Bối
cảnh lịch sử của biến cố Fatima:
Sự bùng nổ của phong
trào cộng sản vô thần (II)
2. Học thuyết cộng sản
Dựa trên nền tảng duy vật biện chứng,
học thuyết cộng sản cho rằng dòng lịch sử nhân loại hoàn
toàn lệ thuộc vào sự đồng nhất và bất đồng của những lực lượng
đối
kháng, và cũng vì thế bản tuyên ngôn cộng sản năm 1848 đã
hoàn toàn loại trừ tất cả mọi giải pháp ôn hòa trong lãnh vực
cách
mạng xã hội, đồng thời gạt bỏ tất cả mọi hình thức dung hòa
dựa theo sự hợp lý của sự việc như một hành động thiếu thực
tế. Tinh thần cách mạng theo chủ thuyết cộng sản không bao
giờ chấp nhận biện pháp nửa vời, tức biện pháp hòa giải hay
dung hòa. Trường hợp nếu có hòa giải, thì đó cũng chỉ là
một giải pháp vá víu tạp thời và chỉ có tính cách chiến thuật
trong
khi chờ đợi thắng lợi cuối cùng mà thôi. Cách mạng cộng sản
chân chính là phải phá đổ hoàn toàn cái cũ tận nền móng,
để xây dựng lên cái mới trên một nền móng mới. Nói cách khác,
giai cấp tư bản và giai cấp công nhân vô sản không cùng đội
trời chung. Một trong hai giai cấp đó bắt buộc phải hoàn
toàn
biến mất hay hoàn toàn bị loại trừ, và đó phải là giai cấp
tư bản.
Bởi vậy, công cuộc phát động mặt trận
đấu tranh giai cấp giữa chủ nghĩa tư bản và tầng lớp công
nhân cần phải được hiện thực như một đòi hỏi cấp bách của giai
đoạn
diễn biến và tiến triển lịch sử, trong đó không loại trừ
tính cách bạo động. Vâng, để đẩy nhanh cuộc chiến thắng sau
cùng
của tầng lớp vô sản và để thiết lập được một xã hội mới vô
giai cấp, tất cả mọi phương tiện chẳng những đều được coi
là hợp pháp, mà còn cần phải sử dụng nữa, nếu như tình huống
đòi
hỏi, vì tất cả «cuộc thánh chiến đó chỉ nhắm phục vụ sự tiến
bộ của nhân loại»(8).
Qua đó, chúng ta thấy rằng một năng
lực khủng khiếp, phát xuất từ học thuyết chủ nghĩa duy vật
biện
chứng sử quan, đã được thành hình. Đức Giáo Hoàng Piô XI đã
thẳng thắn gọi đó quả là «một chủ thuyết thần bí đã khéo léo
biết dùng những lời hứa hão huyền để lôi kéo các tầng lớp quần
chúng hào hứng chạy theo mình»(9). Chủ thuyết thần bí hay người
ta cũng có thể gọi là sự mong đợi được giải thoát này thực
ra là một đóng góp của não trạng người dân Nga lúc bấy giờ
vào công trình xây dựng nên tòa nhà chủ thuyết cộng sản. Walter
Schubart đã so sánh thái độ của não trạng người dân Nga như
là một sự tự hiến mình, ngược lại với sự tự chủ mình của người
Tây Âu. Tự thẳm sâu trong đáy lòng mình, người Nga thiên về
tình cảm hơn là lý trí. Cũng vì thế, chủ thuyết duy vật khô
khẳng phát xuất từ Tây Âu lẽ ra bình thường khó mà đâm rễ sâu
được vào quan niệm của người Đông Âu như Nga Sô. Hơn nữa, vì
người Nga sống thiên về tình cảm, chứ không nặng óc suy lý
theo khoa học tự nhiên, nên thường dễ bị ảnh hưởng bởi những
sự kỳ bí lạ lùng. Vì thế, người Tây Âu nhiều khi đã không khỏi bỡ ngỡ trước bản tính
hay thay đổi thất thường của người Nga. Hơn nữa, khác với bản
tính tự lập và thiên về cá nhân của người Tây Âu, người Nga
mang nhiều sắc thái đoàn thể xã hội hơn và luôn mong muốn cho
xã hội nơi mình sinh sống phải đạt được tình trạng hoàn hảo.
Vì thế, một khi xã hội đó không đạt tới được mức độ hoàn hảo
lý tưởng như họ mong muốn, thì họ tỏ ra bất đồng và giận dữ,
và hăng say đem hết mọi nỗ lực để cải thiện. Đó cũng là lý
do tại sao văn hào cách mạng Fjodor M. Dostojewskij (1821-1881)
được gọi là «nhà triết học vĩ đại nhất của nước Nga»(10).
Vì
lý do đó, thời gian từ hậu bán thế kỷ XIX đến gần hết hậu
bán thế kỷ XX mà chúng ta đang đề cập
đến ở đây, phải được gọi là kỷ nguyên cộng sản, bởi vì chủ
nghĩa Mác-xít đã tìm gặp được tại Nga Sô chỗ đứng vững chắc
và thuận lợi cho học thuyết cách mạng về kinh tế và xã hội
của mình.
Một cách khách quan mà nói, những người
cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản không hề nghĩ rằng học thuyết
cách mạng vô sản mang tính cách toàn cầu của họ lại có thể
tìm gặp được Nga Sô như là một «bản doanh» hay như «ngòi
châm» cần thiết. Thực ra, dựa theo nền tảng của học thuyết
cộng sản,
thì ngọn lửa cách mạng phải được bùng cháy trước hết tại
các nước có nền kỷ nghệ hàng đầu thế giới ở Tây Âu, tức là
một
nơi những căng thẳng và mâu thuẩn giữa tầng lớp tư bản và
tầng lớp công nhân đã lên đến tột đỉnh. Trong khi đó, người
ta có
thể nói được rằng Nga Sô vào lúc bấy giờ hãy còn là một nước
nông nghiệp lạc hậu.
Nhưng dưới các triều đại thối nát của
Nga Hoàng bất tài lúc bấy giờ, Nga Sô bị rơi vào một tình
trạng cực kỳ khó khăn: Xã hội và nền kinh tế của đất nước hoàn
toàn
bị băng hoại, bị phá sản. Và thảm họa to lớn cuối cùng đã
thực sự xảy ra, là vào đúng khi đức tin Kitô giáo đã từ lâu
chỉ
còn hiện diện trên hình thức, còn trong thực tế đã trở nên
xa lạ và mất hết sức lôi cuốn đối với đại đa số người dân,
thì nước Nga - vì muốn đạt được những canh tân kinh tế và
xã hội cần thiết - bó buộc phải chạy theo các nước Tây Âu,
những
nước mà vào lúc bấy giờ cũng đang bắt đầu cải cách xã hội
và kinh tế, nên càng ngày càng lơ là và bỏ bê lãnh vực tôn
giáo(11);
trong khi đó các luồng tư tưởng cấp tiến, tự do và vô thần
lại bành trướng mạnh mẽ.
Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Mác-xít duy
vật đã xâm nhập được nước Nga như một miền đất phì nhiêu
mầu mỡ. Và do sự nối kết chặt chẽ giữa chủ nghĩa duy vật Tây
Âu
với chủ nghĩa mong được giải thoát của Đông Âu, một phong
trào quá khích đẫm máu đã bùng nổ như chúng ta đã từng chứng
kiến
trong suốt lịch sử Liên Sô và các nước cộng sản chư hầu kể
từ năm 1917.
Như vậy, từ những học thuyết cộng sản
về kinh tế và xã hội đã dần dà biến thành một thứ đức tin
cộng sản. Bởi vậy, Hamish Fraser, một đảng viên cộng sản kỳ
cựu
đã viết: «Một sự kiện quá rõ ràng là nước Nga Sô Viết được
coi như biểu tượng cụ thể của đức tin mang tính cách thiên
sai, một đức tin tiềm ẩn trong chủ nghĩa Mác-xít cách mạng»(12).
Ngoài
Đức GM Fulton J. Sheen, còn có Lin mục Gustav A. Wetter,
dòng Tên - qua các sách báo và các bài
thuyết trình của ngài – cũng đã lôi kéo sự chú ý của Tây
Phương về tính chất ngụy tôn giáo của chủ nghĩa duy vậy biện
chứng
sử quan(13). Linh mục G.A. Wetter đã trình bày cho thấy chủ
nghĩa duy vật biện chứng hoàn toàn khác với chủ nghĩa duy
vật thông thường, vì nó mang tính cách loại trừ hoàn toàn niềm
xác tín tôn giáo. Nói cách khác, vật chất được thay thế cho
Thiên Chúa, nghĩa là vật chất được đặt vào địa vị Thiên Chúa.
Vật chất là Thiên Chúa. Vật chất là sự thiện hảo tối thượng;
ngoài vật chất ra không còn gì tốt lành nữa. Trong một sự
phát
triển liên tục và không bao giờ ngừng, vật chất sản xuất
ra từ đời đời tất cả những gì đang hiện hữu, kể cả tinh thần.
Khả năng sáng tạo của sự tiến hóa vô tận này – một sự tiến
hóa luôn tìm tiến tới sự hoàn hảo cao độ - là chính vật chất
mang tính chất nội tại, nghĩa là vật chất tự hiện hữu và
tự
tồn tại trong chính mình.
Qua đó, người ta thấy rằng, theo chủ nghĩa
duy vật biện chứng thì không hề có đệ nhất tác nhân ngoại
tại, mà Kitô giáo gọi là Thiên Chúa. Tự bản chất của nó, vật
chất
là Thiên Chúa của chính mình; vật chất được vận hành bởi
những sức mạnh đối kháng nội tại trong chính mình. Chính những
sức
mạnh đối kháng đó luôn luôn tự sản sinh ra không ngừng và
nhờ thế chúng đã sản xuất ra được khả năng cần thiết cho sự
phát
triển cao độ.
Điều đó dẫn tới một hậu quả là chủ nghĩa
duy vật biện chứng cho rằng tất cả mọi hữu thể đều «từ dưới»
mà có, ngược lại với giáo lý của Kitô giáo vốn dạy rằng vũ
trụ được tạo dựng nên «từ trên», tức do một vị Thiên Chúa,
Đấng tự hữu và hằng hữu, ngoại tại và vượt trên vật chất.
Nếu
Phúc Âm Kitô giáo quả quyết: «Từ ban đầu đã có Ngôi Lời»,
thì chủ nghĩa duy vật biện chứng lại khẳng
định: «Từ ban đầu đã có vật chất». Cả hai, Kitô giáo và chủ
nghĩa cộng sản, đều nhắm tới việc giải phóng con người và
tự thần thánh hoá chính mình như mục đích sau cùng. Tuy nhiên,
cả hai lại muốn đạt tới mục đích bằng những cách thế và trong
tình huống hoàn toàn khác nhau.
Kitô giáo mong đợi sự giải
thoát con người khỏi vòng nô lệ của tội nguyên tổ «từ trên
cao», như là ơn
thánh của Thiên Chúa ban cho. Trong khi đó, chủ nghĩa duy vật
biện chứng lại chờ đợi sự giải phóng đó như hiệu quả chín mùi
của một sự phát triển «từ dưới thấp», nghĩa là từ phía con
người. Nói cách khác, đối với người Kitô hữu, sự giải thoát
khỏi tội lỗi là ơn huệ nhưng không của Thiên Chúa ban; trái
lại, đối với người cộng sản, sự giải phóng nhân loại khỏi tội
nguyên tổ của hệ thống tư bản, phải là kết quả tất yếu của
những phát triển thuần túy nhân loại. Vì thế, hậu quả chối
bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa là một điều không thể tránh được,
như Linh mục Wetter đã viết: «Chính sự thể đó chứng minh cho
thấy rằng, khi tranh đấu dưới ngọn cờ duy vật biện chứng sử
quan, chủ nghĩa cộng sản đương nhiên tự coi mình có thể trở
thành một thể loại tương tự tôn giáo, và vì thế phải tìm cách
loại trừ bằng bất cứ giá nào mọi hình thức tôn giáo khác. Ngoài
vị thần duy nhất là vật chất với tất cả những yêu sách tuyệt
đối của nó, chủ nghĩa cộng sản không chấp nhận bất cứ thần thánh nào khác nữa»(14).
Và
như trong các cuộc đấu tranh cụ thể cho công cuộc cách mạng
toàn cầu, trong sự xung đột về ý thức
hệ của kỷ nguyên cộng sản cũng không thể có sự dung hòa được.
Chỉ có hai mặt trận, đó là:
1. Một bên là lời mời gọi của
đức tin, của lòng tin tưởng phó thác và của tình bác ái,
với khẩu hiệu:
«Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi.»
2. Một bên khác là
lòng kiêu hùng và sự hận thù bất hòa giải trước giai cấp
đối kháng của mình, với
khẩu hiệu ngược lại: «Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ta.»
Đó
là hai quan điểm hoàn toàn đối kháng nhau và vì thế chúng sẽ
không bao giờ có thể đi tới một sự
hòa hợp hay sống chung chân thành và bền lâu. Giữa hai bên
sẽ không bao giờ có sự đồng hữu thực sự. Vâng, xét về mặt lý
thuyết, ý thức hệ hay giáo lý, thì khoảng cách giữa Kitô giáo
và chủ nghĩa cộng sản là quá lớn, khó có thể bắc nên một nhịp
cầu được. Tuy nhiên, trong lãnh vực thực hành của cuộc sống
cụ thể hằng ngày, như việc bài trừ các tệ nạn xã hội, việc
lành mạnh hoá xã hội, hay việc xoá đói giảm nghèo, xây dựng
nhân sinh, v.v… sự cộng tác giữa những người cộng sản và những
người Kitô hữu không những là một điều có thể, nhưng còn là
một điều cần thiết và phải làm. Hơn nữa, ngày nay - như chúng
ta đều chứng kiến - ý thức hệ cộng sản đã mất hết tính chất
quá khích thủa ban đầu và đang trên đường thoái hóa và biến
thể để tiến tới một tân chủ nghĩa xã hội tự do; nhưng nhất
là sứ mệnh Phúc Âm hóa mà Chúa Cứu Thế đã trao phó cho Giáo
Hội «các con hãy đi khắp thế gian và làm cho muôn dân thành
môn đệ của Thầy» (x.Mt 28,19) không hề chủ trương phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo hay chính
kiến.
3. Thế giới cộng sản
Đối với chủ nghĩa cộng sản, thì thế giới
nhân loại đang chìm đắm trong trầm luân khốn khổ. Vâng, đối
với người Kitô hữu những bất hạnh do tội nguyên tổ gây ra cho
nhân loại thế nào, thì đối với những người cộng sản đó lại
chính là hệ thống kinh tế tư bản. Vì thế, để đổi mới và kiện
toàn thế giới, người cộng sản thâm tín rằng mình có bổn phận
phải tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa tư bản. Và phương tiện hữu
hiệu để hiện thực được những mục tiêu thiêng liêng đó là cuộc
cách mạng toàn cầu; còn tất cả mọi phương tiện khác đều chỉ
dùng để phục vụ cho phương tiện duy nhất đó mau đạt tới thắng
lợi sau cùng mà thôi. Tiếp đến, cũng thế, tất cả mọi mục tiêu
khác chỉ còn là những mục tiêu thứ yếu trên con đường tiến
tới sự hoàn tất cuối cùng của một thế giới đại đồng và vô giai
cấp, một thiên đường cộng sản. Về điểm này một đảng viên cộng
sản khác đã viết: «Toàn bộ ý thức hệ của chủ nghĩa cộng sản
và bao gồm trong đó cả nền luân lý cộng sản nữa, đều tùy thuộc
công cuộc giải phóng tầng lớp công nhân thợ thuyền. Mục tiêu
sau cùng của người cộng sản là xây dựng chế độ cộng sản, là mang lại hạnh phúc cao
độ cho tầng lớp công nhân, và dĩ nhiên không chỉ trong huyền
thoại ảo tưởng, nhưng là thực sự thiết lập một cuộc sống đầy
sung sướng hạnh phúc trên quả đất này. Cuộc chiến thắng của
chủ nghĩa cộng sản không tự nhiên mà có được, nhưng người ta
chỉ có thể đạt tới được sự chiến thắng đó bằng cuộc xả thân
đấu tranh chống lại tất cả những sức mạnh và những hủ tục phản
động của thế giới cũ. Trên con đường tiến tới được mục tiêu
cao cả và đúng đắn đó với một mức độ tột đỉnh, người ta cần
phải có nhiều pháo đài kiên cố, cần phải trung kiên trong các
thử thách khó khăn và cần phải hy sinh nhiều. Đối với những
người chiến sĩ chiến đấu cho tầng lớp công nhân, chiến đấu
cho tầng lớp thợ thuyền, thì việc chỉ thụ động ngồi chờ một
tương lai tốt đẹp sáng sủa và một niềm hy vọng trống rỗng,
hoàn toàn là một điều xa lạ, không thể chấp nhận được. Các
chiến sĩ cộng sản không bao giờ chờ đợi sẽ đạt tới được mục
tiêu đấu tranh của mình bằng một khuôn mẫu có sẵn, chứ không cần phải đấu tranh gian khổ và không cần phải lao động vất
vả.» Trên đây là một đoạn quan trọng nói về vũ trụ quan của
chủ nghĩa cộng sản, được trích từ bản Quốc Tế Ca «L’Internationnale»,
với những lời đáng ghi nhận như sau:
«Không Đấng nào cao cả cứu
được ta,
«Chẳng Thần thánh, chẳng vua chúa, chẳng
quan tòa.
«Để thoát khỏi cảnh khốn cùng ô trọc,
«Tự chúng ta phải vùng lên tranh đấu,
hỡi các bạn!»(15).
Qua đó chứng minh cho thấy rằng một người
cộng sản chân chính, nghĩa là một người cộng sản đầy thâm
tín về ý thức hệ của mình, sẽ không bao giờ có thể thay đổi
được
quan điểm của mình để tiếp nhận một quan điểm khác vì nhận
ra quan điểm đó tốt và hợp lý hơn quan điểm của mình. Đối
với anh, hoặc chỉ có anh hiện hữu với quan điểm ý thức hệ của
anh,
hoặc là anh phải chết, chứ không thể có giải pháp thứ ba,
chẳng hạn như liên hiệp hay hòa hợp, v.v... Đó chính là điểm
quá
khích và sai lầm của một ý thức hệ. Và hậu quả tai hại của
nó cũng đã được chứng minh qua sự sụp đổ hoàn toàn của chủ
nghĩa cộng sản ở Liên Sô cũ và ở các nước Đông Âu vào đầu
thập niên 90 của thế kỷ trước. Ở đây người ta nghi ngờ đặt
ra một
câu hỏi: Giá như chế độ cộng sản ở Liên Sô và ở Đông Âu khi
ý thức được cao trào dân chủ của con người hôm nay đang bùng
lên như vũ bão, mà biết tự canh tân và tự thích nghi với
tình huống mới, thì có lẽ sự sụp đổ mau lẹ đó đã không xảy
ra? Nhưng
sự thể đã không thế!
Vì vậy, phải chăng đó là một bài học đắt
giá mà các nước cộng sản cuối cùng hiện nay, như Trung Quốc,
Việt Nam và Cu-ba đã biết lợi dụng được, khi các nước này
đang từ từ loại bỏ một số quan điểm ý thức hệ ảo tưởng và sai
lạc
của mình, hầu không bị tụt hậu trong đà tiến bộ nhảy vọt
của cả nhân loại ngày nay, như chấp nhận mở cửa hội nhập quốc
tế,
sống chung hòa bình với các dân tộc khác trong tinh thần
bình đẵng và tôn trọng lẫn nhau, chấp nhận nền kinh tế thị
trường
tự do của tư bản, v.v…?
Nhưng một thực tại khác chứng minh
cho thấy là một khi chủ nghĩa cộng sản từ bỏ mục tiêu theo
đuổi
của mình là thống trị thế giới, cùng với phương tiện chủ
yếu duy nhất là cuộc cách mạng toàn cầu, thì mặc nhiên chủ
nghĩa
cộng sản đã tự tuyên bố cáo chung và giải thể.
Nếu thế, phải
chăng ngày nay chúng ta sẽ không còn phải bận tâm tới học
thuyết cộng sản nữa, một
học thuyết đã từng chi phối não trạng và cuộc sống của gần
một phần hai nhân loại trong suốt trên dưới bảy thập niên
qua?
Dù học thuyết cộng sản đã chính thức tự
giải thể, và nếu ngày nay còn hiện diện thì chỉ hiện diện
trên giấy tờ và trên hình thức mà thôi, nhưng người ta đừng
quên
rằng, các ảnh hưởng và các hậu quả tiêu cực hiện nay, như:
nền kinh tế của đất nước bị rơi vào tình trạng lạc hậu, chậm
tiến, bị băng hoại, nhưng nhất là tình trạng luân lý và tôn
giáo hoàn toàn bị suy đồi phá sản, v.v…, do học thuyết đó
để lại ở Nga cũng như ở các nước thuộc khối Đông Âu, thì còn
cần
phải nỗ lực trong rất nhiều thế hệ nữa mới mong hàn gắn lại
được phần nào. Vì thế, Đức GM Sheen đã có lầng gọi thế giới
cộng sản là «thân mình mầu nhiệm của Antichristus».
Cuối cùng,
một điều quan trọng mà chúng ta không được phép quên là mọi
biến cố - dù to hay nhỏ và dù
quan trọng hay tầm thường – đã, đang và sẽ xảy ra trong vũ
trụ, trong cuộc sống của từng người hay của cả nhân loại,
đều không xảy ra ngoài sự an bài của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa
Toàn
Năng, Đấng tự hữu và luôn hiện hữu trong vũ trụ cũng như
trong cuộc sống của nhân loại và của mỗi người, dù cho nhân
loại
có tin nhận và thờ kính Người hay không. Vâng, tất cả mọi
sự xảy trong vũ trụ này, đều nằm trong tầm kiểm soát tuyệt
đối
và đầy uy quyền của Thiên Chúa Toàn Năng.
Điều đó được chứng
minh rõ ràng qua hiện tượng: Trong khi vào ngày 10.10.1917,
Hội đồng Cách mạng Bôn-xơ-vít
ở Nga Sô nhất trí quyết định sẽ dùng bạo lực tổ chức một
cuộc nổi dậy vào đêm 25 rạng ngày 26.10.1917, để lật đổ chế
độ Nga
Hoàng và thiết lập một chế độ cộng sản vô thần, hoàn toàn
chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa, thì đúng vào ngày 13.10.1917,
qua trung gian của Đức Trinh Nữ Maria, Thiên Chúa đã công
khai
thực hiện một phép lạ vĩ đại trước sự chứng kiến của hàng
trăm ngàn người trong khắp toàn vùng Fatima: Phép lạ mặt trời
vào
đúng ngọ đã bổng chốc quay cuồng múa nhảy cách kỳ lạ và bắn
tung toé ra chung quanh đủ mọi thứ màu sắc rực rỡ, giữa tiếng
kêu la hoảng hốt và sợ hãi của đám đông.
Phải chăng khi Thiên
Chúa đã công khai thực hiện một phép lạ cả thể như thế -
ngoài mục đích để mọi
người tin sự kiện Fatima là thật, như lời Đức Mẹ hứa cùng
ba trẻ - lại không muốn chứng minh cho nhân loại thấy rằng,
dù
cho con người có chối bỏ sự hiện hữu của Người đi nữa, thì
Thiên Chúa vẫn còn đó, thì Thiên Chúa vẫn luôn là Thiên Chúa,
vẫn luôn là Chúa Tể càn khôn, và vẫn luôn là Thẩm Phán Tối
Cao cầm quyền xét xử muôn dân thiên hạ?
Tiếp đến, sự cố chủ
nghĩa cộng sản vô thần ở Liên Sô cũ và ở các nước Đông Âu
bị sụp đổ toàn diện
vào đầu thập niên 90 của thế ký trước và nước Nga đã thực
sự ăn năn trở lại, cũng chính là một chứng từ hùng hồn biện
minh
cho sự kiện Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã hiện ra với ba trẻ
chăn chiên ở Fatima vào năm 1917 để gởi tới toàn thể nhân
loại những sứ điệp quan trọng và khẩn cấp, là một sự thật hiển
nhiên.
Vì chính tại Fatima, Đức Mẹ đã loan báo trước là: «Sau cùng
Trái Tim Mẹ sẽ toàn thắng… Nước Nga sẽ ăn năn trở lại.»
Ở
đây, người ta cũng có thể tự hỏi: Phải chăng chế độ cộng
sản Đông Âu, bắt đầu từ Đông Đức, bị thoái
hóa và hoàn toàn bị giải thể cũng đúng vào tháng 10 (năm
1989) chỉ là một việc trùng hợp ngẫu nhiên thuần túy nhân loại?
Một
điều mà người ta có thể khẳng định được một cách chắc chắn,
đó là hai biến cố quan trọng có liên
quan đến vận mệnh và sự tồn vong của cả nhân loại, cùng xảy
ra trong tháng 10 năm 1917 - biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima
và cuộc bùng nổ của phong trào cộng sản vô thần ở Nga Sô -
có quan hệ chặt chẽ với nhau, mặc dầu hai biến cố đó mang hai
sứ điệp của hai thế giới hoàn toàn đối kháng nhau. Một bên
minh chứng rằng, ngoài thế giới vật chất hữu hình ra còn có
thế giới siêu nhiên vô hình, tự tồn và trường cửu; và qua đó
chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa Toàn Năng, Đấng đã sáng
tạo nên con người và muôn loài trong tình yêu vô biên của Người,
và cũng là Đấng luôn kêu gọi con người hãy yêu thương và tha
thứ cho nhau, để cùng nhau xây dựng một cuộc sống hạnh phúc
ngay trên cõi đời này. Còn một bên khác lại khẳng định rằng
chỉ có thế giới vật chất duy nhất mà thôi, ngoài ra không có
gì khác nữa; qua đó, họ chối bỏ hoàn toàn sự hiện hữu của Thiên
Chúa. Và để thiết lập một thiên đường đầy hạnh phúc mới, tức
một thế giới
đại đồng, vô giai cấp và vô tôn giáo, họ dựa trên nguyên tắc
đấu tranh và loại trừ giai cấp đầy tính cách bạo động.
Và ngày
nay, tuy chủ nghĩa cộng sản không còn là mối đe dọa nguy
hiểm thực tiễn cho nhân loại như vào
đầu tiền bán thế kỷ XX nữa, nhưng chủ nghĩa duy vật, chủ
nghĩa hưởng thụ, chủ nghĩa xác thịt, chủ nghĩa vô thần và chủ
nghĩa
khủng bố đội lốt tôn giáo của những phần tử Hồi giáo quá
khích, v.v..., vẫn luôn là những mối đe dọa vô cùng nguy hiểm
cho
tương lai và cho sự hạnh phúc chân chính của nhân loại hơn
bao giờ hết. Bởi vậy, đối với chúng ta, những con người ngày
nay, lời nhắn nhủ đầy tình mẫu tử của Mẹ Maria ở Fatima xưa
kia, càng trở nên thời sự và khẩn trương hơn bao giờ hết,
đó là:
• Ăn năn sám hối, cải thiện cuộc sống,
• Siêng năng cầu nguyện và lần hạt Mân
Côi mỗi ngày,
• Tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội
Mẹ Maria.
________________
8. Thông điệp «Divini Redemptoris», 19.03.1937
9. Như trên.
10.Walter Schubart, „Europa und die Seele
des Ostens“, Vita-Nova-Verlag, Luzern 1947, S. 107.
11. Hamish
Fraser, “Fatal Star“, John S. Burns & Sons, Glasgow 1955, S. 78.
12. Như trên.
13. “Der Bolschewismus, eine Ersatzreligion”,
III. Band der Kongresse „Kirche in Not“.
14. Weter SJ, „Der
dialektische Materialismus“, Herder-Verlag, S 577.
15. P.F.
Kolonski, „Kommunistische und religiöse Moral“. Herausgegeben
als „Ein Dokument antireligiöser
Propaganda aus der Sowjetunion“, vom Bundesministerium für
gesamtdeutsche Fragen, Bonn 1956.
(Tháng Mân Côi 2007 – Kỷ
niệm 90 năm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima : 1917-2007)
Lm Nguyễn Hữu Thy - Vietcatholic.net