ĐỨC THÁNH CHA BENEDICT
Buổi tiếp kiến 11 tháng 04-2012
Chúa Kitô phục sinh mở các nấm mồ con tim và ban đức tin hăng say cho các môn đệ
Mùa Phục Sinh là dịp thuận tiện giúp tất cả chúng ta tái khám phá ra các suối nguồn của đức tin và sự hiện diện của Chúa Phục Sinh giữa chúng ta với niềm vui và lòng hăng say; tái khám phá ra Lời Chúa và bí tích Thánh Thể như hai môn đệ trên đường làng Emmaus.
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nói như trên với hơn 40.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi tiếp kiến chung tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ tư 11-4-2012.
Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã trình bầy đề tài Chúa Kitô Phục Sinh biến đổi tâm trí các môn đệ. Người mở toang các nấm mồ của trái tim và trao ban cho họ nhiệt huyết đức tin. Vào chiều ngày Phục Sinh các môn đệ ở trong nhà đóng kín cửa vì sợ người do thái (Ga 20,19). Sự sợ hãi làm cho con tim họ co thắt, và ngăn cản họ ra đi gặp gỡ tha nhân và cuộc sống. Thầy không còn nữa. Ký ức về cuộc Khổ Nạn của Người nuôi dưỡng sự bất an. Nhưng Chúa Giêsu lưu tâm đến các môn đệ và sắp sửa hoàn thành điều đã hứa trong Bữa Tiệc Ly: ”Thầy không để các con mồ côi, Thầy sẽ đến với các con” (Ga 14,18). Và đó là điều Người cũng nói với chúng ta ngày nay trong các giai đoạn ảm đạm đen tối: ”Thầy sẽ không để các con mồ cÔi”. Đức Thánh Cha nói:
Tình trạng lo lắng này của các môn đệ thay đổi một cách triệt để với biến cố Chúa Giêsu tới. Người vào nhà khi cửa đóng kín, ngự giữa các ông và ban cho các ông sự bình an trấn tĩnh: ”Bình an cho các con” (Ga 20,19). Đây là một lời chào thông thường, nhưng giờ đây mang một ý nghĩa mới, bởi vì nó tạo ra một sự thay đổi nội tâm. Nó là lời chào phục sinh khiến cho các môn đệ thắng vượt mọi sợ hãi. Sự bình an mà Chúa Giêsu đem tới là ơn cứu độ Người đã hứa trong các diễn văn từ biệt các môn đệ: ”Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thầy ban cho các con không theo kiểu thế gian. Các con đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga 14,27). Trong ngày Phục Sinh này Chúa ban bình an tràn đầy cho chúng ta và nó trở thành cho cộng đoàn suối nguồn của niềm vui, sự chắc chắn của chiến thắng, sự an ninh cậy dựa vào Thiên Chúa.
Sau lời chào đó Chúa Giêsu cho các môn đệ trông thấy các vết thương ở tay và cạnh sườn (Ga 20,20), dấu chỉ của điều đã xảy ra và sẽ không bao giờ bị xóa bỏ nữa: nhân tính vinh quang của Người bị thương tích. Cử chỉ này có mục đích xác nhận thực tại mới của sự Phục Sinh: Chúa Kitô đang ở giữa các môn đệ Người là một người thật sự, là chính Đức Giêsu mà ba ngày trước đó đã bị đóng đanh vào thập giá. Chính như thế mà trong ánh sáng chói ngời của sự Phục Sinh, trong cuộc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh các môn đệ tiếp nhận được ý nghĩa cứu độ của cuộc khổ nạn và cái chết của Người. Khi đó từ buồn sầu và sợ hãi các ông bước sang niềm vui tràn đầy. Các buồn sầu và thương tích trở thành suối nguồn của niềm vui. Niềm vui nảy sinh trong con tim của các ông bắt nguồn từ việc ”trông thấy Chúa” (Ga 20,20). Người lại nói với họ: ”Bình an cho các con” (c. 21). Hiển nhiên đây không còn là lời chào thông thường nữa, mà là một ơn mà Chúa Phục Sinh muốn ban cho các bạn hữu Người, đồng thời là một lệnh truyền: sự bình an đã được Chúa Kitô chiếm hữu với máu của Người được dành để cho họ và cho tất cả mọi người, và các môn đệ có bổn phận mang nó đến cho toàn thế giới. Thật vậy Chúa Kitô nói: ”Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con”. Chúa Giêsu phục sinh trở lại với các môn đệ để gửi các ông ra đi. Người đã hoàn thành công trình của Người trong thế gian, giờ đây tới phiên các môn đệ gieo vãi đức tin trong các con tim, để Thiên Chúa Cha được hiểu biết và yêu thương quy tụ các con cái Người tản mác khắp nơi lại. Nhưng Chúa Giêsu biết trong tim các môn đệ vẫn còn có sự sợ hãi, nên Người làm cử chỉ thổi trên họ và tái sinh họ trong Thần Khí của Người (x. Ga 20,22): đó là cử chỉ của việc tạo dựng mới. Đức Thánh Cha giải thích ý nghĩa cử chỉ này như sau:
Thật thế, với ơn Thánh Thần đến từ Chúa Kitô phục sinh, một thế giới mới bắt đầu. Với việc gửi các môn đệ ra đi bắt đầu con đường của dân giao ước mới trong thế giới, dân tin nơi Người và công trình cứu độ của Người, dân làm chứng cho sự thật của sự phục sinh. Sự mới mẻ này của một cuộc sống không chết, đã được lễ Phục Sinh đem tới được phổ biến khắp nơi, để các gai góc của tội lỗi đả thương trái tim con người nhường chỗ cho các mầm giống của Ơn Thánh, của sự hiện diện của Thiên Chúa và tình yêu của Người, chiến thắng tội lỗi và cái chết.
Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: Các bạn thân mến, cả ngày nay nữa, Chúa Phục Sinh bước vào trong nhà và con tim của chúng ta, mặc dù thường khi cửa đóng. Người vào và ban niềm vui, sự bình an, sự sống và niềm hy vọng, là các ơn mà chúng ta cần đến cho sự tái sinh nhân bản và tinh thần của chúng ta. Đức Thánh Cha quảng diễn thêm điểm này như sau:
Chỉ có Người mới có thể lay động các tảng đá lấp huyệt mộ, mà con người thường lăn lên trên các tâm tình, các tương quan, các cung cách hành xử của mình, các tảng đá thừa nhận cái chết: các chia rẽ, các thù nghịch, bất hòa, oán hận, ghen tương, nghi ngờ, thờ ơ. Chỉ có Chúa, Đấng Hằng Sống, mới có thể trao ban ý nghĩa cho cuộc sống và khiến cho người mệt mỏi và buồn sầu, mất tin tưởng và không hy vọng tiếp tục tiến bước. Đó là điều hai môn đệ trên đường từ Giêrusalem về làng Emmaus đã sống trong ngày lễ Phục Sinh (x. Lc 24,13-35). Họ nói về Đức Giêsu, nhưng gương mặt sầu muộn của họ diễn tả các niềm hy vọng tan vỡ, sự bất an và nỗi nhớ tiếc. Họ đã bỏ quê sinh để theo Đức Giêsu với các bạn hữu, và họ đã khám phá ra một thực tại mới, trong đó sự tha thứ và tình yêu thương không phải chỉ là các lời nói, nhưng họ đã sờ mó được sự hiện hữu của Đức Giêsu một cách cụ thể. Đức Giêsu thành Nagiarét đã khiến cho tất cả mọi sự đều mới mẻ, đã biến đổi cuộc sống của họ. Nhưng giờ đây Người đã chết và tất cả xem ra chấm dứt.
Tuy nhiên bất thình lình có ba người bộ hành, chứ không phải là hai nữa. Đức Giêsu tới gần hai môn đệ và cùng đi với họ, nhưng họ không có khả năng nhận ra Người. Chắc chắn họ đã nghe các tiếng nói về sự phục sinh của Người, vì họ kể: ”Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống” (cc. 22-23). Nhưng tất cả những điều đó đã không đủ để thuyết phục họ, bởi vì ”họ đã không thấy Người” (c. 24). Khi đó Chúa Giêsu mới kiên nhẫn giải thích cho họ hiểu những gì liên quan đến Người, bắt đầu từ ông Môshê và tất cả các ngôn sứ. Chúa Giêsu giải thích cho các môn đệ Thánh Kinh bằng cách cống hiến cho các ông chìa khóa đọc hiểu nền tảng là những gì liên quan tới chính Người và Mầu nhiệm phục sinh của Người... Ý nghĩa của mọi sự: Lề Luật, các Ngôn sứ, và các Thánh vịnh bất thình lình mở ra và trở thành rõ ràng trước mắt các ông. Chúa Giêsu đã mở trí thông minh cho các ông hiểu Thánh Kinh (x. Lc 24,45)...
Trong khi đó thì họ tới làng, chắc là nhà của một trong hai người. Người khách lạ làm như còn phải đi xa hơn, nhưng vì họ nài nỉ ”Hãy ở lại với chúng tôi”, nên Người ở lại với họ. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra, và họ nhận ra Người, nhưng Người đã biến mất”. Sự hiện diện của Chúa Giêsu, trước tiên với lời nói rồi với cử chỉ bẻ bánh, khiến cho các môn đệ nhận ra Người và họ có thể cảm nhận một cách mới mẻ điều họ đã cảm thấy trong khi đồng hành với Người: lòng họ bừng cháy lên. Câu chuyện này cho thấy có hai nơi giúp chúng ta gặp gỡ Chúa Phục Sinh biến đổi cuộc sống: việc lắng nghe lời Chúa trong niềm hiệp thông với Chúa Kitô và việc bẻ bánh: Lời Chúa và Thánh Thể gắn liền mật thiết với nhau.
Sau cuộc gặp gỡ, ngay lúc ấy hai môn đệ đã trở lại Giêrusalem chia sẻ kinh nghiệm của họ với Mười Một Tông Đồ và các môn đệ khác. Những người này nói với họ: ”Chúa chỗi dậy thật rồi và đã hiện ra với ông Simon” (c. 33-34). Hai người đã thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh. Họ đã được tái sinh vào niềm hy vọng sống động bởi việc Chúa phục sinh từ cõi chết. Thật thế, tái sinh trong họ niềm hăng say của đức tin, tình yệu thương đối với cộng đoàn, việc cần phải thông truyền tin vui cho người khác.
Trước khi cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người, Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Ngài chúc tất cả mùa Phục Sinh sốt mến tràn đầy ơn thánh của Chúa Kitô phục sinh khải hoàn.
Linh Tiến Khải
- www.vietvatican.net
BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 12)
Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 11.04.2012.
LỄ CHÚA PHỤC SINH
ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI
Anh Chị Em thân mến,
sau những cuộc trọng thể cử hành Phục Sinh, buổi gặp gỡ của chúng ta hôm nay tràn đầy niềm vui thiêng liêng, mặc dầu bầu trời đang màu xám, chúng ta đang mang trong tâm hồn niềm vui Phục Sinh, lòng xác tín sự Phục Sinh của Chúa Kitô, Đấng đã vĩnh viễn toàn thắng trên sự chết.
Trước hết tôi xin lập lại cho mỗi người trong Anh Chị Em lời thân tình chúc mừng phục sinh: ước gì trong mọi tâm hồn và trong mọi gia thất đều trỗi dậy lời loan báo vui tươi Phục Sinh Chúa Kitô, như vậy làm tái sinh lại niềm hy vọng.
1 - Trong bài giáo lý hôm nay, tôi xin được trình bày sự thay đổi mà Phục Sinh của Chúa Giêsu đã tạo nên nơi các môn đệ Người.
Chúng ta khởi hành từ buổi chiều ngày Phục Sinh. Các môn đệ đều đóng kín trong nhà vì sợ người Do Thái ( cfr. Jn 20, 19). Sự sợ hãi thắt chặt tâm hồn và ngăn cản các vị đi gặp gỡ người khác, gặp gỡ với sự sống. Vị Thầy không còn nữa. Kỷ niệm về cuộc Khổ Nạn của Người làm cho tâm hồn các vị môn đệ trở thành bấp bênh.
Nhưng Chúa Giêsu luôn lưu tâm đến các môn đệ Người và để thực hiện lời Người đã hứa trong buổi Tiệc Ly:
- " Thầy không để anh em mồ côi, Thầy sẽ đến với anh em " ( Jn 14, 18).
Và đó cũng là những gì Người nói với chúng ta, mặc cho trong những thời điểm xám tối " Thầy không để anh em mồ côi ".
Tình trạng lo âu nầy của các môn đệ được hoàn toàn thay đổi, khi Chúa Giêsu đến. Người đi vào, trong khi các cửa đều đóng kín, đứng giữa các vị và ban bình an để trấn an các vị:
- " Bình an cho anh em " ( Jn 20, 19b).
Đó là một lời chào hỏi thông thường, những giờ đây có một ý nghĩa mới, bởi lẽ là lời cháo hỏi tác động một sự thay đổi nội tâm.
Đó là lời chào hỏi phục sinh, vượt lên trên mọi nỗi sợ hãi của các môn đệ.
Bình an mà Chúa Giêsu đem đến là một quà tặng sự cứu rỗi, mà Người đã hứa trong những lời giả từ trước đó:
- " Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không phải như kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi " ( Jn 14, 27).
Trong ngày Phục Sinh nầy, Người ban cho niềm bình an hoàn hảo và sự bình an đó trở thành cho cộng đồng nguồn mạch vui mừng, sự chắc chắn của chiến thắng, sự bảo đảm cho niềm tin cậy vào Thiên Chúa:
- " Anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy " ( Jn 14, 1).
Sau lời chào hỏi đó, Chúa Giêsu cho các môn đệ xem các vết thương ở tay và cạnh sườn ( cfr Jn 20, 20), dấu chứng của những gì đã qua và sẽ không bao giờ xoá đi được: bản thế nhân loại vinh quang của Người vẫn còn " bị thương tích ". Cử chỉ đó có mục đích xác nhận thực tại mới của Phục Sinh: Chúa Kitô giờ đây hiện đang đứng giữa các môn đệ Người là một con người thực sự, cũng chính là Chúa Giêsu ba ngày trước đã chịu đóng đinh vào thập giá.
Và như vậy, trong ánh sáng chói lòa Phục Sinh, trong cuộc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh, các môn đệ nhận được ý nghĩa cứu rỗi của cuộc khổ nạn và phục sinh của Người.
Như vậy, từ nỗi buồn thảm đạm và sợ hãi, các môn đệ bước qua niềm hân hoan tràn ngập. Chính nỗi buồn thảm và các vết thương trỏ thành nguồn mạch hân hoan.
Niềm hoan hỉ nảy sinh ra trong lòng các vị thoát xuất từ việc " thấy được Chúa " ( Jn 20, 20).
Người nói lại với các vị một lần nữa:
- " Bình an cho anh em " ( Jn 20, 21).
Điều đó hiển nhiên không phải chỉ là một lời chào hỏi. Đó là một quà tặng, quà tặng mà Chúa Phục Sinh muốn ban cho các thân hữu Người và đồng thời cũng là một động tác trao tặng: niềm bình an nầy, mà Chúa Kitô đã đạt được bằng máu Người, là của các vị mà cũng là của tất cả mọi người, và các môn đệ sẽ phải đem đi khắp thế gian.
Bởi đó tiếp theo Người còn nói thêm:
- " Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thây cũng sai anh em " ( ibid.).
Chúa Giêsu Phục Sinh trở lại giữa các môn đệ, để sai các vị đi thực hiện sứ mạng.
Người đã hoàn tất sứ mạng của Người nơi trần gian, giờ đây đến phiên các vị gieo giải nơi các tâm hồn đức tin, để Chúa Cha được biết đến và được yêu thương, đón nhận tất cả con cái Người rải rác khắp nơi.
Nhưng Chúa Giêsu biết rằng giữa các môn đệ Người vẫn luôn luôn còn có thái độ lo sợ. Bởi đó Người thục hiện động tác thổi hơi vào các môn đệ và tái sinh các vị lại trong Chúa Thánh Thần:
- " Nói xong, Người thổi hơi vào các môn đệ và bảo: " Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần " ( Jn 20, 22).
Cử chỉ đó là dấu chứng một cuộc tạo dựng mới.
Thật vậy, với ơn ban Chúa Thánh Thần, thoát xuất từ Chúa Kitô Phục Sinh, một thế giới mới đã được khởi đầu.
Với động tác sai đi các môn đệ để thực hiện sứ mạng, cuộc hành trình của dân giao ước mới giữa thế gian được bắt đầu. Đó là dân tin vào Người và vào công trình cứu độ của Người, nhân chứng cho chân lý phục sinh.
Điều mới mẽ của một đời sống không bao giờ chết, được Phục Sinh đem đến, phải được loan truyền khắp nơi, để cho gai gốc tội lỗi làm tổn thương tâm hồn con người, phải nhường chỗ lại cho các mầm chồi Ân Sủng, cho các mầm chồi sự hiện diện của Thiên Chúa và của tình yêu thương Người chiến thắng tội lỗi và sự chết.
2 - Các bạn thân mến, ngày hôm nay Chúa Phục Sinh cũng đi vào gia cư của chúng ta và vào con tim của chúng ta, mặc dầu đôi khi các cửa bị đóng kín. Người đi vào bằng cách ban cho chúng ta niềm vui tươi và hoà bình, đời sống và hy vọng, các ân sủng mà chúng ta cần phải có cho cuôc tái sinh nhân loại và thiêng liêng của chúng ta.
Chỉ có Người mới lật đi được những tảng đá mồ chôn, mà con người thường đặt trên tâm tình của chính mình, trên các mối liên hệ của mình, trên các thái độ của mình.
Đó là những tảng đá thiết định sự chết:chia rẻ, bất thân thiện, oán hờn, ganh tỵ, không tin tưởng, dững dưng.
Chỉ có Người, Đấng Hằng Sống, mới có thể đem lại ý nghĩa cho cuộc sống và cho con người mệt mỏi và buồn phiền, mất tin tưởng và hy vọng bắt đầu lại cuộc hành trình.
Đó là những gì kinh nghiệm được hai môn đệ ngày Phục Sinh đang đi trên con đường từ Giêrusalem đến Emmaus ( cfr Lc 24, 13-36).
Hai người nói về Chúa Giêsu, nhưng với " vẻ mặt buồn rầu " ( Lc 24, 17),diễn tả các hy vọng đã bị thất vọng, mất tin tưởng và buồn bã.
Hai môn đệ đã rời bỏ quê hương để theo Chúa Giêsu cùng với các thân hữu Người, và hai người đã khám phá ra một thực tại mới, trong đó lòng tha thứ và tình yêu thương không phải chỉ bằng lời nói, nhưng là những gì liên hệ thiết thực đến cuộc sống.
Chúa Giêsu Nazareth đã biến tất cả thành mới mẻ, đã biến đổi đời sống của hai người.
Nhưng giờ đây, Người đã chết và tất cả có vẻ như đã hết.
Nhưng rồi bất thình lình, không những chỉ có hai người, mà cả ba người cùng đồng hành.
Chúa Giêsu đến bên cạnh hai môn đệ và cùng đồng hành với hai người, nhưng hai người không có khả năng nhận ra Người. Dĩ nhiên hai người cũng đã nghe được tiếng đồn về sự sống lại của Người, bởi đó hai ông thuật lại về Nguời:
- " Thật ra củng có mầy người phụ nữ trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy đã ra mộ sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống" ( Lc 24, 22-23).
Nhưng tất cả những điều đó chưa đủ để thuyết phục hai ngưòi, bỏi vì " họ không được thấy Người " ( Jn 24, 24).
Bấy giờ Chúa Giêsu cùng với sự nhẫn nại
- " Bắt đầu từ ông Moisen và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh " ( Jn 24, 27).
Chúa Phục Sinh giải thích cho hai môn đệ Thánh Kinh, ban cho các ông chìa khoá căn bản để đọc Thánh Kinh, nghĩa là chính Người và Mầu Nhiệm Phục sinh của Người: cácThánh Kinh đã nhân chứng cho Người ( Jn 5, 39-47).
Ý nghĩa của tất cả, của Lề luật, của các Tiên Tri và của các Thánh Vịnh bất thần được mở ra và trở thành rõ ràng trước mắt hai người. Chúa Giêsu đã mở tâm trí các ông ra để hiểu được Thánh Kinh:
- " Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu được Thánh Kinh " ( Lc 24, 45).
Trong tạm thời cả ba người lữ hành đều đến làng mạc, có lẽ đến nhà của một trong hai người môn đệ.
Người lữ hành xa lạ
- " làm như còn muốn phải đi xa hơn nữa " ( Lc 24, 28).
nhưng rồi ở lại, vì hai người môn đệ thành khẩn van xin;
- " Xin hãy ở lại với chúng tôi " ( Jn 24, 29).
Chúng ta cũng vậy, luôn luôn chúng ta phải nói với Chúa với cả tâm tình : " xin ở lại với chúng con "..
" Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng,, và bẻ ra trao cho họ " ( Jn 24, 30).
Điều vừa kể nhắc nhớ lại những cử chỉ mà Chúa Giêsu đã thực hiện trong buổi Tiệc ly thật là rõ ràng.
- " Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người " ( Jn 24, 31).
Sự hiện diện của Chúa Giêsu, trước tiên bằng lời nói,kế đến bằng cử chỉ của việc bẻ bánh ra, làm cho các môn đệ có thể nhận ra Người. Và hai người cảm nhận được bằng một cách hiểu biết mới, trong khi đi đường với Người:
- " Dọc đường khi Người nói chuyện và giải thích Thánh Kinh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ' " ( Jn 24, 32).
Biến cố vừa kể chỉ cho chúng ta hai " nơi " ưu tiên, mà chúng ta có thể gặp được Chúa Phục Sinh, để người chuyển đổi đời sống chúng ta: đó là lắng nghe Lời Chúa, trong thông hiệp với Chúa Ki Tô, và việc bẻ Bánh: hai " nơi " đó liên kết sâu đậm với nhau, bởi vì
- " Lời Chúa và Thánh Thể thuộc về nhau khắn khít thân tình đến nỗi không thể hiểu được thực thể nầy, mà không có thực thể kia: Lời Chúa nhập thể bí tích trong biến cố Thánh Thể ( Esort. ap. postsin. Verbum Domini 54-55).
Sau cuộc gặp gỡ nầy, hai môn đệ " ra đi không cần chờ và trở về Giêrusalem ", nơi mà hai người sẽ gặp Nhóm Mười Một đang hợp nhau và những người khác ở với các ngài, và các vị đó nói với hai người:
- " Chúa đã trỗi dạy thật rồi và hiện ra với Simon ( Jn 24, 33-34).
Ở Giêrusalem hai người lằng nghe những tin tức về sự sống lại của Chúa Giêsu và đến phiên hai người, họ kể lại kinh nghiệm của chính mình, kinh nghiệm được đốt cháy bằng tình thương yêu đối với Chúa phục Sinh, Đấng đã mở rộng tâm hồn hai người ra cho một niềm vui không thể kềm chế được. Họ đã
" được tái sinh, để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Chúa Giêsu Kitô từ cỏi chết sống lại " (1 Pt 1, 3), như Thánh Phêrô nói.
Thật vậy lòng phấn khởi đức tin được tái sinh lại nơi họ, cả tình yêu thương đối với công dồng,
và nhu cầu cần loan báo tin mừng.
Vị Thầy đã sống lại và cùng với Người cả đời sống cũng sống lại. Bởi đó nhân chứng cho biến cố vừa kể, đối với họ, là một điều cần thiết không thể xóa bỏ đi được.
Các bạn thân mến, ước gì thời gian phục sinh đối với tất cả chúng ta là cơ hội lợi ích để khám phá ra lại với niềm hân hoan và hứng khởi các nguồn mạch của đức tin, sự hiện diện của Chúa Phục Sinh ở giữa chúng ta.
Đó là thực hiện những gì Chúa Giêsu đã làm cho hai môn đệ trên đường Emmaus thi hành, qua việc khám phá ra lại Lời Chúa và Thánh Thể. Điều đó có nghĩa là cùng đi với Chúa và để cho Người mở mắt chúng ta ra đến ý nghĩa đích thực của Thánh Kinh và đến sự hiện diện của Người trong động tác bẻ bánh. Thượng đỉnh của cuộc hành trình đó, lúc đó cũng như hiện nay, là Thông Hiệp Thánh Thể: trong Hiệp Thông đó Chúa Giêsu nuôi nấng chúng ta bằng Mình và Máu Người, để hiên diện trong đời sống chúng ta, để làm cho chúng ta trở nên người mới, được thúc đẩy bằng quyền lực của Chúa Thánh Thần.
Để kết thúc, kinh nghiệm của hai môn đệ mời gọi chúng ta suy tư về ý nghĩa của Phục Sinh đối với chúng ta.
Chúng ta hãy để mình được gặp Chúa Giêsu Phục Sinh. Người, vẫn sống và hiện thực, vẫn luôn luôn hiện diện giữa chúng ta, cùng đồng hành với chúng ta, để hướng dẫn đời sống chúng ta, để mở mắt của chúng ta ra.
Chúng ta hãy tin cậy vào Chúa Phục Sinh, Đấng có quyền năng ban sự sống, làm cho chúng ta được tái sinh lại thành con cái Thiên Chúa, có khả năng tin và yêu thương.
Đức tin vào Người chuyển đổi đời sống chúng ta : giải thoát khỏi sợ hãi, ban cho niềm hy vọng vững chắc, làm cho đời sống chúng ta được tác động bởi những gì đem lại ý nghĩa hoàn hảo của cuộc sống, đem lại tình yêu thương của Thiên Chúa.
Cám ơn Anh Chị Em.
Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ. Nguyễn Học Tập.
( Thông tấn www.vatican.va, 11.04.2012).