dongcong.net
 
 

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICT
Buổi tiếp kiến 25 tháng 04-2012

Mục vụ bác ái cần được thấm nhuần bởi việc chiêm niệm

Mục vụ bác ái thời Giáo Hội khai sinh dậy cho chúng ta biết rằng không có lời cầu nguyện, thì hoạt động của chúng ta bị giản lược thành chủ trương duy hoạt động và chúng ta có nguy cơ bị ngộp thở trong các công việc thường ngày.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định như trên trong buổi tiếp kiến chung hơn 50.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ tư 25-4-2012.

Ngoài các đoàn hành hương đến từ Bắc Mỹ và Âu châu, có các đoàn hành hương đến từ các nước Á châu như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Philippines. Từ Phi châu có đoàn hành hương Nigeria. Từ Châu Mỹ Latinh có các đoàn hành hương Mehicô, Guatemala, Venezuela và Brasil.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã khai triển đề tài mục vụ bác ái đối với các người neo đơn và cần được trợ giúp, như kể trong chương 6 sách Công Vụ. Hồi đó Giáo Hội gia tăng nhân số và các tín hữu nói tiếng Hy Lạp than phiền chống lại các tín hữu gốc Do thái, vì các bà góa của họ bị bỏ quên trong việc phân phát lương thực hằng ngày (Cv 6,1).

Vấn đề không phụ thuộc đối với Giáo Hội và có nguy cơ gây chia rẽ trong lòng cộng đoàn. Đứng trước sự cấp thiết của tình bác ái đối với các người yếu đuối, người nghèo, không được bênh đỡ và vì đức công bằng, các Tông Đồ triệu tập toàn cộng đoàn môn đệ lại để giải quyết vấn đề. Đức Thánh Cha nói:

Các vị đứng trước đòi hỏi đầu tiên loan báo Lời Chúa theo lênh truyền của Chúa nhưng, cả khi đó là đòi hỏi đầu tiên của Giáo Hội, các vị cũng nghiêm chỉnh cứu xét nhiệm vụ bác ái và công bằng, nghĩa là bổn phận trợ giúp các bà góa, người nghèo, yêu thương lo lắng cho các tình trạng túng thiếu của các anh chị em khác, để đáp trả lại lệnh truyền của Chúa Giêsu: các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con (x. Ga 15,12.17).

Như thế cần phải tìm ra một giải pháp cho hai thực tại, mà Giáo Hội cần phải sống và đang gây ra khó khăn: đó là việc loan báo Lời Chúa, quyền tối thượng của Thiên Chúa và tình bác ái cụ thể và công lý. Suy tư của các Tông Đồ rất là rõ ràng, các vị họp cộng đoàn lại và nói: ”Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải. Vậy thưa anh em, anh em hãy tìm trong cộng đoàn bẩy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó. Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa” (Cv 6,2-4).

Có hai điều xuất hiện ở đây: thứ nhất, hồi đó trong Giáo Hội có một thừa tác bác ái. Giáo Hội không chỉ loan báo Lời Chúa, mà cũng thực hiện Lời Chúa nữa là lòng bác ái và sự thật. Thứ hai, các người này không phải chỉ có tiếng tốt, mà còn phải là những người tràn đầy Chúa Thánh Thần và khôn ngoan, nghĩa là họ không thể chỉ là những người tổ chức biết làm, mà phải làm trong tinh thần của đức tin với ánh sáng của Thiên Chúa, trong sự khôn ngoan của con tim, và cả khi nhiệm vụ của họ trước hết là thực tế đi nữa, nó cũng là một nhiệm vụ tinh thần. Bác ái và công lý không chỉ là các hoạt động xã hội, mà cũng là các hoạt động tinh thần, được thực hiện trong ánh sáng của Chúa Thánh Thần. Như thế, các Tông Đồ đã đương đầu với tình hình này với tinh thần trách nhiệm cao độ.

Bẩy người đã được tuyển chọn, và các Tông Đồ đã cầu nguyện để xin sức mạnh của Chúa Thánh Thần và đặt tay để họ tự tận hiến cách đặc biệt cho việc phục vụ bác ái này. Như vậy các bước đầu của cuộc sống Giáo hội, trong một nghĩa nào đó, phản ánh những gì đã xảy ra trong cuộc sống công khai của Chúa Giêsu, trong nhà Marta và Maria ở Bêtania. Marta thì bận rộn lo lắng phục vụ Chúa Giêsu và các môn đệ, Maria trái chăm chú lại lắng nghe Lời Chúa (x. Lc 10,38-42). Trong cả hai trường hợp, các lúc cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa không đối chọi với hoạt động thường ngày và việc thực thi bác ái. Việc hoạt động cho tha nhân không bị kết án, nhưng đàng khác nó phải được thấm nhuần bên trong bởi tinh thần chiêm niệm. Phải có sự chiêm ngắm Thiên Chúa trong hoạt động thường ngày. Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:

Chúng ta không được đánh mất chính mình trong chủ trương hoạt động thuần túy, nhưng phải luôn luôn để cho ánh sáng của Lời Chúa thấm nhập vào hoạt động của chúng ta, và như thế học tình bác ái đích thực, học việc phục vụ tha nhân đích thực, là điều không cần tới nhiều sự - dĩ nhiên là phải có những gì cần thiết - nhưng nhất là cần lòng trìu mến của con tim, cần ánh sáng của Thiên Chúa.

Chú thích giai thoại hai chi em Marta và Maria thánh Ambrogio khích lệ các tín hữu cũng tìm những gì không thể bị lấy mất đi, bằng cách chú ý tới Lời Chúa, mà không lo ra; vì cũng xảy ra là hạt giống của lời thiên quốc bị đem đi mất, nếu được gieo dọc lối đi. Hãy noi gương Maria kích thích ước muốn hiểu biết, vì nó là công trình lớn lao và hoàn thiện nhất (Expositio Evangelii secundum Lucam, VII, 85: PL 15,1720).

Đây là một nhắc nhở cho chúng ta ngày nay, thường quen đánh giá mọi sự theo tiêu chuẩn sản xuất và hiệu năng. Văn bản sách Công Vụ nhắc cho chúng ta biết tầm quan trọng của việc làm - vì có cả một bộ được thành lập cho lao động - tầm quan trọng của sự dấn thân trong các hoạt động thường ngày với tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy, nhưng nó cũng nhắc cho chúng ta biết chúng ta cần Thiên Chúa, cần sự hướng dẫn và ánh sáng của Chúa trao ban sức mạnh và hy vọng cho chúng ta. Nếu không có lời cầu nguyện thường ngày, được sống với lòng trung thành, việc làm của chúng ta trống rỗng, vô hồn, và bị giản lược vào chủ trương hoạt động, sau cùng khiến cho chúng ta không được thỏa mãn.

Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: có một lời cầu rất đẹp như thế này: ”Lậy Chúa, xin soi sáng cho chúng con biết việc phải làm, và khi làm xin Chúa giúp đỡ, để mọi lời nói và việc làm của chúng con luôn khởi sự và hoàn thành trong Chúa”. Cũng vậy, mọi bước đi của cuộc sống chúng ta, mọi hoạt động, cả của Giáo Hội nữa cũng phải được làm trước mặt Chúa và dưới ánh sáng của Lời Chúa... Khi lời cầu nguyện được dưỡng nuôi bằng Lời Chúa, chúng ta có thể nhìn thực tại với đôi mắt mới, với đôi mắt của đức tin, và Chúa là Đấng nói với tâm trí chúng ta ban ánh sáng mới cho đường đi, trong mọi lúc và mọi hoàn cảnh. Chúng ta tin vào sức mạnh của Lời Chúa và lời cầu nguyện. Sự kiện các Tông Đồ không chỉ chuẩn nhận việc lựa chọn Stephano và các người khác, nhưng còn cầu nguyện rồi đặt tay trên họ ám chỉ việc trao ban nhiệm vụ cho họ, và minh xác rằng việc phục vụ bác ái là một phục vụ tinh thần. Đức Thánh Cha quảng diễn ý nghĩa cử chị đặt tay như sau:

Với cử chỉ đặt tay các Tông Đồ trao ban cho bảy người này một chức thừa tác, để họ nhận được ơn thánh tương xứng. Việc nhấn mạnh trên lời cầu nguyện ”sau khi đã cầu nguyện”, là quan trọng, bởi vì nó minh nhiên chiều kích tinh thần của cử chỉ này. Đây không chỉ là việc đơn thuần trao ban một chức vụ như trong một tổ chức xã hội, mà là một biến cố giáo hội, trong đó Chúa Thánh Thần chiếm hữu bảy người được Giáo Hội tuyển chọn, bằng cách thánh hiến họ cho Chân Lý là Chúa Giêsu Kitô. Chính Người là tác nhân thinh lặng, hiện diện trong việc đặt tay, để các người được chọn được biến đổi bởi quyền năng của Người và được thánh hóa hầu đương đầu với các thách đố cụ thể, các thách đố mục vụ.

Trình thuật cũng cho chúng ta thấy sự tối thượng của lời cầu nguyện và Lời Chúa làm nảy sinh ra hoạt động mục vụ. Đối với Các Chủ Chăn đây là hình thức phục vụ đầu tiên qúy báu đối với đoàn chiên được giao phó cho các vị. Nếu các lá phổi của lời cầu nguyện và Lời Chúa không dưỡng nuôi hơi thở cuộc sống thiêng liêng của chúng ta, thì chúng ta có nguy cơ chết ngộp giữa hàng ngàn sự việc mỗi ngày: lời cầu nguyện là hơi thở của linh hồn và cuộc sống.

Sau khi chào các tín hữu bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, NBồ Đào Nha, Ba Lan, Croat, Slovac, Hungari và Ý và cầu chúc họ có những ngày hành hương sốt sắng và bổ ích, Đức Thánh Cha đã cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải

 

Bài Giáo Lý Thứ 31 của ĐTC Bênêđictô XVI về Cầu Nguyện:
Cầu Nguyện và Phục Vụ

Nếu không cầu nguyện, ‘chúng ta có nguy cơ bị nghẹt thở giữa ngàn điều phải lo lắng mỗi ngày.’
Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý thứ 31 về cầu nguyện của ĐTC Bênêđictô XVI ban hành trong buổi triều yết chung ngày Thứ Tư 25 tháng 4 năm 2012tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Lần này ĐTC tiếp tục nói về việc cầu nguyện trong Sách Tông Đồ Công Vụ.

* * * * *
Anh chị em thân mến,
Trong bài giáo lý trước, tôi đã cho thấy rằng Hội Thánh từ khi bắt đầu cuộc hành trình của mình, phải đương đầu với nhiều hoàn cảnh bất ngờ, những vấn đề mới và những trường hợp khẩn cấp mà Hội Thánh đã cố gắng trả lời trong ánh sáng đức tin, được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần.
Hôm nay tôi muốn ngừng lại và suy niệm về một hoàn cảnh khác trong những hoàn cảnh này, một vấn đề nghiêm trọng mà cộng đồng Kitô hữu tiên khởi tại Giêrusalem đã phải đương đầu và giải quyết, như Thánh Luca cho chúng ta biết trong chương sáu của Sách Tông Đồ Công Vụ, về vấn đề phục vụ bác ái cho những người cô quả, những người cần giúp đỡ và trợ cấp. Vấn đề được đặt ra không phải là thứ yếu đối với Hội Thánh và có nguy cơ tạo ra sự chia rẽ trong Hội Thánh vào thời điểm ấy. Thực ra, số môn đệ đã gia tăng nhiều, nhưng những người nói tiếng Hy Lạp bắt đầu phàn nàn về những người nói tiếng Do Thái, vì các góa phụ của họ bị bỏ bê trong việc phân phát lương thực hằng ngày (Cv 6:1). Trước tình trạng khẩn trương này liên quan đến một khía cạnh thiết yếu trong đời sống của cộng đồng, là tình bác ái đối với những người yếu đuối, người nghèo, người tàn tật, và với công lý, các Tông Đồ đã triệu tập nhóm môn đệ lại.
Trong hoàn cảnh mục vụ khẩn trương ấy, điều nổi bật là sự phán đoán mà các Tông Đồ đã thực hiện. Các ngài phải đương đầu với một việc hết sức cần thiết là phải công bố Lời Chúa, theo mệnh lệnh của Chúa; nhưng dù đó là nhu cầu cấp bách hàng đầu của Hội Thánh, các ngài cũng coi trọng không kém nhiệm vụ thực thi bác ái và công lý, tức là nhiệm vụ giúp đỡ các góa phụ và người nghèo, việc yêu thương cung cấp cho anh chị em mình trong những hoàn cảnh túng thiếu, để đáp lại mệnh lệnh của Chúa Giêsu: “Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (x. Ga 15:12.17).
Như vậy, hai thực tại mà các ngài phải sống trong Hội Thánh – việc rao giảng Lời Chúa, quyền tối cao của Thiên Chúa, cùng việc bác ái cụ thể và công lý – đang tạo ra những khó khăn và cần phải tìm ra một giải pháp, để cả hai thực tại này đều có thể có chỗ đứng, và sự liên hệ thiết yếu của chúng. Phán đoán của các Tông Đồ thật rõ ràng, các ngài nói, như chúng ta đã nghe: “Thật là không đúng khi chúng tôi phải bỏ bê việc rao giảng Lời Thiên Chúa để hầu bàn. Cho nên, thưa anh em, xin hãy chọn trong anh em bảy người có uy tín, đầy Thần Khí và khôn ngoan, là những người mà chúng tôi sẽ chỉ định làm công việc ấy. Còn chúng tôi sẽ chuyên tâm cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa.” (Cv 6:2- 4).
Hai điều xuất hiện ở đây: điều thứ nhất, kể từ lúc đó trong Hội Thánh có một thừa tác vụ bác ái. Hội Thánh không những chỉ công bố Lời Chúa, nhưng cũng phải thực hành Lời Chúa, là bác ái và chân lý. Và, điều thứ hai, những người này không những chỉ có uy tín, nhưng họ phải là những người tràn đầy Chúa Thánh Thần và sự khôn ngoan; nghĩa là họ không thể chỉ là những nhà tổ chức biết phải “làm” thế nào, nhưng họ phải “làm như thế” trong tinh thần đức tin với ánh sáng của Thiên Chúa, trong sự khôn ngoan của tâm hồn.  Cho nên, chức năng của họ, dù chính yếu là có bản chất thực tế, nhưng cũng vẫn là một chức năng tinh thần. Bác ái và công lý không chỉ là những hành động xã hội, nhưng còn là những hành động tinh thần được thực hiện trong ánh sáng của Chúa Thánh Thần. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng các Tông Đồ đã giải quyết tình trạng này với một tinh thần trách nhiệm rất cao, khi các ngài đi đến quyết định này là việc chọn bảy người. Các Tông Đồ cầu nguyện để xin sức mạnh của Chúa Thánh Thần; và sau đó đặt tay các ngài trên họ để họ được đặc biệt thánh hiến cho việc phục vụ bác ái này. Như vậy, trong đời sống Hội Thánh, ở những bước đầu tiên, phản ảnh một cách nào đó những gì đã xảy ra trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu, tại nhà chị em cô Martha và Maria ở Bêthania. Cô Martha đã tận tâm tận lực phục vụ và đón tiếp Chúa Giêsu cùng các môn đệ của Người; còn cô Maria thì chú tâm lắng nghe Lời Chúa (x. Lc 10:38-42). Trong cả hai trường hợp, những giờ phút cầu nguyện, lắng nghe Thiên Chúa, và các hoạt động hàng ngày, như việc thực thi bác ái, không trái ngược nhau. Lời nhắc nhở của Chúa Giêsu: “Martha! Martha! Con băn khoăn lo lắng về quá nhiều chuyện. Nhưng chỉ có một chuyện cần thiết; và Maria đã chọn phần tốt hơn mà sẽ không bị lấy đi mất.” (Lc 10:41-42 ) cũng như sự suy nghĩ của các Tông Đồ: “... Còn chúng tôi sẽ chuyên tâm cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa.” (Cv 6.4), chứng tỏ ưu tiên mà chúng ta phải dành cho Thiên Chúa.
Lúc này tôi không muốn giải thích về đoạn văn liên quan đến chị em Martha-Maria ấy.  Dù sao đi nữa, không ai có thể lên án việc phục vụ người lân cận, và tha nhân; tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng ngay cả hoạt đông ấy cũng phải được thấm nhuần trong lòng bởi một tinh thần chiêm niệm. Ngoài ra, Thánh Augustinô nói rằng thực tại của cô Maria cũng là một viễn cảnh thuộc về chúng ta ở trên trời.  Cho nên nơi trần thế, chúng ta không bao giờ sở hữu nó một cách hoàn toàn được, nhưng một chút thưởng thức trước phải hiện diện trong tất cả các hoạt động của chúng ta. Việc chiêm ngắm Thiên Chúa cũng phải hiện diện. Chúng ta không được phép đi lạc trong chủ nghĩa hoạt động thuần túy, nhưng luôn luôn để cho mình được thấm nhuần, ngay cả trong hoạt động của mình, bằng ánh sáng của Lời Chúa, và do đó, học bác ái thật, việc phục vụ người khác thật, là điều không cần quá nhiều thứ - chắc chắn là cần những gì thiết yếu, nhưng trên hết cũng cần cảm tình của trái tim chúng ta, và ánh sáng của Thiên Chúa.
Thánh Ambrôsiô, khi chú giải ​​về câu chuyện của Martha và Maria, đã khuyên nhủ các tín hữu của ngài và cả chúng ta rằng: “Chúng ta cũng hãy tìm cách chiếm hữu được những gì mà không ai có thể lấy đi khỏi chúng ta được, bằng cách chú tâm cách chăm chỉ, không phân tâm, vào Lời Chúa: vì cũng xảy ra việc hạt giống của Lời trên trời bị lấy đi mất nếu chúng bị gieo vãi dọc đường.  Như cô Maria, anh chị em hãy kích động trong mình ước muốn hiểu biết: đó là công việc hoàn hảo nhất, lớn nhất,” và ngài thêm rằng “nguyện xin việc chăm sóc phục vụ không làm anh chị em sao lãng việc hiểu biết những Lời trên trời,” từ cầu nguyện (Expositio Evangelii secundum Lucam, VII, 85: PL 15, 1720).
Như thế, các Thánh đã cảm nghiệm một sự hiệp nhất sâu xa của đời sống giữa việc cầu nguyện và hành động, giữa tình yêu Thiên Chúa hoàn toàn và tình yêu dành cho anh em. Thánh Bernarđô, đấng là mẫu gương của sự hòa hợp giữa chiêm niệm và chuyên cần làm việc, trong sách De consideratione viết cho Đức Giáo Hoàng Innôcentê II để cung cấp cho ngài một số suy tư về sứ vụ của ngài, đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc suy niệm trong lòng và cầu nguyện để bảo vệ mình chống lại sự nguy hiểm của hoạt động quá mức, bất kể tình trạng nào mà chúng ta gặp phải và công việc nào mà chúng ta làm. Thánh Bernarđô quả quyết rằng quá nhiều công việc, một cuộc sống điên cuồng, thường đưa đến kết quả là cứng lòng và làm cho tâm trí bị đau khổ (xem II, 3).
Đó là một lời nhắc nhở quý giá cho chúng ta ngày nay, thường có thói quen đánh giá mọi sự theo chỉ tiêu năng suất và hiệu quả. Đoạn văn từ sách Tông Đồ Công Vụ nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc làm - vì chắc chắn rằng có một tác vụ thật sự được lập ra – về tầm quan trọng của việc tham gia vào các hoạt động hằng ngày được thực hiện với tinh thần trách nhiệm và dấn thân, nhưng cũng nhắc cho chúng ta về việc chúng ta cần Thiên Chúa, cần sự hướng dẫn của Ngài, cần ánh sáng của Ngài, là điều ban cho chúng ta sức mạnh và hy vọng. Nếu chúng ta không trung thành sống lời cầu nguyện hàng ngày, thì hành động của chúng ta trở thành trống rỗng, vô hồn, bị giảm xuống thành chủ trương hoạt động thuần túy, là điều cuối cùng không thỏa mãn được chúng ta.
Có một lời cầu xin rất đẹp của truyền thống Kitô giáo được đọc trước mọi hoạt động, trong đó nói thế này: “Actiones nostras, quæsumus, Domine, aspirando præveni et adiuvando prosequere, ut cuncta nostra oratio et operatio a te semper incipiat, et per te coepta finiatur”, nghĩa là “Cúi xin Chúa sáng soi, cho chúng con được biết việc phải làm, cùng khi làm, xin Chúa giúp đỡ cho mỗi kinh [mỗi lời nói], mỗi việc chúng con, từ khởi sự cho đến hoàn thành, đều nhờ bởi ơn Chúa.”  Mỗi bước đi của cuộc đời chúng ta, mỗi hành động, ngay cả của Hội Thánh, phải được thực hiện trước mặt Thiên Chúa, trong ánh sáng của Lời Ngài.
Trong bài giáo lý Thứ Tư tuần trước tôi đã nhấn mạnh đến lời cầu nguyện đồng tâm của cộng đồng Kitô hữu tiên khởi khi phải đương đầu với thử thách và làm thế sao, chính trong cầu nguyện, trong việc suy niệm Thánh Kinh, họ có thể hiểu được những biến cố mà họ đã trải qua. Khi lời cầu nguyện được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa, chúng ta có thể thấy thực tại bằng cặp mắt mới, cặp mắt đức tin, và Chúa là Đấng nói với trí khôn và tâm hồn, ban ánh sáng mới trên con đường của chúng ta trong mọi lúc và  mọi hoàn cảnh.
Chúng ta tin vào quyền năng của Lời Chúa và cầu nguyện. Ngay cả những khó khăn mà Hội Thánh đang trải qua trong vấn đề phục vụ người nghèo, trong vấn đề bác ái, cũng vượt qua được nhờ cầu nguyện, trong ánh sáng của Thiên Chúa, của Chúa Thánh Thần.
Các Tông Đồ đã không chỉ đơn thuần phê chuẩn việc lựa chọn Thánh Têphanô và những vị khác. nhưng “sau khi đã cầu nguyện, các ngài đã đặt tay trên họ” (Cv 6:06). Thánh sử ghi lại cử chỉ này một lần nữa trong việc tuyển chọn Thánh Phaolô và Barnaba, ở đó chúng ta đọc: “Sau khi ăn chay và cầu nguyện, họ đặt tay trên hai ông và sai hai ông đi” (Cv 13:3). Điều này tái khẳng định rằng việc thực thi bác ái cũng là việc phục vụ tâm linh. Hai thực thể phải đi đôi với nhau.
Với việc đặt tay, các Tông Đồ ban cho bảy vị một tác vụ đặc biệt, để họ nhận được ân sủng tương xứng. Việc nhấn mạnh đến cầu nguyện “sau khi đã cầu nguyện,” là điều quan trọng, bởi vì nó làm nổi bật chiều kích tâm linh của hành động này.  Đây không đơn thuần là việc trao một tác vụ, như trong một tổ chức xã hội, mà là một biến cố thuộc về Hội Thánh, trong đó Chúa Thánh Thần dành riêng cho mình bảy vị được Hội Thánh tuyển chọn bằng cách thánh hiến họ cho Chân Lý là Đức Chúa Giêsu Kitô: Ngài là tác nhân thầm lặng, hiện diện trong việc đặt tay, để những vị được chọn có thể được biến đổi bởi quyền năng của Ngài cùng được thánh hóa để đương đầu với những thách đố thực tiễn, những thách đố của đời sống mục vụ. Hơn nữa, việc nhấn mạnh đến cầu nguyện nhắc nhở chúng ta rằng chỉ trong một sự liên hệ mật thiết với Thiên Chúa được vun trồng mỗi ngày mà việc đáp trả sự lựa chọn của Chúa được phát sinh và mọi thừa tác vụ trong Hội Thánh được trao ban.
Anh chị em thân mến, vấn đề mục vụ đưa các Tông Đồ đến việc chọn lựa và đặt tay trên bảy vị được trao cho nhiệm vụ phục vụ bác ái, để các ngài có thể chăm lo cầu nguyện và rao giảng Lời Chúa, cho chúng ta thấy tính ưu việt của cầu nguyện và Lời Chúa, là điều cũng phát ra những hoạt động mục vụ.  Đối với các mục tử, đây là hình thức phục vụ tiên quyết và quý giá nhất cho đàn chiên được trao phó cho họ.  Nếu cặp phổi cầu nguyện và Lời Chúa không nuôi dưỡng được hơi thở đời sống tâm linh của chúng ta, chúng ta có nguy cơ bị nghẹt thở giữa hàng ngàn điều phải lo lắng mỗi ngày: cầu nguyện là hơi thở của linh hồn và của đời sống.  Và có một lời nhắc nhở quý giá khác mà tôi muốn nhấn mạnh: trong sự liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa, trong việc lắng nghe Lời Ngài, trong cuộc đàm đạo với Thiên Chúa, ngay cả khi chúng ta ở trong sự thinh lặng của một nhà thờ hoặc trong phòng riêng của mình, chúng ta kết hợp trong Chúa với rất nhiều anh chị em khác trong đức tin, như một tổng hợp các nhạc cụ, mặc dù vẫn giữ cá tính riêng của chúng, dâng lên Thiên Chúa một buổi hòa tấu vĩ đại của lời chuyển cầu, tạ ơn và chúc tụng. Cám ơn anh chị em.


Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
http://giaoly.org/vn/

i

 

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)