Chia sẻ của LM Jude Siciliano, OP
NIỀM HY VỌNG VÀ SỰ AN ỦI NƠI THIÊN CHÚA
CHÚA NHẬT V PHỤC SINH - C-2013
CVTĐ 14: 21-27; Tv. 145; Khải.huyền 21: 1-5; Gioan 13: 31-33, 34-35
Trong các bài đọc Chúa nhật mùa Phục sinh này, sách Khải huyền xuất hiện 6 lần. Sau này sách Khải huyền sẽ không xuất hiện lại nữa trong hai năm cho đến khi quay lại chu kì năm C, vào năm 2016. Vì hiếm khi chúng ta có cơ hội nghe sách Khải huyền, nên tôi đã suy tư về các bài đọc này, ít là một phần trong những tuần qua.
Tôi thắc mắc không biết có bao nhiêu người trong chúng ta đọc sách Khải huyền để suy niệm riêng? Tôi thì hiếm khi. Nhưng tôi nhớ có vài người thường hay đọc. Họ là những bạn tù ở nhà giam San Quentin gần San Francisco. Tôi ngạc nhiên khi lần đầu tiên khám phá ra điều này. Nhưng nó củng cố cho lý do rằng họ tìm kiếm nguồn an ủi trong cuốn sách về các thị kiến bí ẩn này. Chúng ta có thể thấy ngôn ngữ toán học kỳ dị, khó hiểu và thậm chí còn kỳ quặc. Nhưng, những người bạn tù mà tôi biết ở East Block, nơi có sự bảo vệ chặt chẽ nhất, đã nhận ra rằng sách Khải huyền rất thích hợp với họ. Những hình ảnh chúng ta có thể thấy là kỳ cục, hay siêu phàm, cách nào đó lại nói về niềm hy vọng và sự nhẫn nại cho những con người đang bị giam trong bốn bức tường 23 giờ một ngày.
Thị kiến về thời cánh chung của sách Khải huyền đã giúp cho những tù nhân tập trung vào thời điểm tự do trong tương lai. Họ hy vọng sẽ xảy ra trong cuộc đời của họ, dù một số không có ngày ra, vì thế những thị kiến về “một trời mới và đất mới” như Gioan hứa với họ, mang đến cho họ niềm an ủi và hy vọng rằng sau cùng họ cũng được giải thoát cuộc đời lao lý.
Tôi không muốn quí vị ngạc nhiên với việc San Quentin có 5.000 đọc giả Kinh thánh. Trái lại, như tôi đã nói “một vài tù nhân” có sách Kinh thánh và tìm thấy nguồn an ủi nơi Lời Chúa, đặc biệt nơi sách Khải huyền. Đây cũng là trường hợp dành cho các tín hữu sơ khai khi lần đầu tiên nghe sách này. Họ là con số nhỏ trung thành với niềm tin của mình cũng như phấn đấu để cùng nhau sống cộng đoàn dù bị bao quanh bởi thế giới thù địch. Thậm chí, tác giả sách này cũng chịu áp bức, khi ông nói: “Tôi là Gioan, một người anh em của anh em, tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Giêsu. Khi ấy tôi đang ở đảo gọi là Patsmo vì lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giêsu” (1,9). Như vậy, tác giả đang sống trong lưu đày, chịu đau khổ trong tù, vì “làm chứng cho Đức Giêsu”.
Chúng ta không cần phải bị giam cầm hay lưu đày mới trở thành những độc giả của sách Khải huyền, để lắng nghe và được Lời Chúa thôi thúc – và để chịu thử thách sống đức tin cách kiên vững mà chúng ta tuyên xưng trong thánh đường mỗi Chúa nhật.
Nếu trước đây chúng ta đã không để ý, thì bài đọc hôm nay cho thấy rõ rằng sách Khải huyền nhằm an ủi những ai đang trải qua thử thách đức tin. Xuyên suốt sách Khải huyền là một bảo đảm rằng, dù cho những tội ác có vẻ rõ ràng chiến thắng trên thế giới, nhưng Thiên Chúa tối cao và công minh cuối cùng sẽ chiến thắng sự ác và ban tặng sự công chính cho những ai kiên tâm bền chí và sống đời tín thác. Sách Khải huyền nói với những ai đang nhìn lên Thiên Chúa để xin nguồn an ủi; hẳn sự an ủi chỉ có ở nơi Thiên Chúa. Cách nào đó, đây là sách mang tính ngôn sứ, thôi thúc chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa và sống kiên trung với giao ước mà Thiên Chúa đã ký kết với chúng ta trong Đức Kitô.
Chúng ta sẽ được nghe sách Khải huyền cho đến Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Bài đọc hôm nay nằm ở cuối sách, một trong những thị kiến thường được trích dẫn, khơi lên niềm hy vọng và sự mong chờ nơi những thính giả đầu tiên xưa kia – và chúng ta bây giờ. Thị kiến về thành Giêrusalem mới là thị kiến thứ bảy cũng là cuối trong loạt những thị kiến về những sự sau hết. Đoạn văn trước (20, 11-15) mô tả sự tận cùng của cuộc sáng tạo cũ: Thiên Chúa đang lại bắt đầu với “trời mới đất mới”. Chúng ta sẽ không nhìn vào không trung để tìm thế giới mới này, nhưng nó sẽ xuất hiện tại đây, ngay cạnh chúng ta.
Sứ điệp mà chúng ta nghe công bố là chiến thắng cuối cùng của Thiên Chúa nhân lành. Hãy tưởng tượng xem khi các tín hữu được nâng lên sau những đau khổ; được ủi an khi nghe biết rằng họ sẽ không bị bỏ rơi. Thiên Chúa luôn nhớ đến họ và ở với họ. Hơn thế nữa: Thiên Chúa luôn ở trong họ. Quyền lực nào có thể tách họ ra khỏi Thiên Chúa?
Vì sự bách hại của Domitian (81-96) những người Dothái và những tín hữu Dothái đang trốn chạy khỏi Châu Á. Họ sẽ bị phân tán, bị tấn công và hoảng sợ. Những Kitô hữu bày tỏ niềm tin vào Đức Giêsu là Đấng Mêsia, không còn được liên kết với các anh chị em Dothái ban đầu. Họ dần trở thành một cộng đoàn tín hữu tách biệt, nhỏ bé và dễ bị tổn thương. Các tông đồ đã chết và trong thế giới mới cùng với thực tế khắc nghiệt của cuộc sống hẳn các Kitô hữu này đã cảm thấy rất cô đơn.
Gioan cho họ biết rằng những gì mà họ có là một Giêrusalem mới. Thiên Chúa, Đấng Tạo hoá, bằng cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu, đã tái tạo lại chúng ta. Những điều cũ, đau khổ và tội lỗi không còn thống trị trên chúng ta nữa. Tại sao “biển không còn nữa”? Vì biển đại diện cho sự hỗn độn và nguồn tội lỗi mà con quái vật đi lên để đuổi bắt con người. Vì thế, tất cả những gì là tội ác và dìm con người xuống, nay sẽ không còn. Đối với một cộng đoàn hay cá nhân chịu đau khổ lâu dài, bài đọc hôm nay không chỉ là một bài thơ đáng yêu, nhưng còn khẳng định: cuối cùng Thiên Chúa sẽ chiến thắng sự dữ. Như Gioan viết: “Này đây Ta làm mới mọi sự”. Người sẽ thực thi lời hứa rằng nỗi đau sẽ chấm dứt, đau khổ sẽ không còn nữa và một thời mới sẽ bắt đầu. Sẽ không còn nước mắt, “không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ, vì những điều cũ đã qua đi”. Những gì đã bị tội lỗi cướp mất sẽ được Thiên Chúa cư ngụ giữa chúng ta làm mới lại.
Đền thờ ở Giêrusalem là trung tâm của việc phụng tự Dothái. Đền thờ nguy nga rộng lớn là biểu tượng của giao ước bền vững của Thiên Chúa với dân. Thánh điện bên trong, nơi cực thánh, là nơi vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện trên mặt đất. Quí vị có thấy rằng Đền thờ, trung tâm của Giêrusalem cũ, không được đề cập ở Giêrusalem mới đang từ trời xuống phải không? Sau đó, Gioan nói: “Tôi không thấy có Đền thờ trong thành, vì Đức Chúa, Thiên Chúa toàn năng và Con chiên là Đền thờ của thành” (21,22). Thay cho nơi phụng tự cũ trong Đền thờ, Thiên Chúa sẽ ngự giữa chúng ta. Các ngôn sứ đã hứa điều này (Gr 31,33; Ed 37,27-28). Thiên Chúa sẽ chiến thắng sự ác và sẽ hiện diện vĩnh cửu mà không tội ác, khổ đau và quyền lực nào có thể lấy đi được.
Thánh Phaolô đã cho chúng ta biết Giêrusalem mới là Hội thánh (Gl 4,26). Thiên Chúa không là thứ quyền lực xa vời trên cao, nhưng Người ở với chúng ta luôn mãi. Chính sự hiện diện thâm sâu của Thiên Chúa với chúng ta lúc này an ủi và lau sạch những giọt nước mắt cô đơn hay cảm giác bị bỏ rơi. Sự chết không còn thống trị chúng ta vì Đức Kitô phục sinh đã tước khỏi nó quyền lực đe doạ chúng ta.
Chúng ta có thể tin vào điều Gioan nói vì tác giả không nói về bản thân mình, lời của ông mang uy quyền của Thiên Chúa để giúp họ đứng lên. Ông đã nhận lãnh sứ điệp này từ chính Đức Kitô (1,11) và nhờ vào tiếng nói phát ra từ trời (14,13). Ông khẳng định sứ điệp của mình là thật vì bắt nguồn từ chính Thiên Chúa.
Chuyển ngữ :Anh em HV Đaminh Vò Vấp
5th SUNDAY OF EASTER – C
Acts 14: 21-27; Psalm 145; Revelation 21: 1-5; John 13: 31-33, 34-35
In our current Easter seasons’ Sunday readings (Year C), the Book of Revelation appears six times. (It also appears at the Chrism Mass at the Cathedral on Holy Thursday.) Then Revelation will disappear for a couple of years till it comes around again in 2016. Since we seldom we get a chance to hear from Revelation, I have been reflecting, at least in part, on these readings for several weeks now.
I wonder how many of us pick up Revelation for private devotional reading? I rarely do. But I do remember a few men who read it regularly. They were inmates at San Quentin prison near San Francisco. I was surprised when I first discovered this. But it stands to reason that they would find comfort in this mysterious book of visions. We might find its hyperbolic language surreal, confusing and even outrageous. But those inmates I knew in East Block, maximum-security, found that Revelation suited them very well. Images we might describe as grotesque, or just plain weird, somehow spoke of hope and endurance to those men locked up in their cages 23 hours a day.
Revelation’ s vision of the end time helped the locked-down inmates focus on a future time of release. They hoped that would be in their own lifetime, but some weren’t getting out, so the visions of "a new heaven and a new earth" promised to them by John, brought them comfort and a hope of eventual release from their life of duress.
I don’t want to give you the impression that San Quentin was occupied by 5000 Bible readers. Far from it. As I said, "a few men" did have Bibles and found comfort in God’s Word, especially in Revelation. Which was also the case for the early Christians who first heard it. They were the few who clung to their faith as they struggled to hold together as a community surrounded by an often hostile world. Even the book’s author was under stress, as he says, "I, John, your brother, who share with you the distress, the kingdom and the endurance we have in Jesus, found myself on the island called Patmos because I proclaimed God’s word and gave testimony to Jesus"(1:9). So, the author is living in exile, suffering in a prison of sorts, because he "gave testimony to Jesus."
We don’t have to be locked up or in exile to be readers of the Book of Revelation, to hear and be inspired by God’s Word – and to be challenged to courageously live the faith we profess in church each Sunday.
If we hadn’t noticed it previously, today’s selection makes clear that Revelation is meant to console those experiencing persecution for their faith. Flowing through Revelation is the assurance that, despite the apparent victories of evil in our world, God is sovereign and just and will overcome evil in the end and reward the just who have persevered and lived faithful lives. Revelation speaks to those who look to God for comfort; perhaps a comfort that only God can give. In some ways it is a prophetic book urging us to hear the Word of God and stay faithful to the covenant God has made with us in Christ.
Until Pentecost we will be hearing from Revelation. Today’s passage is towards the end of the book, one of the often-quoted visions, stirring hope and expectation in those who first heard it – and now again for us. This vision of the new Jerusalem is the seventh and final in a series about the last things. The previous passage (20:11-15) describes the end of the old creation: God is starting afresh with "a new heaven and a new earth." We aren’t to look into outer space for this new world, it will happen here, close to us.
The message we hear proclaimed is the final triumph of God’s goodness. Imagine how the suffering Christians were buoyed up; comforted to hear that they would not be forgotten in their suffering. God had remembered them and was with them. Even more: God was dwelling within them. What power could ever separate them from God?
Because of the persecution of Domitian (81-96) Jews and Jewish Christians were fleeing from Asia. They would be scattered, vulnerable and confused. Christians, who expressed their faith in Jesus as Messiah, were no longer affiliated with their former Jewish brothers and sisters. They were becoming a separate community of believers – small and vulnerable. The apostles were dead and in the new world and harsh realities of their lives, Christians must have felt very much on their own.
What they did have, John was telling them, was a new Jerusalem. God our Creator, by the death and resurrection of Jesus, has recreated us. The old, tired and sinful has no more sway over us. Why was "the sea no more?" Because the sea represented chaos and the source of sin from which came the dragon to pursue humans. Thus, all that is evil and drags humans down, will be gone. For a long-suffering community, or an individual, today’s passage is not just lovely poetry, but speaks a conviction: God will ultimately triumph over evil. As John puts it, "Behold I make all things new." He holds out the promise that pain will end, persecution will be no more and a new age will begin. There will be no more tears, "no more death or mourning, wailing or pain, for the old order has passed away." What has been lost because of sin is made new by the God who dwells in our midst.
The Temple in Jerusalem was the center of Jewish worship. The massive and beautiful Temple was the symbol of God’s permanent covenant with the people. The inner sanctuary, the holy of holies, was where God’s glory was found on earth. But did you notice that the Temple, so central in the old Jerusalem, is not mentioned in the new Jerusalem coming down from heaven? Later, John will say, "I saw no temple in the city, for its Temple is the Lord God Almighty and the Lamb" (21:22). Instead of the old locus of worship in the Temple, God will dwell in our midst. The prophets had promised this (Jeremiah 31:33; Ezekiel 37:27-28). God would be victorious over evil and be an abiding presence which no sin, affliction or power can take away.
Paul has told us that the new Jerusalem is the church (Galatians 4:26). God is not some impersonal power from on high, but dwells with us eternally. It is God’s intimate presence with us now that comforts us and wipes away our tears of loneliness or feelings of abandonment. Death no longer has sway over our lives for the risen Christ has robbed it of its power to intimidate us.
We can have trust in what John says to us because he is not speaking on his own, his words have the authority of God to back them up. He tells us that he heard this message from Christ himself (1:11) and by a voice from heaven (14:13). He claims his message is true because it has God as its source.
26-4-13
SẴN SÀNG SỐNG NIỀM TIN CỦA MÌNH
CHÚA NHẬT PHỤC SINH - C-
CVTĐ 10: 34a, 37-43; Tvinh 118; Côlôssê 3: 1-4; Gioan 20: 1-9
Bắt đầu với những bối rối, thắc mắc chẳng hạn như: “đều gì sẻ xảy ra nếu..”, hay sự phấn chấn: “điều đó có thật không?” “Đáng tin không,” “Chưa bao giờ nghe một sự việc như thế,” “Có thể chứ,” “Thật quá tốt nếu điều đó là sự thật,” “Có người nói,” “Chính tôi tận mắt thấy Người!” “Hãy sờ vào đây,” “Tôi tin,” “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của tôi!” Thế quý vị đã nghe bao giờ những câu trả lời nào khác về sự Phục sinh chưa?
Chưa từng có ai nói rằng tin vào sự phục sinh là điều dễ dàng. Trước đây, chưa ai nói thế, bây giờ cũng vậy. Có những câu chuyện nói về ngôi mộ trống và những câu chuyện khác thì nói về việc hiện ra của Đức Kitô. Thậm chí trong những câu chuyện này mặc dù về tổng thể giống nhau nhưng lại khác nhau về các chi tiết. Tại sao Giáo hội sơ khai không thanh minh cho rõ ràng những câu chuyện này? Sao không sắp xếp những chi tiết cho trùng khớp với nhau? Và sau hết, chúng ta cần ủng hộ niềm tin này tựa như chúng ta tìm cách thuyết phục người khác rằng Chúa Kitô đang sống. Điều này thực sự giúp ích nhiều để làm cho các câu chuyện rõ ràng hơn ngõ hầu củng cố cho hoàn cảnh của chúng ta bây giờ. Ngoài ra, bài Tin mừng hôm nay là bài bất thường dành cho Chúa nhật Phục Sinh khi nhà thờ chật cứng người, với cả những người hiếm khi tham dự thánh lễ, những gương mặt quen thuộc, hoặc những người mà chúng ta có thể nhận ra đã từng cùng xếp hàng tính tiền trong siêu thị nhưng chưa bao giờ gặp thấy ngồi trong nhà thờ.
Sao chúng ta không kiếm những bài đọc nói về ánh sáng, với nhiều hình ảnh hơn hoặc có những thiên thần thổi kèn để đọc vào Chúa Nhật Phục Sinh? Thay vào đó, những gì mà hôm nay chúng ta có là tin buồn của bà Maria báo cho các môn đệ rằng, xác của Chúa Giêsu đã bị đánh cắp, ông Phêrô cùng một “môn đệ khác” chạy bộ đến nơi ngôi mộ trống. Cụm từ “người môn đệ kia” đến sau ông Phêrô, “thấy và tin.” Tất cả dữ kiện đó nói lên điều gì? Đó chính là ngày Chúa Nhật Phục Sinh và thậm chí chúng ta cũng chẳng có trình thuật nào về việc hiện ra! Phàn nàn thế là đủ – hãy nhìn xem những gì chúng ta đã có.
Chắc rằng nhiều người ở đây được lớn lên trong những gia đình lao động vất vả. Chúng ta sớm biết được những việc cần phải làm, những gì cần phải sửa khi nó bị hỏng, biết hoàn thành những gì mà chúng ta đã khởi sự. Chúng ta có thể tỏ ra tự hào với những công việc mà mình đã làm được trong quãng đời của mình. Nhưng chúng ta lại không khoe khoang về những điều chưa thực hiện được như: sự thất vọng hay những bề bộn mà chúng ta đã gây ra trong các mối quan hệ; những dự án đã khởi sự, nhưng không bao giờ hoàn thành và những thăng trầm trong niềm tin của mình.
Hôm nay, chúng ta cần dừng lại đôi chút. Thay vì xắn tay áo lên để giải quyết phần kết cục của trình thuật hôm nay còn lỏng lẻo, thì chúng ta cứ để nó như thế. Đừng lo lắng gì, chúng ta không nên thụ động; song cũng đừng dập tắt khả năng suy tư của mình. Nhưng hãy cố gắng, ít nhất là hôm nay, để cho mầu nhiệm Phục Sinh đi vào cuộc đời ta. Đơn giản là đón nhận và để cho nỗi hoang mang và sức mạnh của ngày hôm nay hoạt động trong chúng ta. Sau hết, thậm chí với tất cả sự nghi ngờ, thì trọng tâm của điều này là, chúng ta vẫn là những tín hữu. Chúng ta thưa lời “Amen” [xác tín] trong kinh Tin Kính của các Tông Đồ có đoạn nói rằng: “Ngày thứ ba Người sống lại từ trong kẻ chết.” Ngày hôm nay, dù có là những người thành đạt đi chăng nữa thì cta cũng không thể tạo ra một câu xác tín nào khác tinh tế hoặc hợp lý hơn thế. Hãy để cho ngày lễ hôm nay hoạt động và định hình rõ trong ta.
Chúng ta đón mừng Chúa Kitô phục sinh bằng cách khép lại cánh cửa của quá khứ, khép lại những gì là thương tích, đổ vỡ và bất toàn. Hãy để cho Chúa Kitô Phục Sinh thực hiện những gì mà ta làm chưa tốt. Chúng ta mở cửa đón Chúa Kitô để Người tạo nên một mái ấm trong những nơi chốn và những ký ức khơi nên sự đau khổ, xấu hổ và tuyệt vọng. Hôm nay, hãy để cho ngày lễ này trở thành phương dược chữa trị, khôi phục và hồi sinh sự sống trong chúng ta.
Liệu chúng ta có nói rằng lý do mà ta có câu chuyện “ngôi mộ trống” hôm nay là để nhắc nhở rằng Chúa Kitô không có trong mồ, và khép lại câu chuyện lịch sử cách đây 20 thế kỷ hay không? Chúa Kitô đang sống trong mỗi người. Ngôi mộ không thể nắm giữ Người, và chúng ta cũng thế. Hãy trải thảm chào mừng, mở cánh cửa ra, để đón một đời sống mới. Bây giờ chúng ta bắt đầu lại tất cả. Hãy quên quá khứ đi; nó đã qua rồi và và đã được thứ tha. Nay chúng ta là những môn đệ của Chúa Kitô thì hãy bỏ lại tất cả để đi theo ánh sáng và chia sẻ Tin mừng, “Chúa Kitô đã sống lại, Chúa Kitô đã sống lại thật rồi!”
Bà Maria Mađalêna ra đi với ngôi mộ khép kín cửa. Bà vẫn bị khóa chặt với ký ức còn rất mới về cái chết của Chúa Kitô. Bà đến để làm điều cần làm: khóc than và dành chút thời gian ở bên người mà bà yêu mến, giờ đang nằm bất động trong mộ phần. Chúng ta cũng đến nhà thờ với cùng một cách thức; bị khóa chặt với quá khứ “nếu mà” hay “giá như.” Chúng ta muốn tìm đến ân sủng, xóa sạch tất cả và tiếp tục sống cuộc đời của mình. Chúng ta có thể vất bỏ những dụng cụ vệ sinh lau chùi, xô chậu và găng tay. Giờ đây, ta biết rằng mình chỉ có thể tự làm cho mọi sự mới mẻ và đẹp đẽ hơn một chút, nhưng không thể tạo ra được một đời sống mới nơi thân xác đã chết đi. Hãy để cho ngày lễ này tẩy rửa chúng ta. Hãy bỏ đi những nghi ngờ, lo lắng, thắc mắc, và cố gắng hết mình để loại trừ bao trăn trở trong lòng. Chúng ta mở rộng đôi tai để lắng nghe Tin mừng mà thánh Phaolô đã công bố trong thư gởi tín hữu Côlôsê: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô.” Nơi đây, Đức Kitô phục sinh đang ở giữa chúng ta: nơi cộng đoàn hội họp nhau nhân danh Người; trong Lời được công bố và trong bánh và rượu mà chúng ta cùng chia sẻ.
Nếu đã hiện diện trong suốt Tuần Thánh đầu tiên, chúng ta hẳn đã cố gắng để “sửa đổi cho đúng.” Những người ngày ấy và chúng ta bây giờ cũng không thể làm điều gì khác. Những hoang mang, loa lắng và rúng động từ các môn đệ cũng đã tràn vào tất cả mọi người chúng ta. Các môn đệ và chúng ta đã nhận ra điều đó, mặc dù những sự việc đó không diễn ra như cách chúng ta mong đợi, nhưng sau cùng Thiên Chúa đã chiến thắng và làm cho Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết. Ngôi mộ giờ đây trống rỗng, vì Người đã sống lại, sống ở giữa chúng ta và cho chúng ta đời sống mới. Chúng ta có thể hành động cách khác, nhưng Thiên Chúa lại có những kế hoạch khác. Nào hãy ca tụng Chúa.
Trong bài Tin mừng hôm nay, bà Maria Mađalêna đã bắt đầu hành động. Bà chạy đến ông Simon Phêrô và đến với người môn đệ được Đức Giêsu thương mến để thuật lại việc xác của Chúa Giêsu bị đánh cắp. Bà ra khỏi khung cảnh kế tiếp vì thế chúng ta có thể tập trung vào ông Phêrô và người môn đệ kia. Nhưng sau đó, bà Maria quay trở lại cùng với Đức Kitô phục sinh, Người mà bà gặp trong khu vườn gần ngôi mộ. “Người môn đệ khác” đã thấy gì và liệu ông có tin khi nhìn vào ngôi mộ trống hay không? Khác với Phêrô, người đã chối Đức Giêsu, người môn đệ này ở lại với Người: trong bữa Tiệc Ly ông lại tựa đầu vào ngực Đức Giêsu; ông ở lại với Đức Giêsu trong khi Người hấp hối trên thập giá và ông là người mà Đức Giêsu tin tưởng trao phó mẹ của Người cho để chăm sóc.
Người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến không cần nhiều bằng chứng để tin: chỉ cần thấy khăn liệm được cuốn lại và chiếc khăn phủ trên đầu Đức Giêsu. Ông sẽ làm gì với niềm tin này? Lúc này, Chúa Giêsu chưa hiện ra với bà Maria Mađalêna và các môn đệ khác. Họ chưa gặp Đức Kitô phục sinh; Người cũng chưa thổi Thần Khí trên họ và chưa sai họ đi làm chứng.
“Chứng nhân” là một lối diễn tả trọng yếu trong Tân Ước. Trong bài đọc một, ông Phêrô, nói thay cho những người tin, tuyên bố rằng: “Chúng tôi là những chứng nhân về tất cả những gì mà Người đã thực hiện…” Đó là mối tương quan của chúng ta hiện nay với Chúa Kitô phục sinh– trở thành chứng nhân. Kinh thánh cho biết về thế hệ những chứng nhân đầu tiên của sự phục sinh. Bây giờ đến lượt chúng ta. Khi chúng ta được rửa tội thì cha mẹ và người đỡ đầu được hướng dẫn để làm chứng cho niềm tin Kitô giáo mà họ đã tin, vì thế chúng ta cũng sẽ tin như vậy.
Bây giờ chúng ta là những chứng nhân cho Chúa Kitô bằng lời nói và gương lành. Chứng nhân của một tín hữu trong những hoàn cảnh như phiên tòa, sự cám dỗ và phục vụ yêu thương có thể là một lời giảng hùng hồn với người khác rằng Chúa Kitô không còn trong ngôi mộ nữa – đó chỉ là ngôi mộ trống. Người đang sống và đang ban Thần Khí giữa chúng ta.
Thời Giáo hội sơ khai, từ “chứng nhân” cùng nghĩa với “làm chứng” [tử đạo]. Việc làm chứng công khai về Chúa Kitô cũng có nghĩa là sẵn sàng chịu đau khổ cho niềm tin của mình. Từ thời đầu cho tới ngày nay, các chứng nhân đầy tính thuyết phục cho thấy rằng, con người không chỉ tuyên xưng niềm tin của mình vào Chúa Kitô phục sinh bằng lời nói, mà còn sẵn sàng sống niềm tin của mình nữa – thậm chí chết vì niềm tin. Chúng ta tin rằng chết không phải là dấu chấm hết, và sự chết cũng chẳng có quyền gì trên chúng ta, bởi vì Chúa Kitô đã được sống lại trong sự sống mới, và chúng ta được hiệp nhất với Người.
Chuyển ngữ: Anh Em HV. Đaminh Gò Vấp
EASTER SUNDAY – C
Acts 10: 34a, 37-43; Psalm 118; Colossians 3: 1-4; John 20: 1-9
Now it begins: confusion, questions, "What-ifs," excitement, "Could it be true?" "It’s all make-believe," "Never heard of such a thing," "Maybe," "Too good to be true," "She said/he said," "I saw him with my own eyes!" "Touch here," "I believe," "My Lord and my God!"----- What other responses to the Resurrection have you heard?
No one ever said believing in the resurrection was going to be easy. It wasn’t then; it isn’t now. There are some stories about the empty tomb and others about the risen Christ’s appearances. Even these stories, though similar, differ in some details. Why didn’t the early church clean up their stories? Get them to correspond? After all, we need support as we try to convince others Christ is alive. It would have helped to have neater stories to back up our case. Plus, today’s gospel is an unusual one for Easter Sunday when the church is packed with a blend of occasional worshipers, the familiar faces, and others we might recognize from the supermarket line – but never see in our pews.
Couldn’t we have a reading on Easter Sunday with a little more spectacle, bright lights, angels blasting away at trumpets and trombones? Instead, what we have today is Mary’s bad news to the disciples that Jesus’ body had been stolen and Peter and "the other disciple’s" foot race and arrival at the empty tomb. The "other" goes in after Peter, "saw and believed." What’s that all about? It’s Easter Sunday and we don’t even have an appearance story! Enough complaining – let’s see what we do have.
I bet most of us grew up in hard-working families. We learned early about getting things done, fixing what’s broken, finishing what we started. We over achievers can point with pride to the work we have done in the course of our lifetimes. But we are not so boastful about what hasn’t worked out: our disappointment in the messes we have made in some relationships; projects we started, but never finished and the on-again, off-again practice of our faith.
We achiever types need to take a break today. Instead of rolling up our sleeves to tackle the loose ends of the narrative of this day we could just let it happen. Not to worry, we are not going to go into a passive state; nor will we turn off our hyper-functioning brains. But we could try, at least for today, letting the mystery of Easter roll over us. Just take it in and let the awe and power of this day do its work in us. After all, even with all our doubts, at the heart of it, we are believers. We have said our "Amens" to the line in the Apostle’s Creed that says, "On the third day he rose again from the dead." Today we achievers can’t make things neat and logical. We let the celebration do its work in us and define us.
We welcome the living Christ through the closed doors of our past; what has been hurt, broken and incomplete. We let Easter’s risen Christ do for us what we haven’t done well. We open the doors and bid Christ make a home in the places and memories that stir up pain, shame and brokenness. Today we let this feast do its healing, restoring and resurrecting life in us.
Can we say that the reason we have an "empty tomb" story today is to remind us that Christ isn’t in the tomb, locked up in history 20 centuries ago? He lives in each of us. The tomb couldn’t hold him back, nor should we. Put out the welcome mat, unlock the door, usher new life in. Now we can start all over. Now we can bury the past; it’s over, it’s forgiven. Now we disciples leave all that behind so that we can travel light and share the good news, "Christ is risen, Christ is risen indeed!"
Mary Magdalene goes with closed doors to the tomb. She is locked in by the still-fresh memory of Christ’s death. She comes to do what had to be done; mourn and spend some time with the one she loved, now lifeless in the tomb. We come to worship in a similar way; locked up with past "what if’s" and "if only’s." We want to work our way to grace, clean it all up and get on with our lives. Well we can put away the wash buckets, sponges and rubber gloves. We know by now that on our own we might be able to freshen things up a bit, but not create new life where there has been death.
We let the feast wash over us. We let go of our doubts, worries, questions and, as best we can, our anxieties. Instead, we open our ears to take in the good news that Colossians proclaims, "You were raised with Christ." That risen Christ is here among us: in the assembly gathered in his name; in the Word proclaimed and in the bread and wine we share.
Had we over achievers been there during the first Holy Week we would have been working hard to "make things turn out right." But they didn’t and we wouldn’t have been able to do anything about it. Chaos reigned and the movers and shakers among the disciples fled with everyone else. They and we find out that, though things didn’t work out the way we might have wanted, God is victorious after all and has raised Jesus from the dead. Now the tomb is empty, because he is alive, in our midst and we have new life. We might have done it differently; but God had other plans. Praise the Lord!
In today’s gospel Mary Magdalene begins the action. She runs to Simon and the beloved disciple to report Jesus’ missing body. She is out of the next scene so we can focus on Peter and the other disciple. After that Mary will again be the focus, along with the risen Christ, whom she meets in the garden near the tomb. What did the "other disciple" see and believe when he peered into the empty tomb? Unlike Peter, who denied Jesus, this disciple stayed with him: at the Last Supper he lay his head against Jesus’ breast; stayed with Jesus while he was dying and was the one Jesus entrusted the care of his mother.
The beloved disciple didn’t need much evidence to prompt him to faith: the rolled up cloths and the cloth that covered Christ’s head. While he believed, what was he to do with this faith? At this point Jesus had not yet appeared to Mary Magdalene and the other disciples. They hadn’t yet met the risen Christ; nor had he breathed the Spirit upon them and sent them out to witness.
"Witness" – it’s a key expression in the New Testament. In our first reading Peter, speaking for the believers, announces that now, "we are the witnesses of all he did.…" That is our relationship now to the risen Christ – to be witnesses. Scriptures tell us about the first generation of witnesses to the resurrection. Now it’s our turn. When we were baptized our parents and godparents were instructed to witness to the Christian faith they believe so that we too would come to believe.
Now by our words and example we are the witnesses to Christ. The witness of a believer in situations of trial, temptation and loving service can be a powerful proclamation to others that Christ is no longer in the tomb – it is empty. He is living and breathing his Spirit among us.
In the early church the word "witness" was the same as "martyr." To give public witness to Christ also means to be willing to suffer for our faith. From the earliest times to this day, compelling witnesses have shown that people not only profess their faith in the risen Christ in words, but are also prepared to live their faith – even die for it. We believe that death does not have the last word, or power over us, because Christ has been raised to new life and we are united with him.
April 26, 2013 post
Mãnh lực của yêu thương tha thứ
Chúa nhật 5 phục sinh, năm C
(Ga 13; 31-35)
Thưa quí vị.
Thật kỳ lạ, chúng ta đang giữa mùa Phục sinh, trong thánh đường tràn ngập niềm hân hoan với những bài thánh ca Alleluia vui tươi, thì phụng vụ lại cho nghe trình thuật huấn dụ tiệc ly Chúa Giêsu cho các môn đệ, ngay trước lúc bước vào khổ nạn. Rõ là đi lùi thời gian, gây cho tín hữu không ít ngạc nhiên và thắc mắc. Hẳn quí vị cũng bấm bụng hỏi, tại sao lại có chuyện ngược đời như vậy? Tại sao giữa niềm hân hoan lại nói điều đau buồn chia ly?
Câu trả lời chỉ có thể tìm thấy nơi sự khôn ngoan thánh thiện của Giáo Hội. Sở dĩ tín hữu được hoan hỷ vui mừng, phấn khởi trong mùa Phục sinh này, là vì nguồn mạch của nó là tình yêu. Thiên Chúa yêu nhân lọai đến nỗi trao nộp Con một Ngài để cứu chuộc thế gian và Chúa Giêsu vì yêu thương chúng ta, nên đã thực hiện đúng thánh ý Thiên Chúa Cha và bày tỏ tình yêu cao độ nhất trên thập tự. Nhưng trước khi chịu chết Ngài khuyến dụ các môn đệ yêu thương nhau và nhấn mạnh thêm: “Thày ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13,34). Cựu ước nói là như chính mình vậy, Chúa đổi lại là như Thày yêu thương anh em. Có khác biệt to lớn giữa hai cụm từ “như chính mình” và “như Thày” một đàng còn nhuốm màu ích kỷ và không rõ ràng, “mình” có thể thay đổi từng người, nhưng “như Thày” hòan tòan xác định, không ai giải nghĩa khác đi được để rồi thóai thác, biện minh. Thiên hạ thường cho mình yêu thương vô tư. Nhưng thực tế đầy ích kỷ và trục lợi, cho nên Chúa dùng cụm từ “như Thày” là đúng lý. Không yêu như Chúa thì chẳng ai có niềm vui, không yêu như Chúa Giêsu thì nhà thờ chẳng thể đầy ắp thánh ca Alleluia. Than ôi, chúng ta trả lời ra sao cho Chúa về tình yêu của mình, để mùa này được hoan hỷ thực sự, chứ không phải “vui lây”, vay mượn. Chúng ta suy niệm tiếp về những lời giáo huấn lạ lùng của Chúa.
“Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người” sắp bị treo tòng ten giữa hai tên trộm cướp, nhục nhã không ai bằng mà được tôn vinh cái nỗi gì? Rõ thật ngược đời! Nhưng để hiểu cụm từ này cho chính xác chúng ta phải nhìn vào hòan cảnh lúc bấy giờ. Đúng vậy Ngài sắp bị hành xích nhục nhã, nhưng do những bàn tay nào? Trước nhất là Giuđa: “Thày bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thày” (13,21). Thì ra có một tông dồ phản bội. Phúc âm kể: “Sau khi ăn miếng bánh, Giuđa bước ra, lúc ấy là đêm tối” (13,30). Tình thế thật ảm đạm. Nó là tình thế của tội lỗi, chết chóc. Sau đó mấy câu, Chúa tiên báo Phêrô chối Thày (c.38). Đêm tối của Giuđa, nhưng không đau xót bằng Phêrô chối Thày. Người bạn chí thân, cùng đồng bàn ăn uống nhiều lần tưởng chừng như khăng khít mãi, vậy mà chối nhau cái một. Vinh quang ở đâu vậy? Quí vị mong đợi gì ở bạn hữu thân thiết nkhi gặp họan nạn? vậy mà Chúa nói đến vinh quang?
Đúng vậy, Ngài khẳng định chứ không mập mờ. “Lúc này, Con Người được tôn vinh và Thiên Chúa được vinh quang trong Người”. Chúng ta tin Chúa nói sự thật, chứ không “nói dóc” như thiên hạ. Nhưng tình thế bên ngòai lại là phản bội, đau buồn, thất vọng. Cho nên vinh quang của Ngài không như người ta tưởng tượng hay vẽ trong tranh ảnh! Đó là những thứ vinh quang giả hiệu, vinh quang hão huyền, không có thực chất. Hơn nữa tình thế này cũng không phải là thời gian thuận lợi để nhạc sĩ viết lên bài ca du dương hoặc hòanh tráng, cho kèn đồng, trống nổi. Chúng ta phaỉ đợi một thứ “vinh quang” đúng nghĩa như Thiên Chúa muốn! Trong khi lòai người hòan tòan thầt bại. Ơ giây phút này họ thất bại nơi cuộc đời Chúa Giêsu và nơi thánh ý Đức Chúa Cha, thì chính Ngài thành công và Đức Chúa Cha cũng thành công rực rỡ. Đó là không tạo vật nào, không cản trở nào làm tan vỡ chương trình của Thiên Chúa. Chương trình Ngài mạc khải đầy đủ tình yêu cho nhân lọai: “Lúc này” là vinh quang bởi vì là giây phút tình yêu Thiên Chúa chiếu giãi mạnh mẽ nhất, tỏ rõ nhất trên nhân lọai, qua khổ nạn và cái chết của đức Giêsu Kitô, bất chấp tối tăm, tội lỗi và phản bội: ôi thượng trí Đức Chúa Trời đáng tôn thờ biết bao! Có thể là “đêm đen”, nhưng Thiên Chúa chiếu giãi một thứ ánh sáng khác trên số phận vong thân của lòai người.
Chúa không hồ đồ tưởng tượng về điểm này. Ý định của đức Giêsu là quyết liệt đi vào chương trình của Đức Chúa Cha, không ngần ngừ kéo lê đôi chân như chúng ta, môi miệng là chính yếu còn hành động và đời sống thì ngược lại, hiến thân cho khóai lạc xác thịt nhung lụa, kể cả tu sĩ, linh mục. Sau bữa tiệc ly, Chúa dẫn các môn đệ vào vườn cây dầu và bị bắt. Thánh Gioan không kể lại quang cảnh Chúa hấp hối trong vườn như các tác giả khác. Thay vào đó ông cho biết Chúa ý thức mạnh mẽ về số phận của mình, một lòng một trí với Đức Chúa Cha. Vì vậy chẳng lạ gì khi Ngài nói: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh”. Ngay cả giữa những điều xem ra là thất bại cay đắng. Những lời đó chuyền tải ý nghĩa hòan thành chương trình Đức Chúa Cha, tham dự trước vào vinh quang sống lại, gồm cả thỏa tình khao khát.
Tuy nhiên Ngài không dừng lại ở đấy, mà muốn các môn đệ chia sẻ vinh quang với mình, nên truyền lệnh: “Thày ban cho anh em một điều răn mới: Anh em hãy thương yêu nhau”. Có đúng là mới không? Vì Cựu Uớc đã từng nói tới. Mới ở chỗ nào? Xin đọc kỹ và suy gẫm bản văn Gioan. Chắc chắn mạch văn của lời này chiếu giãi một ánh sáng vào bản chất tình yêu mến mà Chúa đòi hỏi nơi các môn đệ. Đó là thứ tình yêu không lùi bước trước khó khăn, phản bội, lừa đảo, lật mặt. Nó không hề tàn lụi trước bất cứ tình huống nào, ngay cả khi bị đối xử tàn tệ, bách hại và giết chết. Đó là tình yêu ngay cả đối với kẻ thù hoặc đối lập vì nói sự thật mà chút xíu nữa Chúa phải đối mặt trong vụ án bất công.
“Giờ đây” có thể là lúc Chúa tỏ lộ bản chất của tình yêu các môn đệ phải có đối với nhau. “Lúc này” họ sẽ chứng kiến tình yêu Thiên Chúa biểu lộ cho thế gian mà họ phải noi gương bước đi giữa thế gian. Tuy nhiên tự thân, các môn đệ và chúng ta chẳng thể bắt chước được. Nó vượt xa khả năng của con người hữu hạn. Vì vậy “giờ đây” Ngài sẽ yêu mến môn đệ cho đến tận cùng như kinh thánh thuật lại. “Giờ đây” Ngài sẽ trỗi dậy từ cái chết cuả ghen ghét, hận thù và ban Thần Khí cho các môn đệ yếu đuối, để họ yêu mến thế gian và ra đi rao giảng. Đúng vậy, Phục sinh Ngài trở lại với các môn đệ, thở hơi Thánh Thần trên họ và sai họ đi khắp thế gian. Quí vị suy nghĩ thế nào về biến cố này? Chúa có sai chúng ta ra đi với thái độ như vậy không? Xin nhớ Phúc âm không phải là chuyện qúa khứ. Chẳng bao lâu nữa chhúng ta sẽ mừng lễ năm mươi và được nhắc nhở rằng Thần Khí chúng ta lãnh nhận cũng là chính Thần Khí đức Kitô yêu mến thế gian và ban khả năng cho chúng ta bắt chước. Nhờ Thần Khí ấy chúng ta sẽ yêu mến đồng lọai đúng như Chúa Giêsu đã làm, là thí mạng sống cho họ. Đó là lý do Ngài gọi giới răn thương yêu Ngài truyền cho các môn đệ là điều răn mới. Thế giới chẳng bao giờ được thấy như vậy, nhưng chắc chắn đang cần nó. Vậy các môn đệ tân thời tính sao? Hay chẳng suy nghĩ gì cả, cho khỏi mệt óc?
Hình như Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh cả đến từ “bây giờ” vì là lúc bày tỏ yêu mến tốt nhất: “Bây giờ Thày được tôn vinh” đồng nghĩa với “bây giờ Thầy biểu lộ mạnh mẽ nhất tình yêu của Thầy cho thế gian. Vậy chúng ta phải yêu mến theo cách thức Chúa Giêsu dạy, không phải vì mình cảm thấy trìu mến thiên hạ. Nhưng vì thời đại mới qua gương Chúa Giêsu, đã khởi đầu. Ngài sống, chết, Phục sinh và trở về với Đức Chúa Cha là để mở màn kỷ nguyên mới cho thế giới. Kỷ nguyên mà thế giới chẳng thể yêu mến theo như Thiên Chúa đòi hỏi, thì nay có khả năng trở thành hiện thực nơi các Kitô hữu trên khắp tòan cầu. Nếu chúng ta yêu mến như Chúa yêu thì mọi người nhận ra rằng “anh em là môn đệ Thầy”.
Xét theo tình huống ở tiệc ly, thì xem ra lệnh truyền có vẻ hạn chế vào nhóm các môn đệ. Nhưng có thật như vậy không? Liệu tình yêu hiến tế của Ngài chỉ thu hẹp vào một nhóm nhỏ? Vậy thì Ngài tự mâu thuẫn! Vì nơi khác Gioan cho biết sứ mạng của Chúa Giêsu bao trùm cả thế giới, vươn tới mọi dân, mọi nước (10,16) và ông cũng viết Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi (3,16). Dẫu sao trong hòan cảnh trước mắt, chung quanh là các môn đệ những người thân quen nhất, Chúa thúc giục các ông yêu mến nhau, như Ngài yêu mến họ, ngõ hầu các môn đệ hợp nhất, để thế gian nhận ra họ là môn đệ Chúa. Đây là một bài giáo huấn thâm sâu, vì nếu chúng ta không yêu mến, hợp nhất với nhau, thì lấy khả năng ở đâu mà yêu mến thiên hạ? Thành thử một cộng đòan chia rẽ, yêu mến môi miệng chẳng có ích cho việc truyền giáo. Chỉ hữu ích khi cộng đòan ấy thực sự yêu mến và hợp nhất trên căn bản Phúc âm. Thảo nào xưa này chúng ta truyền giáo không hiệu qủa! Những cộng đồng tiên khởi chứng minh rõ nét chân lý này. Họ là những nhóm ô hợp, khác nhau về văn hóa, học thức, giáo dục, kinh tế, địa vị xã hội nhưng đã bày tỏ mạnh mẽ tình yêu thiêng liêng cho nhau “kìa xem họ yêu mến nhau biết bao” nên đã thu hút được thiên hạ về với Chúa Ki tô, đấng là nguồn mạch tình yêu.
Nội dung bài đọc 2, trích sách Khải Huyền, cho chúng ta tư tưởng tương tự, khi hứa “Trời mới, đất mới” đến từ Thiên Chúa cho các tín hữu đang bị bách hại. Trời mới, đất mới là kỷ nguyên hòa bình và yêu thương, chấm dứt đau khổ và hận thù. Nhưng khi nào đến? Chúng ta không biết. Chúng ta chỉ chắc chắn một điều thế giới sẽ có ngày tận cùng. Khi Thiên Chúa đổi mới và biến hình các thực tại của nhân lọai thành “trời mới, đất mới”. Còn bao lâu nữa sẽ hòan thành lời hứa? Còn bao lâu nữa việc phục hồi thế giới sẽ xẩy ra? Chẳng ai đóan được, dù là các thày bói tài giỏi nhất. Chúng ta biết rõ một điều là nhân lọai đang trong cơn hấp hối. Đánh bom tự sát ở Iraq, afghanistan, Palestin, bắn chết giáo sư sinh viên ở Virginia Tech, đại họa Aids, Dafur, nghèo đói, bán vợ đợ con ở Phi Châu. Người ta phải chờ đợi đến bao giờ? Chúa Giêsu tụ họp các môn đệ chung quanh bàn ăn trong gian phòng tiệc ly không đưa ra một lịch trình nào, nói rõ ngày Ngài trở lại. Vì vậy chúng ta chẳng thể biết được. Tôi có trông thấy một tờ quảng cáo vẽ một vị rao giảng đường phố đương ở góc phố, trước một quán nhậu. Ong cầm trong tay tấm bảng viết rằng: “Tận thế cận kề rồi”. Một nhà kinh doanh vừa bước vào quán nhậu vừa nói với nhà rao giảng rằng: “Liệu tôi có đủ thời gian để ăn bữa Fastfood (bữa ăn nhanh)? Những ai tự biết rõ thời giờ, ngày tháng thường nhầm, khi thế giới tiếp tục con đường điên lọan, vô lý của nó.
Một số thày dạy nói rằng chúng ta chẳng thể nào thúc giục cho trời mới, đất mới mau đến. Quyền ấy nằm trong tay Thiên Chúa. Điều chúng ta có thể là sửa sọan đón nhận Giêrusalem mới. một số thày khác có quan điểm khi nào thế giới chuẩn bị đày đủ, tức chúng ta hòan thành nhiệm vụ Thiên Chúa trao! Xin thưa thiên hạn còn nhiều việc phải làm lắm, khi nào mới hòan thành? Tôi chẳng biết ủng hộ ý kiến nào. Nhưng dưới ánh sáng tin mừng hôm nay, công việc của chúng ta qúa rõ ràng: Thúc đẩy bởi Thần Khí Chúa, chúng ta phải lo thương yêu nhau như đức Kitô thương yêu, hy vọng và chờ đợi.
Tôi bấm bụng đóan rằng bài đọc Khải Huyền hôm nay có một sức hút đặc biệt đối với các tín hữu lưu đày ở Palestin xưa. Cuốn sách xem ra được viết bởi một tín hữu Do Thái cũng trốn tránh vào thời gian nổi dạy chống Roma (66,70 Cn). Ông khát khao trở lại tình trạng yên lành hơn, bớt chiến tranh và quê hương được an tòan hơn. Vì thế ông dùng cụm từ “Giêrusalem mới” và “trời mới, đất mới”, một nơi chốn thánh thiêng, nơi Thiên Chúa “Cư ngụ với lòai người.” Liệu ước mơ của ông cũng là mong ước của chúng ta, những kẻ luôn cảm nghiệm “lưu đày” dù ở trên đất nước này, hay chạy trốn sang đất lạ quê người? Với tư cách là tín hữu, thì cho dù sinh ra, lớn lên, lao động ở đâu đi nữa, cũng cảm thấy mình là “khách lạ” trên hành tinh với những đường lối đầy tha hóa, vong thân, thối nát của các xã hội trần tục, các chính phủ vô luân. Vì vậy khi tụ họp nhau để thờ phượng Chúa, Lời Chúa hôm nay trong các bài đọc qủa thấm thía và hữu ích. Chúng ta nên cùng với tác giả Khải Huyền dâng cao niềm hy vọng. Ngày nào đó, ngày nào đó sẽ có trời mới, đất mới ngõ hầu mọi người thương yêu nhau như Chúa Giêsu Kitô thương yêu các môn đệ. Amen. Alleluia.
LM. Jude Siciliano, O.P.