| |
TRÀNG HẠT MÂN CÔI BIẾN CHẾ BẤT NGỜ
30-4-08
Chị Maria Antonia - người Ba Tây - thuộc dòng Nữ Phan-sinh Bác Ái và Đền Tạ. Tên thật của Chị là Cecilia Cony. Chị chào đời ngày 4-4-1900 và qua đời ngày 24-4-1939, trong hương thơm thánh thiện. Trước đó, vì nhận ra các nhân đức anh hùng của Chị, nên các Bề Trên ra lệnh cho Chị viết Hồi Ký về cuộc đời Chị. Xin trích dịch phần Chị kể lại tràng hạt Mân Côi đầu tiên do Chị nghĩ ra, sau ngày rước lễ lần đầu vào năm lên 6 tuổi.
Cho đến trước ngày rước lễ lần đầu, con biết rất ít về Đức Mẹ MARIA, Mẹ của Đức Chúa GIÊSU. Tuy nhiên, sau việc con hứa dâng cho Đức Mẹ những cánh hồng trắng và được Đức Mẹ can thiệp cho con đặc ân rước lễ lần đầu vào năm lên 6 tuổi, nhờ một ơn trọng đại của THIÊN CHÚA Nhân Lành, con bắt đầu yêu mến Đức Mẹ nhiều hơn, mỗi lúc một hơn.
Sau khi học thuộc kinh Kính Mừng MARIA, con học thêm với Mẹ Rafaela một kinh khác như sau:
Xin Mẹ hãy nhớ con thuộc về Mẹ
Hỡi Mẹ dịu hiền, Đức Bà chúng con!
Ôi, xin Mẹ hãy gìn giữ và bảo vệ con
Như chính của cải và tư hữu của Mẹ vậy.
Con luôn đọc Kinh trên vào buổi sáng và buổi chiều, cho đến khi con vào dòng. Con cũng học cách làm vài cánh hoa nhỏ dâng lên Đức Mẹ MARIA. Con cảm thấy niềm vui bao la, khi sau đó, Mẹ Rafaela dạy con lần hạt Mân Côi. Cuốn sách ”Chìa Khóa Thiên Đàng” giải thích cách suy gẫm các Mầu Nhiệm Mân Côi.
Thật là tuyệt diệu! Con nghĩ như thế trong lúc học giáo lý và nhủ thầm:
- Khi nào về nhà, mình sẽ lần hạt Mân Côi, rồi mình cũng sẽ dạy cho cụ Cipriano lần hạt nữa. Cụ Cipriano là cụ già nơi viện dưỡng lão mà con thường thăm viếng.
Theo thông lệ mỗi ngày lúc tan trường trở về nhà, chị giúp việc có bổn phận tắm rửa cho con, còn Ba con - người hướng dẫn con cho đến năm con lên 10 tuổi - thì giúp con làm bài. Nhưng hôm đó, cả hai người không ai có mặt ở nhà. Thế là con quyết định lần hạt Mân Côi.
Cầm cuốn sách ”Chìa Khóa Thiên Đàng” trong tay, con đến bên tủ, đứng trước tượng Đức Mẹ MARIA. Con đã quỳ gối xuống rồi khi con nhận ra mình không có tràng hạt Mân Côi. Thật là khám phá phũ phàng! Tuy nhiên ngay lúc đó, con sực nhớ chị giúp việc Acacia có xâu chuyền đeo cổ bằng hạt trai màu xanh, hơi giống tràng chuỗi Mân Côi. Không do dự một giây, con chạy đi lấy xâu hạt trai. Chỉ thiếu ảnh Thánh Giá, nhưng Đức Bà biết hết mọi sự, hẳn không chú ý đến chi tiết này. Thiên Thần Bản Mệnh tốt lành đứng bên cạnh con, con cảm thấy Thiên Thần quan sát mọi cử chỉ cùng mọi tư tưởng của con. Đức Chúa GIÊSU cũng ở với con nữa.
Con sực nhớ đã nghe nói rằng: tất cả các hình ảnh, tràng hạt, ảnh đeo đều phải được làm phép trước khi dùng. Xâu hạt trai của chị giúp việc Acacia không phải vật thánh vì chưa được làm phép! Không trì hoãn, con liền quỳ gối xuống, dáng điệu thật sốt sắng, con đặt xâu hạt trai trong lòng bàn tay trái, rồi lấy bàn tay phải, vừa vạch hình Thánh Giá trên xâu hạt trai, vừa đọc: ”Ta làm phép cho ngươi, nhân danh CHA và CON và THÁNH THẦN. Amen!”
Đó là câu chuyện tràng chuỗi Mân Côi đầu tiên của con. Mãi cho đến ngày hôm nay, con vẫn có cảm tưởng hình như Đức Bà vui lòng chấp nhận lời kinh Mân Côi của con, lời kinh Đức Bà vẫn thích, cho dù lời kinh được lần trên một xâu hạt trai đeo cổ!
Con phải thú nhận là từ đó con tỏ ra kính trọng xâu hạt trai. Vì con đã làm phép, nên con nghĩ rằng, có lẽ chị giúp việc không nên đeo nó để làm dáng nữa. Con liền đề nghị với chị giúp việc đổi xâu hạt trai cho con bằng mấy đồng tiền con để dành. Nhưng chị giúp việc thật tốt lành, chị bằng lòng cho không con và chỉ đổi lấy mấy viên kẹo sôcôla đáng giá vài xu mà thôi.
Vào cuối niên khóa, nhờ chăm học, con được lãnh thưởng một chiếc ví bằng lụa với một tràng hạt Mân Côi màu trắng thật xinh xắn. Mẹ Rafaela nói với con là tràng hạt đã được làm phép. Đó là tràng hạt Mân Côi thực thụ đầu tiên của con.
... Lúc ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Chúa GIÊSU rằng: ”Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” Đức Chúa GIÊSU liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông và bảo: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời. Còn ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy. Nhưng ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn. Khốn cho thế gian, vì làm cớ cho người ta sa ngã. Tất nhiên phải có những cớ gây sa ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta sa ngã” (Matthêu 18,1-7).
(Cecilia Cony, ”Je Dois Raconter Ma Vie”, Editions Téqui, 1988, trang 54-56)
VỢ CHỒNG CÔNG GIÁO PHÁP SỐNG ĐẠO GIỮA ĐỜI
28-5-2008 ... Hồi ấy chúng tôi mới lấy nhau. Chúng tôi cùng nhau tự hỏi làm sao để sống đạo giữa đời? Rất may, chúng tôi gặp được những vị Linh Mục có sức lôi cuốn giới trẻ. Các ngài là những Linh Mục rất thực tế, vừa hăng say hoạt động tông đồ vừa chu toàn chức vụ thánh một cách nghiêm chỉnh. Gương sống của các ngài đáp ứng nhu cầu tìm kiếm của chúng tôi. Chúng tôi mong mỏi gặp một Đức Tin - không phải bình yên an nhàn - nhưng là một Đức Tin có sức mạnh gây thắc mắc, đặt câu hỏi!
Khi bắt đầu có con cái, chúng tôi quyết định dời nhà ra sống nơi ngoại ô thủ đô Paris, ở những khu vực có nhiều vấn đề của những gia đình nghèo hoặc di dân. Chúng tôi muốn tìm hiểu cảnh sống của các gia đình này, cũng như muốn cho con cái chúng tôi lớn lên giữa những người kém may mắn hơn chúng. Chúng tôi muốn giáo dục cho con cái biết thế nào là yêu thương và khoan nhượng.
Bà Sylvie nói:
- Tôi đi làm nửa ngày. Thời giờ còn lại tôi dành cho gia đình và cho những công tác thiện nguyện trong một hiệp hội giáo dân. Chúng tôi chia nhau đi thăm viếng các bệnh nhân nơi nhà thương. Tôi thích phiêu lưu mạo hiểm và tạo mối liên hệ thân tình với người không quen biết.
Ông Bruno tiếp lời vợ:
- Tôi thường tự vấn lương tâm: ”Anh là nhân viên điện toán, thử hỏi anh có sống gần gũi người nghèo không?” Cả hai vợ chồng chúng tôi đều là thành viên của Hội Truyền Giáo Pháp. Chính Hội này giúp chúng tôi hiểu rằng: ”Nếu muốn thay đổi não trạng trong phạm vi xã hội thì phải thay đổi từ trong các xí nghiệp”. Do đó, tôi tham dự vào việc thành lập một nghiệp đoàn. Chưa hết, tôi ghi danh theo học một năm huấn luyện về kinh tế tại đại học. Nhờ thế, tôi có thể góp phần vào việc khai sinh một tổ hợp thương mại chuyên việc thu góp đồ phế thải gồm quần áo cũ và các vật dụng cũ bằng kim khí. Tổ hợp hoạt động tốt đẹp và trưng dụng các người trẻ thất nghiệp trong các khu ngoại ô nghèo của thủ đô Paris.
Tuy nhiên, tôi không hài lòng với công việc này. Tôi muốn đi xa hơn trong việc tạo cơ may cho người kém may mắn, kẻ sống ngoài lề xã hội. Tôi muốn cho những người ấy có công ăn việc làm thực thụ - theo đúng nghĩa - chứ không phải những việc làm lặt vặt cỏn con, kiếm sống qua ngày! Một nền kinh tế thông thường, cần phải tạo công ăn việc cho người dân, đúng theo nhu cầu và nhân phẩm của họ.
Chúng tôi - giáo dân sống giữa đời - rất thích hình ảnh chiếc cầu: nối liền giữa kinh tế và xã hội, giữa các thành phần xã hội với nhau cũng như giữa Giáo Hội Công Giáo với những khu ngoại ô, những vùng lao động nghèo nàn. Khi người di dân không có giấy tờ hợp lệ, tranh đấu xin chính phủ Pháp cấp giấy thường trú, chúng tôi ủng hộ và nâng đỡ đòi hỏi của họ.
Trong nhiều năm trời, chúng tôi từng phụ trách Văn Phòng Tuyên Úy Công Giáo của các trường trung học. Tôi cũng tham gia việc chuẩn bị cho các em học giáo lý, lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Tuy nhiên, công tác gây nhiều hứng thú và kích thích nhiệt tâm tông đồ của chúng tôi nhất, chính là cổ võ sự gặp gỡ giữa người với người và sự giao thoa giữa các tư tưởng.
Chứng từ của bà Sylvie và ông Bruno Chaveron, tín hữu Công Giáo Pháp có 4 đứa con.
... Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi THIÊN CHÚA mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: ”Đây là nhà tạm THIÊN CHÚA ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là THIÊN CHÚA ở cùng họ. THIÊN CHÚA sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Khải Huyền 21,1-4).
(”Annales d'Issoudun”, Octobre/1999, trang 8-9)
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt - Vietvatican.net
|
|
|