Fatima: by Lm Thy
Padre Pio, vị đại thánh của Đức Mẹ Fatima
Lm. Nguyễn Hữu Thy7/16/2012
Padre Pio, vị đại thánh của Đức Mẹ Fatima

Cách đây đúng 125 năm, vào ngày 25.5.1887, Padre Pio, một tu sĩ Dòng Kapuziner (một chi nhánh của Dòng Phanxicô), cất tiến khóc chào đời tại xứ đạo Pietrelcina thuộc tỉnh lẻ Benevent, Kampanien, miền Nam Ý. Vì cha mẹ ngài vốn có lòng tôn kính thánh Phanxicô Assisi đặc biệt, nên khi đem con đi rửa tội, các ngài đã lấy tên thánh Phanxicô để đặt tên cho con. Và như vị đại thánh, Đấng sáng lập Dòng các Anh Em Hèn Mọn, đã từng canh tân và củng cố đức tin Kitô giáo trong thời trung cổ một cách sâu rộng và hiệu quả, Padre Pio cũng là một trong các vị đại thánh của Giáo Hội trong thời tân tiến ngày nay. Qua lời khuyên bảo và giảng dạy, qua đời sống thánh thiện và qua các hành động lạ lùng của ngài, vị tu sĩ đơn sơ thuộc Dòng Kapuziner ở San Giovanni Rotondo này đã dẫn đưa hằng triệu người trở lại với đức tin của Giáo Hội. Và thánh Padre Pio – cũng như thánh Phanxicô, Đấng sáng lập Dòng, đã được diễm phúc mang 5 dấu đanh của Chúa trên mình – rất có lòng yêu mến Mẹ Maria và hằng ngày lần hạt Mân Côi kính Đức Mẹ. Nhất là đối với Đức Mẹ Fatima, Padre Pio đã có một mối liên lạc hết sức đặc biệt. Cách đây mười năm, vào ngày 16.6.2002, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tấn phong Padre Pio lên bậc Hiển Thánh.
Vào ngày 24.4.1959 Padre Pio bị lâm trọng bệnh. Nhưng ngày hôm ấy cũng chính là ngày tượng Đức Mẹ Fatima thánh du đến nước Ý, để trong nhiều tháng tiếp sau đó lần lượt được hàng vạn tín hữu cung nghinh và chào đón tại nhiều Thánh Đường ở các thành phố khác nhau trên lãnh thổ nước Ý. Bắt đầu từ ngày ấy trở đi, bệnh tình của Padre Pio mỗi ngày mỗi thêm trầm trọng. Các bác sị chuẩn đoán là ngài bị bệnh sưng phổi và bị ung nhọt trong phổi. Bệnh tình khiến cha không còn có thể cử hành Thánh Lễ hay ngồi tòa giải tội được nữa. Và ngày 6.4.1959, khi tượng Đức Mẹ Fatima thánh du được nghinh đón tại San Giovanni Rotondo, nơi cha Pio ở, và dừng lại ở đây trong vòng mấy tháng trời. Cha Pio đã đón nhận tin vui đó như một „ơn đặc biệt“. Vì thế, bắt đầu ngày 27.7.1959, cha đã làm Tuần Chín Ngày để kính nhớ cuộc thăm viếng của Đức Mẹ.
Ngày 6.8.1959, các Thầy Dòng trong Tu Viện đã chở Padre Pio vào phòng thánh nhà thờ Tu Viện để cha có thể chào kính tượng Đức Mẹ Fatima. Dù đang bị bệnh nặng, cha cũng đã cố gắng đem hết sức lực để âu yếm ôm hôn tượng Đức Mẹ và dâng kính Đức Mẹ một chuỗi tràng hạt. Nhưng vì sức khỏe quá yếu, nên Padre Pio đã không thể ở lại lâu bên tượng Đức Mẹ được. Vào buổi chiều cùng ngày, khi chiếc trực thăng cất cánh để chở tượng Đức Mẹ tới một Nhà Thờ khác, cha Pio đã xin các anh em Tu Sĩ trong Dòng giúp đưa ngài đến bên cửa sổ phòng của ngài, để ngài có thể giả từ tượng Đức Mẹ thánh du. Khi nhìn chiếc trực thăng chở tượng Đức Mẹ cất cánh bay lên, cha đã không cầm nỗi nước mắt. Cha đã khóc và thầm thì cầu nguyện: „Lạy Mẹ dấu yêu, Mẹ đã tới thăm nước Ý còn con thì đau ốm. Nhưng bây giờ Mẹ lại ra đi, Mẹ muốn bỏ lại con cứ đau ốm thế này một mình sao?“.
|
Trong giây lát ấy, bỗng chốc người phi công tự nhiên quay trực thăng lại và bay ba vòng trước cửa sổ phòng Padre Pio, rồi mới bay đi luôn. Sau này chính vị sáng lập Đạo Binh Xanh Đức Mẹ người Ý lúc bấy giờ cũng ngồi trong chiếc trực thăng ấy đã kể lại: „Lúc ấy khi chúng tôi vừa cho trực thăng bay lên và định bay đi luôn, thì người phi công bỗng vặn tay lái cho chiếc trực thăng quay trở lại và bay đi lượn lại trên Tu Viện San Giovanni Torondo mấy vòng nữa rồi mới bay đi hẳn. Thấy vậy tôi đã hỏi người phi công là tại sao anh lại hành động như thế, thì anh đã trả lời là có một sức mạnh vô hình bắt anh phải quay trực thăng lại và bay vòng trên cửa sổ Tu Viện, nơi Pdre Pio đang đứng.“ Và trong khi chiếc trực thăng chở tượng Đức Mẹ bay mấy vòng đặc biệt trước cửa sổ vòng cha Pio ở như thế, thì đã xảy ra một hiện tượng lạ lùng: Cha Pio hoàn toàn được khỏi bệnh. Sau này, cha giải tội của Padre Pio tường trình: „Trong lúc bấy giờ, cha Pio cảm thấy trong mình tràn ngập một sức mạnh vô hình và ngài đã gọi các Thầy lại và nói: „Tôi đã được khỏi bệnh rồi! Đức Mẹ Fatima đã chữa lành cho tôi. Khi đứng ở cửa sổ tôi cảm thấy khắp các xương cốt trong người run lên và tôi lập tức được khỏi bệnh.“ Và về sau, ngài còn kể: „Tôi cảm tạ Đức Trinh Nữ Fatima. Trong chính ngày Đức Mẹ giả từ chúng ta ở đây, tôi lại cảm thấy trong người rất dễ chịu.“ Quả thật, từ giây phút ấy trở đi, Padre Pio lại khỏe mạnh bình thường như thể ngài chưa bao giờ bị bệnh tật gì cả.
Khi một phóng viên hỏi ngài là tại sao Đức Mẹ được chở từ Fatima bay sang San Giovanni Torondo mà lại không tới thánh địa nổi danh tôn kính Tổng lãnh Thiên Thần Michael tại núi Sant´Angelo ở gần đó, thì người tôi tớ Chúa đã trả lời một cách hết sức đơn sơ dí dỏm: „Đức Mẹ Fatima đến San Giovanni Torondo là vì Đức Mẹ muốn chữa bệnh cho cha Pio.“
Trong suốt đời ngài, thánh Padre Pio luôn gắn bó mật thiết với Đức Mẹ Fatima và sứ điệp của Mẹ. Padre Pio đã sống và thực thi lời kêu mời của Mẹ „Các con hãy lần hạt Mân Côi hằng ngày“ một cách rất nghiêm chỉnh. Vì thế, người ta nhìn thấy thánh nhân luôn cầm tràng chuỗi Mân Côi trong tay, và ở bất cứ nơi nào ngài đến, thánh nhân đều quảng bá phép lần hạt Mân Côi. Có lần một khách hành hương nữ nói với ngài: „Thưa cha, người ta nói rằng ngày nay mà còn lần hạt Mân Côi là không hợp thời, và trong nhiều nhà thờ người ta cũng bỏ không còn lần hạt nữa.“ Padre Pio đã trả lời: „Chúng ta hãy làm điều cha ông chúng ta đã từng làm, rồi mọi sự lại tốt đẹp thôi“. „Nhưng Satan đang thống trị thế giới“, người khách hành hương nữ đáp lại. Bấy giờ Padre Pio liền nói: „Bởi vì thế giới muốn để cho Satn cai trị mình! …Ai siêng năng cầu nguyện, thì được rỗi, còn ai lười biếng cầu ngyện, thì sẽ gặp nguy hiểm. Còn những người không hề cầu nguyện, sẽ mất linh hồn.“
Ngày 23.9.1968, khi đang trong cơn hấp hối tại Tu Viên San Giovanni Torondo, cha Pio đã thì thầm nói với các anh em Tu Sĩ của ngài: „Anh em hãy yêu mến Mẹ Maria và hãy truyền bá tình yêu ấy ra cho mọi người! Hãy luôn luôn lần hạt Mân Côi!“
Đó là những lời cuối cùng, và đồng thời cũng là những trăn trối của của Padre Pio, của một đại thánh thời đại chúng ta ngày nay. Và tất nhiên, trong lúc hấp hối thánh nhân vẫn cầm chặt trong tay chuỗi tràng hạt Mân Côi và ngài sẽ cầm chặt như thế mãi cho tới khi vượt qua biên giới cuộc đời tạm bợ này để bước vào cuộc sống vĩnh cửu trên Quê Trời, vì ngài là một vị đại thánh của Đức Mẹ Fatima!
(Trích từ Nguyệt San „Fatima Ruft“, 2/2012, số 217)
Lm Nguyễn Hữu Thy
Fatima: Tội lỗi và việc ăn năn sám hối
Lm Nguyễn Hữu Thy7/21/2012
Fatima: Tội lỗi và việc ăn năn sám hối
Bị ảnh hưởng và bị chi phối nặng nề bởi trào lưu vô thần, não trạng tôn thờ và hưởng thụ vật chất thái quá, con người ngày nay thường coi nhẹ tội lỗi, nên họ dễ dàng sa phạm tội. Từ quan niệm lệch lạc ấy, một số không nhỏ các Kitô hữu đã trở nên thờ ơ và ít quan tâm tới việc lãnh nhận Bí tích Cáo Giải và đồng thời vẫn tiếp tục rước Mình Thánh Chúa. Ở Đức vào thập niện 60 của thế kỷ vừa qua, triết gia Max Scheler (1928-2003) đã trình bày một hiện tượng – được coi là còn khá mới mẻ vào lúc bấy giờ – làm cho nhiều người đồng thời không khỏi bỡ ngỡ và thắc mắc, khi ông cho rằng, lúc làm trắc nghiệm một cách khách quan người ta thấy rằng khi tội lỗi càng nhiều thì ý thức về tội càng giảm thiểu và vơi nhẹ đi; trong khi đó, nếu việc sa ngã và phạm tội càng ít đi thì ý thức về tội càng tăng lên và càng nhạy bén hơn. Điều này muốn khẳng định rằng các người lành thánh thường cảm thấy mình là kẻ có tội, vì họ luôn ý thức được các tư tưởng và các hành động phải trái của mình, dù chúng nhỏ mọn đến đâu, và nhận ra được từng khiếm khuyết và lỗi lầm của mình, trong khi đó các kẻ phạm trọng tội lại cảm thấy hành động tội phạm của họ vẫn bình thường và lương tâm không hề cắn rứt chút nào. Dựa theo kết quả này, người ta chủ trương cứ sống bừa bãi và phạm tội, vì họ cho rằng việc ý thức có tội hay không hoàn toàn chỉ là một hiện tượng thuần tuý tâm lý mà thôi. Bởi thế, tình trạng luân lý của thế giới ngày nay đang trên đà xuống dốc một cách khủng khiếp: các trào lưu tục hóa, ăn chơi trụy lạc, truyền bá cách sống vô luân đồi tụy và khiêu dâm đang được phổ biến một cách công khai và rầm rộ trên các phương tiện truyền thông đại chúng, kể các phương diện truyền thông các nhà nước.
Thực ra, sự ghi nhận của Max Scheler không hề là một khám phá mới mẻ, nhưng là phản ứng bình thường của con người. Chẳng hạn: khi người ta ngồi lâu trong một căn phòng khép kín, người ta cảm thấy bầu không khí trong căn phòng vẫn bình thường, chứ không có gì khác lạ cả, trong khi đó một người từ bên ngoài bước vào thì cảm nhận ngay là bầu không khí trong căn phòng khép kín ấy quá ngột ngạt và khó chịu, chứ không trong lành, nhẹ nhàng và dễ thở như bầu không khí ở ngoài trời khoáng đạt. Cũng thế, khi con người triền miên trầm mình trong tội lỗi, thì lương tâm họ đâm ra chai lỳ và thiếu nhạy cảm, khiến họ không còn cảm nhận được sự ghê tởm và nặng nề của tội lỗi nữa. Trong khi đó, những người lương thiện và lành thánh luôn tránh xa mọi tội lỗi và hướng tâm tìm kiếm một cuộc sống trọn lành hoàn hảo, thì lương tâm họ tựa như một cây đàn căng dây, chỉ một hạt bụi nhỏ rớt xuống va chạm vào cũng đủ làm vang lên tiếng ngân, chỉ một lỗi lầm nhỏ mọn cũng đủ làm cho họ ray rứt áy náy. Và đó mới chính là sự thật, chứ kết quả sự trắc nghiệm của Max Scheler về cảm giác vô tội của những kẻ trầm mình sống trong tội lỗi không hề liên quan gì tới bản chất xấu xa và nặng nề của tội lỗi.
Nhưng điểm đáng sợ ở đây không phải là những điều ghê tởm xảy đến – một điều mà trước kia chắc hẳn cũng đã từng xảy ra – nhưng là cách thức những điều ghê tởm ấy xảy ra: chúng không còn xảy ra cách e dè lén lút, nhưng một cách công khai, ngang ngược và vô luân; và nhất là đại đa số con người ngày nay nói chung và rất nhiều các Kitô hữu nói riêng – những người đã bị trào lưu tục hóa quá trớn của xã hội duy vật chất ngày nay chi phối một cách nặng nề – đã đánh mất hết mọi cảm thức về tôn giáo, về Thiên Chúa, về các thực tại siêu nhiên vô hình và về cả cuộc sống vĩnh cửu mai hậu. Vì thế, họ cũng không còn ý thức đầy đủ về tội lỗi nữa, hay ít ra họ đã hiểu và phán đoán một cách lệch lạc về tội lỗi, về những điều đi ngược lại lý trí, đi ngược lại luật luân lý tự nhiên của Tạo Hóa. Và hiệu quả tất yếu của một quan niệm sai lạc như vậy là người ta cảm thấy không cần phải sám hối và hoàn lương, và vì thế họ trở nên xa lạ với Bí tích Hòa Giải và tìm cách loại bỏ tòa giải tội ra khỏi các nhà thờ, và thay vào đó, người ta chỉ truyền bá và thực hành „lễ nghi thống hối“, tức giờ suy niệm chung về tội lỗi, và coi đó như một hình thức „xưng tội chung.“ Nhưng trên thực tế, lễ nghi thống hối chỉ là một giờ suy niệm, một sự sửa soạn, giúp chúng ta ý thức đầy đủ và sâu sắc hơn về bản chất tội lỗi trước khi chúng ta bước vào tòa cáo giải để xưng tội và qua đó để lãnh nhận Bí tích Hòa Giải, chứ tự bản chất của nó, lễ nghi thống hối không phải là Bí tích.
Để sửa sai và vạch trần các trào lưu và quan niệm sai lầm tai hại ấy, Sứ điệp Fatima đã cảnh cáo nhân loại trước các xúc phạm tới Thiên Chúa và kêu mời mọi người hãy sám hối các tội lỗi của mình và trở về cùng Thiên Chúa. Đặc biệt nhất trong lần hiện ra lần cuối cùng vào ngày 13.10.1917, Đức Mẹ đã khẩn thiết nhắc nhủ: „Nhân loại phải cải thiện cuộc sống, phải khẩn cầu ơn tha thứ các tội lỗi họ đã phạm.“ Nhất là Đức Mẹ đã nhấn mạnh bằng những lời nghiêm trọng này: „Nhân loại thôi đừng xúc phạm tới Thiên Chúa nữa, vì Người đã bị xúc phạm quá nhiều rồi!“
Những lời cảnh cáo trên đây của Mẹ Thiên Chúa là một sự thật hiển nhiên, hoàn toàn trùng hợp với cuộc sống thực tế sa đọa của xã hội nhân loại ngày nay nói chung và cuộc sống cụ thể của mỗi người nói riêng. Bởi vậy, người ta đừng coi thường những lời cảnh cáo nghiêm trọng ấy, vì viện lý do: đó chỉ những mặc khải tư. Không, những gì được Đức Mẹ nhắn nhủ qua ba trẻ tại Fatima không gì khác hơn là chính những mặc khải vô cùng quan trọng của Thiên Chúa dành cho toàn thể nhân loại, tức Người muốn nhân loại phải từ bỏ tội lỗi, cải thiện cuộc sống và hoàn toàn quay trở về cùng Người, hầu họ khỏi bị hư mất đời đời, nhưng là được cứu sống.
Và vì não trạng con người ngày nay coi nhẹ sự tai hại và nguy hiểm của tội lỗi cũng như dễ dàng để mình vướng mắc vào các thứ tội lỗi, nên người ta cũng xa lạ với những ý niệm „đền bù, phạt tạ tội lỗi“, „hy sinh hãm mình“ hay „thực hành các việc lành“, v.v…, và coi chúng là những thực hành không những dư thừa vô ích mà còn làm cho con người trở nên hèn yếu, mất tự tín. Phải chăng đây là một sự ngụy biện của những kẻ không muốn hay không đủ can đảm từ bỏ lối sống tội lỗi và cải thiện cuộc sống mình? Và phải chăng sự ngụy biện sai lạc đó là dấu chỉ một đức tin èo uột và đang trên đường phai nhạt dần?
Bởi vì, sự thực hành việc đền bù tội lội, sự hy sinh hãm mình và làm các việc lành phúc đức không phải là những phát hiện do trí tưởng tượng của những người đạo đức bày đặt ra, nhưng hoàn toàn bắt nguồn trong Kinh Thánh và đã được chính Mẹ Thiên Chúa khẩn thiết nhắc lại trong các lần Mẹ hiện ra, ở Lộ Đức, ở Fatima cũng như ở các nơi khác trên khắp thế giới. Tuy mới vừa xấp xỉ bảy tuổi, tâm hồn hãy còn hoàn toàn trong trắng, nhưng Gia-xin-ta đã hiểu rõ lời yêu cầu sám hối và hy sinh hãm mình để cầu nguyện cho các kẻ có tội của Mẹ Maria, và để đáp lại lời yêu cầu của Đức Mẹ, em đã can đảm chịu đựng mọi thử thách và nhất là các cơn đau đớn dữ dội do chứng bệnh bất trị của em gây ra. Và đây, những lời vĩnh biệt đầy đơn sơ trong trắng và thánh thiện, nhưng cũng vô cùng cảm động và can trường của Gia-xin-ta khi em đứng bên giường hấp hối của anh trai mình là Phanxicô: „Khi về Thiên đàng anh nhớ chào Chúa Cứu Thế và Đức Mẹ thật nhiều giùm em. Xin anh thưa với các Ngài rằng, vì các kẻ có tội em luôn sẵn sàng chịu đựng tất cả mọi đau khổ như các Ngài muốn, để an ủi Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria.“
Đây quả thực là một sự khôn ngoan và sức mạnh chịu đựng hy sinh phi thường hiếm có nơi một đứa trẻ mới lên bảy, và chỉ với mục đích duy nhất là để làm đẹp lòng Thiên Chúa, an ủi Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria và để cầu nguyện cho các kẻ có tội được ơn ăn năn trở lại! Phải chăng nhân loại nói chung và các Kitô hữu chúng ta nói riêng không khỏi xấu hổ và tự vấn lương tâm mình trước tấm gương đạo đức thánh thiện và đầy quả cảm của Gia-xin-ta, của một em bé mới lên bảy như thế?
Phải chăng không phải là một trách nhiệm nặng nề và bó buộc đối với lương tâm các Kitô hữu chúng ta, nếu một đàng chúng ta biết rằng, nhiều dân tộc và cả thế giới rất có thể sẽ bị tiêu diệt – một điều mà với các thứ vũ khí tối tân ngày nay rất có thể xảy ra – nhưng một đàng khác chúng ta lại cũng biết chắc rằng, chúng ta có thể góp phần vào việc tránh cho các dân tộc ấy và cả thế giới khỏi rơi vào hố diệt vong qua việc siêng năng sốt sắng cầu nguyện, cải thiện cuộc sống và chấp nhận mọi hy sinh trong cuộc sống hằng ngày của mình?
Vâng, một trách nhiệm vô cùng linh thiêng đối với tất cả mọi Kitô hữu chúng ta và đối với mỗi người trong chúng ta là phải thực thi các phương tiện khả thi nhưng đầy hiệu quả ấy, để cứu vãn các dân tộc và cả thế giới khỏi bị tiêu diệt. Vì thế, nếu chúng ta sao nhãng không thực thi các phương tiện khẩn thiết ấy, chắc chắn chúng ta không tránh khỏi trách nhiệm trước sự tiêu diệt của đồng loại. Thái độ khinh suất và sao nhãng việc cầu nguyện, việc cải thiện cuộc sống và ăn năn sám hối cũng như việc đền bù các tội lỗi của mình là một tội ác đối nhân loại, vì qua đó nhân loại bị hủy hoại và hư mất. Thiên Chúa là Đấng đầy nhân hậu và khoan dung, nhưng nếu con người khinh thường và không cần đến lòng nhân hậu vô biên của Người, thì Thiên Chúa cũng không thể cứu họ khỏi sự tiêu diệt được! Sự cứu sống hay sự hủy hoại của cả nhân loại hoàn toàn tùy thuộc vào sự cộng tác của chúng ta với ơn thánh và lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa.
Sứ Điệp Fatima, sứ điệp hòa bình
Lm Nguyễn Hữu Thy7/15/2012
Sứ Điệp Fatima, sứ điệp hòa bình
Ngày nay hầu như tất cả mọi người đều đã nhận thức được rằng, mục đích chính của biến cố Fatima, biến cố Mẹ Maria, Nữ Vương Hòa Bình, hiện ra với ba trẻ chăn chiên ở Fatima, là mang sứ điệp hòa bình chân chính đến cho nhân loại.
Nhưng để hiểu rõ hơn sứ điệp hòa bình Fatima và sự an bài đầy yêu thương của Thiên Chúa đối với nhân loại – mà Người hằng yêu thương, mặc dù nhân loại luôn chối bỏ và không ngừng xúc phạm đến Người – chúng ta cần ghi nhận một số sự kiện đã xảy ra trên diễn đàn chính trị thế giới vào thời điểm lúc bấy giờ và hoàn toàn trùng hợp một cách kỳ diệu với biến cố Fatima, và vì thế càng nhấn mạnh và càng làm nổi bật tính chất siêu nhiên huyền nhiệm của biến cố Fatima.
Thật vậy, trong khi tại Fatima Mẹ Thiên Chúa loan báo chiến tranh sắp sửa chấm dứt và đồng thời đưa ra những điều kiện tiên quyết, hầu cho nhân loại được hưởng một nền hòa bình lâu dài, thì đồng thời một số chính phủ Âu Châu cũng đã đưa ra nhiều đề nghị để vãn hồi hòa bình. Ngày 29.01.1917, qua trung gian của hoàng thân Sixtus von Bourbon-Parma, hoàng đế nước Áo Charles đã đưa ra đề nghị thiết lập những cuộc đàm phán và gặp gỡ giữa các quốc gia và các phe phái chính trị đối lập để giải quyết các bất đồng, ổn định tình hình, và qua đó, sẽ giữ vững được nền hòa bình thế giới. Và các cuộc đàm phán ấy kéo dài tới mùa hè năm đó, và rồi bị đổ vỡ, bất thành.
Nhưng quan trọng nhất là những đề nghị hòa bình của Giáo Triều Roma được gửi cho chính phủ Đức vào ngày 13.6.1917. Và trong khi các cuộc đàm phán hòa bình đã được khởi động, ĐGH Bênêđíctô XV đã trình bày những đề nghị hòa bình vào ngày 1.8.1917, trong đó ngài kêu gọi tất cả các dân tộc và các chính phủ cần phải gấp rút chấm dứt mọi xung đột bằng vũ lực và cùng nhau vãn hồi lại nền hòa bình công bằng và bền vững.
Chính trong lúc các cuộc vận động hòa bình tại thủ đô các nước đang trong ngõ bí và không thiếu những kẻ lợi dụng „nước đục thả câu“, xúi dục các phe gây hấn để bán vũ khí thu lợi, thì những lời đề nghị hữu lý mang tính cách lịch sử của Đức Giáo Hoàng là một định hướng hết sức cần thiết.
Còn Anh quốc, trong khi chờ đợi quốc thư hồi âm tích cực từ phía Đức quốc liên quan tới các mục đích chiến tranh của nước này, thì vào ngày 13.10.1917 chính họ đã kết thúc mọi hành động sửa soạn của mình cho thời cuộc đen tối ấy. Nhưng thời điểm này cũng chính là lúc Đức Mẹ hiện ra lần cuối cùng với ba trẻ tại Fatima để nhắc bảo nhân loại: Thôi đừng tiếp tục xúc phạm đến Thiên Chúa nữa, vì Người đã bị xúc phạm quá nhiều rồi và hãy ăn năn hoán cải cuộc sống để được hòa bình. Điều đó lại một lần nữa khẳng định lời Kinh Thánh: „Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được.“(Lc 19,42). Vào ngày 5.5.1917, tại Roma Đấng Kế Vị thánh Phêrô đã công khai kêu cầu sự bầu cử của Mẹ Maria cho nền hòa bình thế giới, và ngài đã thông báo từ nay mọi tín hữu trong toàn Giáo Hội sẽ tung hô Mẹ Maria trong Kinh Cầu Đức Bà với tước hiệu „Nữ Vương ban sự bằng yên - cầu cho chúng con.“
Trong lần hiện ra thứ ba vào ngày 13.7.1917, Đức Mẹ đã nói: „Nếu nhân loại đáp lại lời yêu cầu của Mẹ, nước Nga sẽ trở lại và nhân loại sẽ được hưởng hòa bình“ Phải chăng đó không phải là lời mời gọi đầy yêu thương và khẩn cấp của Mẹ Maria với mục đích duy nhất là mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, và vì thế, đó cũng là một lời mời gọi mà mọi quốc hội và mọi chính phủ của các quốc gia trên thế giới cần phải lắng nghe và chấp nhận để toàn thể nhân loại được hưởng hòa bình?
Hòa bình! Thật khẩn thiết và quan trọng biết bao cho cuộc sống nhân loại! Mọi người đều mong muốn hòa bình, đều mong muốn được sống trong hòa bình. Và Mẹ Maria sẽ ban cho nhân loại chúng ta một nền hòa bình công bằng, chân chính và bền vững. Nhưng dĩ nhiên, muốn được hưởng nền hòa bình chân chính ấy, nhân loại cần phải thực hiện những điều kiện hữu lý và hoàn toàn khả thi, mà Đức Mẹ đưa ra, đó là:
1. Sám hối ăn năn và cải thiện đời sống. Xưng tội rước lễ các ngày Thứ Bảy đầu tháng.
2. Siêng năng cầu nguyện, hy sinh hãm mình đền tội và lần tràng chuỗi Mân Côi.
3. Tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.
Ở đây, người ta tự hỏi: Trước những lời đề nghị hữu lý và khả thi như thế của Trời Cao nhân loại đã phản ứng như thế nào? Họ đã phấn khởi đón nhận hay phớt lờ coi thường?
Câu trả lời là những đề nghị của Mẹ Thiên Chúa cũng không gặp được may mắn hơn những đề nghị vãn hồi hòa bình của Đức Thánh Cha cũng như sứ mệnh vận động hòa bình của Đức Sứ Thần Eugenio Pacelli (Sau này được bầu làm Giáo Hoàng với biệt hiệu là Piô XII (1939-1958) trước đó không lâu, cũng vào năm 1917. Trước kia, người ta đã lịch sự từ chối những thiện ý mong cầu hòa bình của Tòa Thánh bằng những ngôn từ xã giao, chẳng hạn: Tất nhiên, mọi người rất thành thật tri ân ơn sự trung gian hòa giải của Tòa Thánh và hứa sẽ đưa ra cứu xét một cách thận trọng và đầy đủ hơn những lời đề nghị ấy, hầu có thể tìm ra được một lối thoát thỏa đáng cho vấn đề; nhưng … và chiến tranh vẫn tiếp tục tàn phá thế giới một cách khốc liệt, mãi cho tới ngày kết liễu trong chết chóc, đổ nát và mất mát khôn lường!
Và nay đối với sứ điệp hòa bình của Trời Cao, con người vẫn có thái độ và cách đối xử hoàn toàn tương tự như thế, và có lẽ còn tồi tệ hơn, bởi vì nhân loại đã không hề thèm quan tâm tới và vẫn tiếp tục sống và hành động một cách bất cần và vô luân, như thể không có Thiên Chúa. Ở Fatima, Mẹ Maria đã khẩn khoản yêu cầu nhân loại: Thiên Chúa đã bị xúc phạm quá nhiều rồi, thôi đừng tiếp tục xúc phạm đến Người nữa, nghĩa là đừng phạm tội nữa. Nhưng thử hỏi đã có mấy ai biết lắng nghe và đáp lại lời hiệu triệu khẩn thiết ấy của Mẹ Thiên Chúa? Và đặc biệt ngày nay, trong thế giới văn minh tiến bộ này, người ta càng khinh rẻ coi thường đời sống thiêng liêng nội tâm và cười chê những ai còn nhắc đến tội lỗi như những kẻ lạc hậu, lỗi thời.
Vì thế, như chúng ta đã từng chứng kiến, đã xảy ra cho nhân loại những gì phải xảy ra: Trận thế chiến thứ hai vào các năm 1939-1945 còn tàn khốc và khủng khiếp hơn trận thế chiến thứ nhất bội phần. Như thế, bây giờ chúng ta đang đứng trước một lời tiên báo khác còn đáng sợ hơn nữa: „Nếu nhân loại không nghe theo lời Mẹ dạy, nước Nga sẽ gieo rắc các tà thuyết ra khắp nơi trên thế giới và chiến tranh sẽ bùng nổ; nhiều người thiện tâm sẽ bị sát hại; Đức Thánh Cha sẽ phải chịu nhiều đau khổ; nhiều dân tộc sẽ bị tiêu diệt…“ Đây hẳn là một sự thật về những viễn tượng tiêu cực của tương lai con người.
Chính ông John F. Kennedy, vị Tổng thống bị ám sát của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, đã tuyên bố trong một bài diễn văn của ông vào ngày 23.9.1961 tại trụ sở Liên Hiệp Quốc: „Hôm nay mỗi cư dân của hành tinh nơi chúng ta đang ở cần phải ý thức được cái ngày mà hành tinh này không còn là nơi để sống được nữa. Tất cả mọi người, đàn ông, đàn bà và trẻ con, đang luôn phải đối mặt với mối đe dọa khủng khiếp của bom nguyên tử đang được treo trên những sợi chỉ mỏng manh, mà trong phút chốc chỉ cần một sơ ý, một sự tính toán sai hay một hành động đãng trí nào đó đều có thể làm bùng nổ.“ Tiếp theo sau đó, vào tháng giêng năm 1965, Tổng thống Johnson cũng tuyên bố rằng, những vũ khí nguyên tử hiện nay tồn trử ở Đông cũng như Tây đã quá đủ để tiêu diệt toàn thể nhân loại không chỉ một lần, nhưng là năm lần.
Những ai chưa muốn tin vào lời Đức Mẹ tiên báo ở Fatima, thì ít nhất hãy nghe những nhận định của hai vị nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ này.
Mẹ Maria, Mẹ của Giáo Hội
Chúng ta thường xưng tụng Mẹ Maria là Mẹ của Giáo Hội, và đó là sự thật, vì Mẹ là Mẹ Đức Kitô, Đấng là đầu của thân mình huyền nhiệm của Người, tức Giáo Hội, và là Đấng cứu chuộc nhân loại. Là Mẹ Đức Kitô, Mẹ Maria chính là dấu hiệu xuất hiện trên trời tựa như sao mai sáng chói, báo hiệu trước sự xuất hiện của vừng kim ô huy hoàng rực rỡ là Đức Kitô, vì người mẹ bao giờ cũng xuất hiện trước con mình.
Chúng ta kính chào Mẹ là Đấng đã từ Trời Cao thân hành hiện đến với con cái loài người tại Fatima để mang tới cho họ nền hòa bình chân chính, nếu như họ biết thực hiện và chu toàn những lời nhắn nhủ phát xuất từ Trái Tim hiền mẫu của Mẹ.
Chúng ta kính chào Mẹ là “Nữ Vương truyền phép rất thánh Mân Côi” và hứa sẽ trung thành lần hạt Mân Côi kính Mẹ. Vũ trụ này sẽ tươi đẹp biết bao và nhân loại sẽ an vui hạnh phúc biết chừng nào, nếu mọi người đều biết đồng tâm nhất trí trong kinh nguyện trước toà Chúa!
Chúng ta kính chào Mẹ là Đấng luôn toàn thắng trong mọi cuộc chiến của Thiên Chúa chống lại ma quỷ và các đồ đệ của chúng và là Mẹ của Giáo Hội, vì chính Mẹ sẽ chấm dứt mọi khổ đau của Giáo Hội và ban cho Giáo Hội sự phục sinh mới đầy huy hoàng.
Chúng ta hằng kính chào Mẹ là “Nữ Vương ban sự bằng yên”, Đấng vì lời cầu nguyện thành khẩn của chúng ta sẽ ban cho thế giới nền hòa bình chân chính và bền vững, một khi Trái Tim Vẹn Sạch của Mẹ được toàn thắng trong các tâm hồn. Bấy giờ chúng ta sẽ cùng hân hoan cất cao bài ca Magnificat vĩnh cửu, bài ca Magnificat của tình yêu, của lòng cảm mến chúc tụng và của tâm tình cảm tạ tri ân Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu, nơi duy nhất mà chúng ta chắc chắn sẽ tìm được định hướng đúng đắn cho đời mình, tìm được chân lý tối hậu và sự bình an chân thật cho tâm hồn. Vậy mỗi người trong chúng ta hãy xác tín dâng lên Chúa tiếng lòng mình:
“Lạy Trái Tim Chúa Giêsu, là vua cai trị mọi loài!
“Xin Trái Tim Chúa làm vua cai trị lòng con suốt đời!”
Lm Nguyễn Hữu Thy - Vietcatholic.net