Bối
cảnh lịch sử của biến cố Fatima:
Sự
bùng nổ của phong trào cộng sản vô thần (I)
Nếu quả thực Ernst Hello đã có lý khi
ông đã có lần viết là sự sợ hãi là con đẻ của tội lỗi, thì
chúng ta sẽ hiểu rõ được tại sao bộ mặt của thời đại chúng
ta ngày nay đang biểu lộ một sự sự hãi mà không sao diễn tả
hết bằng lời được, thì bấy giờ chúng ta mới ý thức được rằng
điều kiện để có thể vượt lên trên được sự sợ hãi đó chính là
phải nhìn nhận tội lỗi của mình, tương tự như Ét-ra trong khi
dâng Của Lễ Chiều Hôm lên bàn thờ Thiên Chúa, đã công khai
xưng thú tội bất trung của dân tộc ông: «Lạy Chúa, con thật
xấu hộ thẹn thùng khi ngẩng mặt lên Ngài. Lạy Chúa, vì tội
chúng con quá nhiều, đến nỗi ngập đầu ngập cổ, tội lỗi chúng
con cứ chồng chất lên mãi tới trời. Từ thời tổ tiên chúng con
cho tới ngày nay, vì chúng con đã mắc tội nặng nề và phạm tội,
…nên chúng con đã bị nộp cho gươm giáo, phải đi đày, bị cướp
bóc và bẽ mặt xấu hổ như ngày nay» (Er 9,6-7).
Đi
vào cụ thể, tội lỗi của lục địa Âu Châu, «một nơi ánh sáng
văn minh Kitô giáo từng đã chiếu tỏa
trong bao thế ký qua »(1), chính là đã loại bỏ căn tính Kitô
giáo của mình để hoàn toàn chạy theo vật chất, tôn thờ vật
chất và tìm cách tục hóa mọi lãnh vực trong các sinh hoạt
xã hội của mình. Trong Thông điệp đầu tay của ngài gởi toàn
thế
giới khi vừa lên ngôi Giáo Hoàng, ĐTC Piô XII đã so sánh
bóng đêm tội lỗi đang bao trùm lấy nhân loại với sự tối tăm
đã phủ
xuống trên khắp nơi khi Đức Giêsu tắt thở trong đau thương
trên Thánh giá (x. Mt 27,45). Trong bức Thông điệp đó, Đức
Piô II cũng cho thấy rằng thế giới Kitô giáo thời trung cổ
đã nhận ra được «những bất hòa, những xáo trộn và các cuộc
chiến tranh», nhất là đã nhìn nhận được rằng những tiêu cực
đó là hậu quả của tội lỗi. Trong khi đó thời đại tân tiến
lệch lạc, vật chất và vô thần ngày nay thì ngược lại, đã tự
cho
mình – từ lãnh vực cá nhân cho đến lãnh vực xã hội – đều
lành mạnh, ổn định và hợp lý.
Do đó, cái thảm họa vô cùng nguy hại của
kỷ nguyên chúng ta ngày nay, trước hết không do ở chỗ nó
đã phạm bao tội lỗi và còn tái phạm nữa, nhưng là do ở chỗ
nó
đã không nhận ra được tội lỗi của mình và không biết ăn năn
hối cải. Như thế, kỷ nguyên ngày nay của chúng ta đã phạm
một tội vô cùng nặng nề đến nỗi không thể tha thứ được, đó
chính
là tội đã xúc phạm đến Chúa Thánh Thần (x. Mt 12,31). Và
cũng vì vậy, thế kỷ XX đã trở thành kỷ nguyên của phong trào
cộng
sản vô thần mà các hậu quả tai hại còn kéo dài đến ngày nay,
mặc dù đế quốc đỏ Sô Viết đã hoàn toàn tan rã.
1. Bản tuyên
ngôn của phong trào cộng sản
Bản tuyên ngôn của phong trào
cộng sản được công bố vào tháng 02 năm 1848 tại Luân Đôn/Anh
Quốc, đã
một thời là khởi đầu của niềm hy vọng tràn trề cho một cuộc
cách mạng trên khắp thế giới trong tương lai, là bản kinh
tin kính đầy hứa hẹn cho giai cấp vô sản, cho những người vô
gia
cư, bần cùng đói khổ. Người ta có thể nói được rằng đó là
một bản Tin Mừng vẹn toàn, bất khả ngộ, cho công cuộc cách
mạng
đổi mới xã hội nhân loại với một niềm xác tín mới: Con người
chiếm giữ quyền lực tuyệt đối, ngoài con người ra không còn
gì nữa! Đúng như Ludwig Feuerbach (1804-1872), triết gia
vô thần người Đức đã khẳng định: « Homo homini Deus est» -
con
người là Thiên Chúa của con người!
Nhưng người ta cũng phải
xác nhận rằng bản tuyên ngôn cộng sản này không phải là một
bản văn chứa
đựng tính cách khoa học cũng không phải là một sự biểu lộ
quan điểm cá nhân của tác giả. Trước hết, bản tuyên ngôn là
một
bản cáo trạng, mãnh liệt lên án chống lại sự áp chế của một
trật tự xã hội theo hệ thống chủ nghĩa cá nhân tự do, đã
thẳng tay bóc lột tầng lớp nghèo và tạo điều kiện cho tầng
lớp giàu
càng giàu thêm.
«Hỡi tầng lớp công nhân thợ thuyền trên
khắp thế giới, hãy đoàn kết lại! Hãy làm cho thế giới phải
rùng mình khiếp sợ trước cuộc cách mạng cộng sản!» Đó là
một trong những lời hô hào ở Luân Đôn xưa kia, được gởi tới
tầng
lớp công nhân ở Âu Châu và trên khắp thế giới, là phải đứng
lên đạp đổ chế độ phong kiến và bẻ gãy ách nô lệ. Đó cũng
chính là dấu hiệu manh nha cho công cuộc đấu tranh giai cấp
đẫm máu
trong tương lai, một cuộc đấu tranh đã từng để lại những
hậu quả vô cùng tang thương, bi thảm và vô nhân đạo tại một
số
lớn các nước trên thế giới, nhất là tại Nga Sô, tại Đông
Âu, tại Trung Cộng hay tại các nước cộng sản khác. Chính do
tinh
thần đấu tranh giai cấp quá khích, người ta đã không ngần
ngại biện minh cho bao cuộc nội chiến quốc-cộng (quốc gia và
cộng
sản) thảm khốc tại một số lớn các nước, khiến cho bao gia
đình: con cái mất cha, vợ mất chồng, cha mẹ mất con trai. Những
sự
cố đó là một sự khởi đầu long trọng của kỷ nguyên phong trào
cộng sản.
Dĩ nhiên, người ta sẽ thiếu khách quan
khi tìm cách cho rằng phong trào chống đối lại sự đàn áp
vá bóc lột bất công do những người cộng sản khởi xướng là hoàn
toàn xấu và tiêu cực. Chính Đức Giáo Hoàng Piô XI trong Thông
điệp gởi thế giới để chống lại phong trào cộng sản vô thần,
cũng đã nhận định rằng người ta không khỏi ngạc nhiên khi
chứng
kiến chủ thuyết cộng sản đã mạnh mẽ lan rộng ra khắp nơi,
bởi vì với một lý tưởng sai lầm về sự công bằng và quyền bình
đẵng,
phong trào cộng sản đã thực sự chống lại những bất công trong
xã hội và nhất lả đã hứa hẹn là sẽ xóa bỏ những bất công
đó cũng như cải thiện cuộc sống của giai cấp công nhân(2).
Đức Giám Mục Fulton Sheen đã thẳng thắn
nhìn nhận rằng mặc dù là một ý thức hệ vô thần, nguồn gốc của
chủ thuyết cộng sản đã xuất hiện như một sự hiện thực cách
mạng trong một thế giới Tây phương tội lỗi. Ngài viết: «Thế
giới Tây phương chịu trách nhiệm về sự xuất hiện của triết
lý chủ thuyết cộng sản và về cuộc cách mạng cộng sản. Trong
toàn thể nền triết học cộng sản không hề tìm thấy một ý tưởng
nào có tính cách Nga Sô cả. Xét từ bản chất của nó, nền triết
học đó hoàn toàn mang tính cách trưởng giả tây phương, duy
vật và tư bản.»(3). Đúng vậy, chính thế giới Tây phương chắc
chắn phải chịu trách nhiệm về tình trạng tồi tệ thảm hại của
giai cấp công nhân cách đây hơn hai thế kỷ. Nikolai Berdjajew
(1874-1948), triết gia người Nga về tôn giáo và lịch sử, đã
có lý khi ông đánh giá chủ thuyết cộng sản là một sự biến dịch
cụ thể của những sứ mệnh bất thành nơi Kitô giáo, ông viết:
«Khi chê trách những người cộng sản là vô thần và đàn áp chống
đối tôn giáo, các Kitô hữu không thể bắt những người cộng sản
phải gánh chịu trách nhiệm một mình về làn sóng vô thần đó được. Khi phải ra đứng trước
toà án tối cao, các Kitô hữu chắc chắn sẽ không thể là quan
toà hay kẻ tố cáo được, nhưng là xuất hiện như những tội nhân
đầy thống hối»(4).
Khuynh hướng tục hóa càng ngày càng bành
trước của não trạng Âu Châu, vốn đã bắt nguồn từ thời phục
hưng và thực sự đã đạt tới tột đỉnh của nó vào đầu thế kỷ
19 và rồi qua triết học và qua toàn bộ văn chương trong hàng
chục
thập niên qua đã được coi như một cách bày tỏ tư tưởng và
thái độ sống một cách duy nhất bất khả kháng. Qua sự chối bỏ
Thiên
Chúa, con người vào thế kỷ 18 đã tuyên bố loại trừ tất cả
mọi tính chất luân lý đạo đực do tôn giáo truyền bá. Sự phân
biệt
giữa tốt và xấu theo quan niệm cổ truyền bị bãi bỏ, nếu không
nói là hoàn toàn bị phủ nhận. Tốt là điều làm lợi cho con
người, còn xấu là điều làm hại con người. Giai cấp chiếm hữu
mới phủ
nhận một cách vô ý thức trách nhiệm bó buộc của luật luân
lý Kitô giáo trong tất cả mọi lãnh vực của đời sống thương
mại
và đời sống kinh tế. Giai cấp chiếm hữu còn chối bỏ mọi can
thiệp của Nhà Nước vào trong các nghiệp vụ buôn bán của họ,
vì họ đã quan niệm lầm lẫn về quyền tự do cá nhân của mình.
Vâng, người ta còn biện minh cho cả những
cách thức thu tích của cải trần thế một cách bất công trên
sự thiệt thòi của đồng loại với những ngụy biện dã dối cho
rằng sự giàu có thịnh vượng là dấu chỉ hữu hình sự kén chọn
đặc biệt của Thiên Chúa, còn sự đói nghèo rõ ràng là sự mất
hết mọi ơn nghĩa cùng Thiên Chúa(5). Như thế, Phúc Âm Đức
Giêsu Kitô hoàn toàn mất hết giá trị và không còn đất đứng
nữa, và
phải nhường chỗ cho chủ nghĩa vật chất thô thiển. Cả đến
lời chúc phúc cho tinh thần nghèo khó trong Phúc Âm cũng bị
gạch
bỏ và được thay thế vào đó là sự thần thánh hóa việc chiếm
giữ của cải vật chất đời này. Như vậy, qua đó các giá trị
luân lý Kitô giáo bị phá bỏ. Điều đó cho thấy rằng bây giờ
- xét
một cách tổng quát - sự tiến bộ mang tính cách đa dạng và
bất ngờ trong lãnh vực kỹ thuật rất có thể là một rào cản cho
sự
thăng tiến của con người trong lãnh vực luân lý vả đạo giáo.
Đàng khác, một số lớn quần chúng nhân
dân cũng đã tỏ ra xa lạ với Giáo Hội. Bởi vậy, họ đã dễ dàng
bị cuốn hút bởi những lý thuyết và chủ trương sai lầm đó và
họ đã thích thú đón nhận chúng như một học thuyết mới mẻ. Về
điểm này, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã viết: «Có lẽ nhiều người
đã không ý thức được khi lìa bỏ giáo huấn của Đức Kitô là sẽ
bị thu hút và bị lôi cuốn bởi những hình ảnh dã dối mới mẻ
khác trong những cách thức trình bày hấp dẫn. Những cách thức
trình bày đó đã coi sự lìa bỏ giáo huấn của Đức Kitô như một
sự giải phóng khỏi vòng nô lệ từng giam cầm con người từ trước
tới nay. Nếu thế, hoặc họ đã không nhìn thấy trước được những
hậu quả đau đớn khi người ta tìm cách thực hiện một sự thay
đổi thật đáng buồn giữa sự thật có khả năng giải phóng con
người, với sự sai lạc chỉ chực nô lệ hóa con người; hoặc họ
đã không nghĩ rằng ai chối từ luật lệ vô cùng khôn ngoan và
đầy tình phụ tử của Thiên Chúa cũng như chối từ giáo huấn luôn
có tác dụng hợp nhất và nâng cao con người của tình yêu Đức
Kitô, thì sẽ vô tình bị rơi vào ách độc đoàn của một sự khôn ngoan nghèo nàn giới hạn và hay
thay đổi của phàm nhân. Một đàng người ta nói đến sự tiến bộ,
nhưng đàng khác người ta lại làm điều thụt lùi; từ tình trạng
phát triển, người ta lại hạ thấp xuống; từ sự tiến lên cho
tới tột đỉnh cao, người ta lại trở thành nô lệ. Người ta đã
không chịu nhận ra rằng tất cả mọi nỗ lực vất vả của con người
trong việc tìm cách thay thế luật lệ Đức Kitô bằng luật lệ
phàm nhân, sẽ hoàn toàn vô ích »(7).
Và người ta đã không chờ
đợi lâu những hậu quả tai hại cụ thể của sự thoái hóa đó. Qua
sự đàn áp vẫn
được tiếp tục kéo dài trong một chế độ tư bản kiểu mới với
chiếc «mặt nạ dân chủ», các tầng lớp công nhân vẫn nghèo, vẫn
phải tiếp tục sống trong sự khốn cùng và vẫn mang nặng trên
mình nỗi lo lắng cho miếng cơm manh áo của cuộc sống hằng ngày.
Như vậy, ngày nay bên cạnh giai cấp trưởng giả vô thần lại
xuất hiện thêm giai cấp vô sản vô thần nữa. Và qua đó sân khấu
cho thảm họa của cuộc cách mạng thế giới đã được dàn dựng.
Nếu Đức Giáo Hoàng Piô XI đã có lần gọi tình trạng đó là «Xì-căn-đan
của thế kỷ», thì nay đã trở thành thực tại cụ thể. Nhiều người
công nhân là tầng lớp đã quay lưng lại với Giáo Hội, đã bỏ
đạo. Họ đã xa lìa tôn giáo chân chính của Đức Giêsu Kitô đã
từ Trời Cao mang đến và cúi đầu chạy theo một thứ tôn giáo
hão huyền của Các-Mác và Ăng-gen. Những người công nhân bồng
bột đó gia nhập phong trào cộng sản vốn thù nghịch chống đối
Tôn Giáo, mà biểu tượng không phải là tượng Thánh Giá, nhưng
là liềm búa.
Bản tuyên ngôn cộng sản năm 1948 không
những đã kích động được con tim của tầng lớp công nhân, nhưng
còn cống hiến cho họ một chương trình hành động cụ thể, dễ
hiểu và khả thi. Những người công nhân vốn từng bị khinh bỉ
và bị xúc phạm một cách vô cùng đau đớn, bổng nhiên giờ đây
lại tìm gặp được ý nghĩa sâu xa cho cuộc sống bất hạnh của
mình. Họ nhìn thấy được lý tưởng của đời mình không phải được
khắc sâu trên các ngôi sao trên vòm trời, nhưng đang nằm gọn
trong tay một cách rõ ràng và cụ thể; một lý tưởng mà họ có
thể diễn tả được bằng những lời nói đơn sơ, bằng những khẩu
hiệu đầy quyến rủ, và nhất là vì lý tưởng đó họ còn có thể
hăng hái lao động không chút mệt mỏi, còn có thể chấp nhận
chịu đau khổ và sẵn sàng chấp nhận cả cái chết nữa. Ngay cả
khi phải đối mặt với một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, hầu như
bất khả chịu đựng, họ vẫn cảm thấy như được chính lý tưởng
đó nâng đỡ và dìu dắt, họ vẫn cảm nhận được tận sâu trong đáy
linh hồn mình sức mạnh của một sứ mệnh thiêng liêng, cao cả
và mới mẻ củng cố: Họ muốn giải phóng thế giới ra khỏi mọi bất công và thiết lập lại một thiên đường
đã đánh mất. (Còn tiếp)…
__________________
1. «Summi Pontificatus», 20.10.1939
2. «Divini Redemptoris», 19.03.1937
3. Fulton J. Sheen, Der Kommunismus und
das Gewissen der westlichen Welt, Morus-Verlag, Berlin, 1950,
s.68.
4. Berdjajew, Sinn und Schicksal des russischen
Kommunismus, Vita Nova-Verlag, Luzern 1937, S. 177.
5. Christopher
Dawson, Judgment of the Nations, Sheel and Ward, New York,
1942, S. 59.
6. Josef Sellmair, Bildung in der Zeitenwende
7. „Summi Pontificatus“, 20.10.1939
(Kỷ niệm 90 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima)
Lm Nguyễn Hữu Thy - Vietcatholic.net