hành lang Salomon” (Ga 10, 23). Vậy thì bối cảnh là lễ cung hiến đền thờ tại thành thánh Giêrusalem.

Đền thờ này bị vua Antiocho và người Seleucid làm ô uế khi họ chiếm đóng Giuđa. Tướng Maccabêô và anh em nổi dậy đánh đuổi quân thù. Các ông thành công, tẩy rửa và thánh hiến đền thờ. Hàng năm người Dothái kỷ niệm biến cố này trọng thể vào phỏng tháng 9 dương lịch, Phúc Âm Gioan chỉ viết là mùa đông. Đây cũng là kỷ niệm chiến công hiển hách của dân Dothái chống ngoại xâm.

Dịp lễ rất là trọng đại, có ý nghĩa sâu sắc cho việc Chúa Giêsu tự xưng là Chúa Chiên Lành, Chúa chiên đích thực như chúng ta vừa nghe trong bài đọc 3. cứ như văn bản, khi việc nổi dây và tài lãnh đạo cách mạng được kính nhớ, người Dothái vây quanh Chúa Giêsu hỏi Ngài “Ông còn để lòng trí chúng tôi thắc mắc cho tới bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô thì xin nói công khai cho chúng tôi biết.” Câu hỏi biểu lộ họ đang trông đợi một Giuđa Maccabeo mới để chống lại quân ngoại xâm Lamã.

Bài đọc hôm nay tiếp nối, Chúa Giêsu trả lời cho họ: “Tôi đã nói cho các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin vì các ông không thuộc về đàn chiên của tôi. Chiên tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi.”

Chúa Giêsu có thể dễ dàng thuận theo ý muốn của người Dothái, kêu gọi dân chúng đứng dậy chống Rôma như nhiều người đã làm. Ngài sẽ có cả một đám đông hùng hậu đằng sau mình. chí ít cũng 5 ngàn đàn ông muốn tôn Ngài làm vua sau phép lạ hoá bánh trước đó.

Nhưng không, sứ vụ lãnh đạo của Ngài mang ý nghĩa khác. Ngài lấy lại hình ảnh chúa chiên lành của các ngôn sứ trong Cựu Ước, nhất là Amos, Isaia, David, những ngôn sứ đã từng là kẻ chăn chiên. Dĩ nhiên khi nghe Ngài dân chúng nhớ lại kỷ niệm về các ngôn sứ và nội dung họ rao giảng. Vua chúa Giuđa, Israel cũng được mệnh danh là kẻ chăn dắt tuyển dân. Nhưng sau khi loại bỏ các vua chúa bất xứng, không trung thành với giao ước thì Thiên Chúa hứa ban cho dân tộc một người dẫn dắt mới “bonum pastorem dabo vobis”(Ta sẽ ban cho các ngươi một chúa chiên tốt lành).

Đó chính là hình ảnh Chúa Giêsu nói đến hôm nay, chứ không phải Maccabêô mới mà người Dothái mong chờ. Ngài xưng mình là mục tử nhân lành, là sứ giả của Thiên Chúa và các công việc Ngài làm tỏ lộ như vậy. Nếu như tuyển dân được giải phóng, sống tự do hạnh phúc thì họ phải được Thiên Chúa chăm sóc, hướng dẫn và đi trong đường lối của Ngài, chứ không phải bạo lực chính trị. Những ai nghe tiếng Chúa Giêsu thì Ngài sẽ chăm sóc. Người mục tử tốt luôn bên cạnh đàn chiên và đàn chiên nhận ra và đi theo người ấy. Chẳng có chi phân tán được đàn chiên- ngay cả sự chết và cửa hoả ngục: “Ta sẽ ban cho chúng sự sống đời đời, chúng sẽ không bị diệt vong.” Chắc chắn đây không phải là lời hứa hão huyền.

Cho nên hôm nay là cơ hội tốt để chúng ta gẫm lại ơn gọi của mình. mỗi người đều có ơn gọi. Nhưng ơn gọi chung nhất và căn bản nhất là yêu mến. Yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Nhất là các linh mục, tu sĩ phải nêu cao tấm gương mục tử.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, khi nói với 23 thày phó tế trước mặt ngài để lãnh tác vụ linh mục, ngài đã lý luận như sau: “Người ta gọi tôi là đại diện Chúa Kitô, nhưng chức vụ ấy đâu bằng chức vụ mục tử mà các thày sắp lãnh nhận? Nó nói lên rằng các thày sẽ hành động trong ngôi vị Đức Kitô (in persona christi). Trong ngôi vị Đức Kitô mạnh mẽ và đòi hỏi hơn đại diện Chúa Kitô. Đó là một màu nhiệm ghê gớm và hấp dẫn.” Các linh mục nghĩ thế nào? Vì hôm nay cũng là ngaỳ cầu nguyện cho ơn gọi linh mục!

Giống như các tông đồ, họ phải chịu bắt bớ, chết chóc hàng ngày như chức vụ môn đệ Chúa đói hỏi. Chúng ta cũng sẽ gặp hoàn cảnh tương tự cho đế khi đối diện với cái chết thể lý. Chúng ta phải neo chặt vào Lời Chúa và nghe thấu tiêng Ngài, vì vậy dù ở giữa Phúc Âm Gioan, Giáo Hội cũng chọn cho chúng ta nghe đọc hôm nay, giữa mùa Phục Sinh. Ngõ hầu tiếng Đấng sống lại từ cõi chết sẽ ban cho chúng ta khả năng chọn lựa Chúa và ở gần Ngài mãi mãi cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay. Tiếng ban sự sống đời đời sẽ khiến chúng ta trung thành với sứ vụ của ơn gọi. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ diệt vong. Không còn hy vọng nào đẹp đẽ hơn. Amen. Alleluia.
Lm. Jude Siciliano, OP.

LM. Jude Siciliano, O.P.

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)