Suy Niệm của Lm Vinh Đan
HIỆP SỐNG TIN MỪNG
CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN B
Is 50,5-9a ; Gc 2,14-18 ; Mc 8,27-35
THẦY LÀ ĐẤNG KI-TÔ
I. HỌC LỜI CHÚA
1. TIN MỪNG: Mc 8,27-35
(27) Đức Giê-su và các môn đệ của người đi tới các làng xã vùng Xê-da-rê Phi-líp-phê. Dọc đường, Người hỏi các môn đệ: “Người ta nói Thầy là ai? (28) Các ông đáp: “Họ bảo Thầy là ông Gio-an Tẩy Giả, có kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, kẻ khác lại cho là một ngôn sứ nào đó”. (29) Người lại hỏi các ông: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? Ông Phê-rô trả lời: “Thầy là Đấng Ki-tô”. (30) Đức Giê-su liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người. (31) Rồi Người bắt đầu dạy cho các ông biết: Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và sau ba ngày sống lại. (32) Người nói điều đó, không úp mở. Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người. (33) Nhưng khi Đức Giê-su quay lại, nhìn thấy các môn đệ, Người trách ông Phê-rô: “Sa-tan! Lui lại đằng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người. (34) Rồi Đức Giê-su gọi đám đông cùng các môn đệ lại. Người nói với họ rằng: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (35) Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất. Còn ai liều mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy.
2. Ý CHÍNH:
sau khi hỏi dư luận quần chúng, Đức Giê-su đã hỏi các môn đệ xem họ nghĩ Người là ai? Phê-rô đại diện Nhóm Mười Hai tuyên xưng đức tin như sau: “Thầy là Đấng Ki-tô”. Từ đây Đức Giê-su bắt đầu cho các ông biết con đường Cứu Thế của Người là “qua đau khổ để vào vinh quang”. Người cũng trách Phê-rô khi ông yêu cầu Người đừng theo con đường này. Người đòi những ai muốn làm môn đệ của Người phải bỏ mình và vác thập giá mình mà theo Người.
3. CHÚ THÍCH:
- C 27-28: + “Người ta nói Thầy là ai?” : Qua các môn đệ, Đức Giê-su muốn biết người ta nghĩ gì về Người. + Là Gio-an Tẩy Giả tái sinh: Đây là ý tưởng của phe đảng nhà vua Hê-rô-đê (x. Mt 14,2). + Là Ê-li-a: Ngôn sứ Ma-la-ki-a đã tuyên sấm về sứ mệnh của ngôn sứ Ê-li-a là sẽ đi trước dọn đường cho Đấng Thiên Sai: “Này Ta sai ngôn sứ Ê-li-a đến với các ngươi, trước khi ngày của Đức Chúa đến, ngày trọng đại và kinh hoàng” (Ml 3,23). + Là một trong các vị ngôn sứ: Dân chúng tin Đức Giê-su ít ra cũng là một vị được Thiên Chúa chọn và được sai đến để giáo huấn dân Người.
- C 29-30: + Người lại hỏi các ông: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? Đức Giê-su đặt câu hỏi này với các môn đệ để xem nhận thức của các ông về Người. + Ông Phê-rô trả lời: “Thầy là Đấng Ki-tô”: Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế. Đây là lời tuyên xưng chính xác về thân thế Đức Giê-su. Lời tuyên xưng này đã được Đức Giê-su khen ngợi là có phúc (x. Mt 16,16-17). Chính Đức Giê-su cũng thừa nhận mình là Đấng Ki-tô trước tòa án tôn giáo (x Mc 14,61-62). Lời tuyên xưng này tuy đúng, nhưng chưa rõ ràng. Người ta có thể hiểu sai sứ mệnh cứu thế của Đức Giê-su, gán cho người sứ mệnh của một Đấng Ki-tô mang tính cách chính trị, đến để giành độc lập cho dân Do Thái, giải phóng họ khỏi ách thống trị của Rô-ma. + Đức Giê-su liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người: Đức Giê-su cấm ngặt nói ra không phải vì muốn phủ nhận lời tuyên tín của Phê-rô, nhưng vì muốn tránh sự cuồng nhiệt của dân Do Thái muốn dùng bạo lực để lật đổ nhà cầm quyền Rô-ma. Đàng khác, Người cấm vì cần có thời gian rao giảng về sứ mệnh cứu thế thiêng liêng của Người. Cuối cùng, Người cấm vì “Giờ của Người chưa đến”, vì phải nhờ Thần Khí của Chúa Giê-su Phục Sinh tác động, thì người ta mới có thể chấp nhận được sự thật này.
- C 31-33: + Người bắt đầu dạy các ông biết...: Đây là lúc Đức Giê-su loan báo về cuộc Tử Nạn và Phục Sinh mà Người sắp trải qua. + Con Người: Khi tự nhận là Con Người, Đức Giê-su vừa khiêm tốn tự xưng là: “kẻ hèn mọn này”, lại vừa theo ý nghĩa biểu tượng của văn chương khải huyền Do Thái về Con Người là Đấng ngự bên hữu Thiên Chúa (x. Tv 110,1) và sẽ đến trên mây trời (x. Đn 7,13-14). Đức Giê-su đã dùng tước hiệu Con Người nhiều hơn tước hiệu Mê-si-a. là tước hiệu đã bị người Do Thái tục hóa về chính trị. Trong Tân Ước, từ ngữ Con Người được lặp đi lặp lại tới 70 lần. Con Người có nghĩa là “Người Tôi tớ Gia-vê, bị loại bỏ và bị giết để sau cùng được tôn vinh và cứu rỗi muôn người” (x. Mc 8,31). Trước khi xuất hiện trong vinh quang vào ngày sau hết, Con Người phải tự hạ, sống cuộc đời trần thế, bị nghèo khó (x. Mt 8,20), bị khinh dể (x. Mt 11,19) ; bị xúc phạm (x. Mt 12,32), bị án tử hình thập giá (x. Ga 3,14), rồi vào trong vinh quang Phục Sinh (x. Dt 2,6-9).Cuối cùng khi đến ngày tận thế Con Người sẽ tái lâm và ngự trên ngai uy quyền xét xử muôn dân (x. Mt 25,31-46). + Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: Tuy tuyên xưng Đức Giê-su với tước hiệu là Đấng Ki-tô, nhưng Phê-rô chưa hiểu được ý nghĩa thực sự của tước hiệu này. Ơng chưa hiểu rằng theo ý Thiên Chúa thì Đấng Ki-tô phải chịu đau khổ rồi mới vào trong vinh quang (x Lc 24,26). Ong đã thay mặt anh em mà can trách Đức Giê-su đừng chịu như vậy, vì các ông đều không muốn thấy Thầy phải chịu thất bại rồi mới chiến thắng vinh quang. Các ông muốn Thầy các ông làm vua Mê-si-a để các ông cũng được quyền cao chức trọng (x. Lc 22,24), được ngồi bên tả bên hữu Thầy (x. Mt 20,21). + Người trách Phê-rô: “Xa-tan! Lui lại đằng sau Thầy!:Khi kéo riêng Đức Giê-su ra mà can trách, ông phê-rô đóng vai trò của Xa-tan, kẻ đã cám dỗ xúi giục Đức Giê-su đi con đường khác với thánh ý Thiên Chúa. Nhưng Đức Giê-su ra lệnh cho Phê-rô phải trở về chỗ của người môn đệ là ở phía sau và đi theo Thầy (x. Mc 1,17.20; 8,34). + Vì tư tưởng của anh không phải tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người”: Phê-rô đã không hiểu biết thánh ý của Thiên Chúa là muốn Đức Giê-su cứu thế bằng đau khổ (x. Mt 16,21-23).
- C 34-35: + “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”: Đây chỉ là một lời mời gọi. Đức Giê-su không ép buộc ai phải đi theo làm môn đệ của Người. + Từ bỏ chính mình: “Từ bỏ” ở đây đồng nghĩa với “ghét” hay “yêu ít hơn” hoặc “coi thường” bản thân mình (x. Lc 14,26 ; Ga 12,25). + Vác thập giá mình: Thành ngữ “vác thập giá mình” gợi lên thói tục bắt kẻ tử tội phải tự vác thập giá của mình đến nơi chịu khổ hình. Như Đức Giê-su đã phải chịu đau khổ và bị đóng đinh vào thập giá... thì ai muốn làm môn đệ của Người, cũng phải vác thập giá mình hằng ngày và đi theo Người.
+ “Cứu mạng sống mình thì sẽ mất. Liều mạng sống mình vì Đức Giê-su và vì Tin Mừng thì cứu được mạng sống ấy”: Câu nói nghịch lý này mời gọi người nghe quan tâm đến giá trị đích thực của cuộc sống đời sau. Một người sống ích kỷ ở đời này, thì sẽ bị mất đời sống vĩnh hằng ở đời sau. Nhưng nếu ai sẵn sàng chịu thua thiệt, chịu chết vì đức tin, thì sẽ có được sự sống đời đời do Chúa ban cho sau này.
4. CÂU HỎI: 1- Các môn đệ khi được hỏi đã thuật lại cho Đức Giê-su dư luận của quần chúng về Người là ai? 2-Phê-rô tuyên xứng Đức Giê-su là ai? Lời tuyên xưng ấy đúng hay sai? Nhưng tước hiệu ấy người Do thái thời đó hiểu thế nào? Có đúng như thánh ý mà Thiên Chúa muốn cho Đức Giê-su phải thi hành hay không? 3-Tại sao Đức Giê-su cấm các môn đệ nói ra tước hiệu Ki-tô mà Phê-rô vừa tuyên xưng? 4-Khi tự xưng là Con Người, Đức Giê-su ngầm dạy gì về vai trò và sứ mệnh của Người? 5-Tại sao Đức Giê-su thích xưng mình là Con Người hơn là Đấng Mê-si-a hay Đấng Ki-tô Thiên Sai? 6-Trong Tân Ước, từ Con Người được nhắc lại bao nhiêu lần và mang nội dung ý nghĩa thế nào? 7-Tại sao ông Phê-rô can trách Đức Giê-su? 8-Tại sao Đức Giê-su lại mắng Phê-rô và bắt ông lui lại đàng sau? 9-Ý Thiên Chúa Cha muốn Đức Giê-su phải cứu thế bằng con đường nào? 10-Đức Giê-su đòi những kẻ muốn tình nguyện đi theo làm môn đệ của Người phải làm gì? 11- Ý nghĩa của “từ bỏ mình”là gì? 12-Câu “vác thập giá mình mà theo Thầy” nghĩa là gì?
II. SỐNG LỜI CHÚA
1. LỜI CHÚA: Chúa phán: “Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34):
2. CÂU CHUYỆN: SẴN SÀNG VƯỢT QUA ĐAU KHỔ BẤT HẠNH
Bà GÔN-ĐA MÊ (Golda Meir), nữ Thủ tướng đầu tiên của nước Ít-ra-en, khi còn là thiếu nữ đã tỏ ra thất vọng về nhan sắc của mình. Bà biết về giai đoạn thiếu nữ ấy như sau: “Mỗi lần nhìn khuôn mặt của mình trong tấm gương, tôi lại thầm trách sao Ông Trời lại quá bất công, khi ban cho tôi một khuôn mặt không mấy đẹp đẽ duyên dáng như các bạn đồng trang lứa với tôi. Mãi về sau tôi mới nhận ra rằng: Chính khuôn mặt không mấy đẹp đẽ đó lại là điều may mắn và tốt lành cho tôi. Bởi vì điều ấy buộc tôi luôn phải cố gắng khám phá ra những tài năng sâu kín nơi bản thân mình và phát triển chúng ngày một nên tốt hơn. Cuối cùng tôi rút ra được bài học này là: Một phụ nữ đáng quí trọng không phải ở chỗ có một sắc đẹp trời cho, vì nó không mấy bền vững và sẽ phai tàn theo thời gian. Nhưng giá trị đích thực của một phụ nữ là ở chỗ cố gắng phấn đấu làm việc, để khám phá ra khả năng của mình, rồi phát huy những mặt tích cực, biến những tài năng đó trở thành phương tiện giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội”.
3. SUY NIỆM:
Ai trong chúng ta cũng đều biết rằng:
* Cuộc đời chúng ta không chỉ gồm những sự thành công phù hợp với ước mong của mình. Bên cạnh đó, vẫn luôn có những nỗi cay đắng, tai nạn rủi ro, những giọt nước mắt khổ đau bất hạnh, mà dù muốn dù không chúng ta đều phải đón nhận.
* Tuy nhiên, không phải lúc nào những đau khổ kiacũng làm cho chúng ta trở nên bất hạnh... Trái lại, nhiều khi, chính những sự đau khổ kia, lại trở thành nguyên nhân mang lại niềm vui và hạnh phúc cho chúng ta sau đó một thời gian.
* “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”: Thiên Chúa thường sử dụng khổ đau để rèn luyện con người, làm cho chúng ta trở nên tốt hơn. Các vĩ nhân trên thế giới, các thánh nhân trong Giáo hội, đều đã từng trải qua muôn ngàn khó khăn trong cuộc sống, gặp những hoàn cảnh đói nghèo vất vả cùng cực... Nhưng các ngài đã không nản chí buông xuôi, mà quyết tâm vượt qua chúng để trở nên những con người cao cả, nêu cao gương sáng đức tin cho hậu thế noi theo.
+ Thi sĩ RÔ-BỚT BAO-NING HA-MIN-TƠN (Robert Browning Hamilton) trong bài thơ “Dọc đường” (Along the Road), đã tóm lược nội dung của bài Tin Mừng hôm nay bằng những lời đầy ý nghĩa như sau: “Tôi đã cùng bước đi một quãng đường với Nữ Thần Hoan Lạc. Dọc đường, nàng đã cho tôi được sung sướng bằng những lời ve vuốt tự ái của tôi. Nhưng rồi cuối cùng tôi cũng chẳng thấy mình khôn ngoan hơn được bao nhiêu. Sau đó, tôi lại bước đi một quãng đường với Nữ Thần Đau Khổ. Dọc đàng, Nàng chẳng nói với tôi một lời. Nhưng cuối cùng tôi lại thấy mình ngày một lớn lên về kinh nghiệm sống, về sự xét đoán khôn ngoan, nhờ trải qua bao nhiêu kinh nghiệm đau thương suốt quãng thời gian tôi bước đi bên Nàng...”
4. THẢO LUẬN: Mỗi khi gặp được những điều may lành như ý, chúng ta thường dâng lời cám tạ ơn lành mà Chúa đã ban. Nhưng khi chẳng may gặp phải điều rủi ro trái ý, chúng ta nên làm gì để thực hành Lời Chúa dạy hôm nay: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo?”.
5. NGUYỆN CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Hôm nay nếu con được Chúa hỏi: “Về phần con, con bảo Thầy là ai?” Con sẽ tuyên xưng lòng tin của con về Chúa thế nào? Xin Chúa đừng để con chỉ tuyên xưng đức tin ngoài môi miệng, nhưng tin bằng hành động: Năng gắn bó cầu nguyện kết hiệp với Chúa; chu toàn việc bổn phận hằng ngày vì lòng yêu mến Chúa; Luôn cậy trông phó thác cuộc sống trong tay Chúa quan phòng; Biết tạ ơn Chúa khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại... Vì biết rằng tất cả những gì Chúa để xảy đến cho con, đều là hồng ân của Chúa, và đều mang ích lợi cho phần rỗi đời đời của con.
- LẠY CHÚA. Hành trình theo Chúa nhiều khi trở thành một gánh năng đè lên cuộc đời của con. Có lúc con cảm thấy tâm hồn mệt mỏi chán nản và muốn buông xuôi tất cả! Trong những giờ phút đen tối ấy, xin Chúa hãy luôn ở bên con, động viên nâng đỡ tinh thần của con. Xin giúp con luôn hướng về Chúa, lắng nghe lời Chúa và đem ra thực hành. Xin dạy con biết sẵn sàng hy sinh bản thân, từ bỏ những lạc thú bất chính, khước từ những quyến rũ trần gian. Xin cho con biết quảng đại chia sẻ cơm áo cho những người nghèo đói, an ủi những ai sầu khổ, dám lên tiếng bênh vực những người thấp cổ bé miệng và bị đàn áp bất công... Nhờ đó, con hy vọng sẽ được Chúa xét xử khoan dung trước tòa phán xét sau này. Xin giúp con năng nhìn lên Thánh Giá Chúa, để học sống tình yêu thương tha nhân như lời Chúa dạy: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).
X. HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.
Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
.
LM ĐAN VINH
www.hiephoithanhmau.com
LM ĐAN VINH - dongcong.net 9-9-2012