ĐỨC THÁNH CHA BENEDICT
Thăm Cuba 26-28/3/2012
Đức Thánh Cha khởi sự viếng thăm Cuba
SANTIAGO DE CUBA. ĐTC Biển Đức 16 đã được tiếp đón nồng nhiệt tại Cuba và ngài đã cử hành thánh lễ đầu tiên với sự tham dự của hơn 200 ngàn tín hữu.
Santiago de Cuba
Chiều thứ hai 26-3-2012, ĐTC đã đến phi trường thành phố Santiago de Cuba lúc 2 giờ rưỡi chiều giờ địa phương, trễ gần 30 phút, sau 4 tiếng bay từ thành phố León bên Mêhicô, cách đó 2.650 cây số về hướng đông, để viếng thăm trong vòng 48 tiếng đồng hồ tại Cuba, với hai hoạt động chính, đó là thánh lễ tại giáo phận Santiago có Đền thánh Đức Mẹ và sau đó là thánh lễ tại Quảng trường Cách Mạng ở thủ đô La Habana.
Santiago là thành phố lớn thứ 2 của Cuba với 400 ngàn dân cư và là một cảng thiên nhiên ở bờ biển đông nam của nước này. Được thành lập hồi năm 1514, Santiago đã từng là thủ đô của Cuba trong gần 100 năm trời hồi thế kỷ 16 (1515-1607), và vốn tranh đua với thủ đô La Habana về đời sống văn chương, âm nhạc và chính trị.
Về mặt tôn giáo, Tổng giáo phận Santiago de Cuba hiện có 255 ngàn tín hữu Công Giáo với 16 giáo xứ và 18 giáo họ, nhưng số nhân viên mục vụ thật ít ỏi, chỉ có 26 LM triều và dòng, 17 tu huynh, 36 nữ tu và 2 đại chủng sinh.
Santiago cũng nổi tiếng vì có Đền thánh Đức Mẹ Bác Ái ở Mỏ Đồng, bổn mạng của Cuba và trong lịch sử Thánh Antôn Claret người Tây Ban Nha đã từng làm Giám Mục tại đây.
Đón tiếp
Từ trên máy bay bước xuống phi trường Santiago, ĐTC đã được Chủ tịch Nhà nước Cuba Raul Castro cùng với các GM Cuba và một nhóm tín hữu tiếp đón, trong khi 21 phát đại bác nổ vang để chào mừng vị quốc khách. Hiện diện tại đây cũng có một số quan chức chính phủ và 5 vị niên trưởng miền thuộc ngoại giao đoàn.
Trong lời chào mừng ĐTC, Chủ tịch Raul Castro nói: ”Cuba đón tiếp ngài với lòng yêu mến và quí trọng, và tôi được vinh dự vì sự hiện diện của ngài tại đây”. Ông Castro cũng khẳng định rằng chính phủ Cuba chia sẻ với Giáo Hội Công Giáo nhiều lý tưởng, đặc biệt là hòa bình và sự cần thiết phải có một chế độ kinh tế thấm đượm tinh thần liên đới. Ông cho biết hiến pháp Cuba ”bảo đảm tự do tôn giáo hoàn toàn” cho mọi công dân, và dựa trên căn bản đó, chính phủ Cuba giữ quan hệ tốt với mọi tôn giáo và các tổ chức tôn giáo tại nước này”.
Vẫn theo Chủ tịch Castro, Cuba dấn thân trên mặt trận công lý và liên đới trong khi trên thế giới còn có nhiều chênh lệch lớn lao. Ông không quên lên án chính sách cấm vận của Hoa Kỳ đối với Cuba, một sự cấm vận cả về mặt tài chánh mặc dù đã có những cố gắng đổi mới của chính phủ Cuba. Ông nhắc lại cuộc thánh du toàn quốc gần đây của tượng Đức Mẹ Bác Ái Mỏ Đồng, liên kết mọi người Cuba với nhau, dù là tín hữu hay người không tin. Sau cùng, ông nhấn mạnh quan hệ tốt đẹp hiện nay giữa Giáo Hội và Nhà Nước Cuba.
Về phần ĐTC, trong diễn văn đầu tiên, ngài nhắc đến cuộc viếng thăm lịch sử của Đức Cố Giáo Hoàng, và những khát vọng chính đáng của nhân dân Cuba. Ngài nói:
”Khi đến nơi anh chị em, tôi không thể không nhớ đến cuộc viếng thăm lịch sử của vị Tiền nhiệm của tôi, Chân phước Gioan Phaolô 2. Người đã để lại một vết tích không thể xóa nhòa trong tâm hồn người dân Cuba. Đối với nhiều người, dù là tín hữu hay không, tấm gương và giáo huấn của Người là chỉ nam sáng ngời, hướng dẫn họ trong đời sống bản thân cũng như trong việc công khai phục vụ công ích của đất nước. Thực vậy, hành trình của Người qua đảo này giống như một làn gió tươi mát mang lại sinh lực mới cho Giáo Hội tại Cuba, khơi dậy nơi nhiều người ý thức mới mẻ về tầm quan trọng của đức tin, khích lệ họ cởi mở tâm hồn cho Chúa Kitô, và đồng thời soi sáng hy vọng và kích thích ước muốn can đảm làm việc cho một tương lai tốt đẹp hơn. Một trong những thành quả quan trọng của cuộc viếng thăm ấy chính là sự khai mào một giai đoạn mới trong quan hệ giữa Giáo Hội và Nhà Nước Cuba, với một tinh thần cộng tác rộng lớn và tín nhiệm hơn, mặc dù vẫn còn nhiều khía cạnh có thể và cần phải đẩy xa hơn, đặc biệt là về sự đóng góp không thể loại bỏ được mà tôn giáo được kêu gọi thực hiện trong lãnh vực công cộng của xã hội.”
ĐTC nói thêm rằng: ”Tôi rất vui mừng chia vui với anh chị em về việc mừng 400 năm tìm thấy tượng Đức Mẹ Bác Ái ”Mỏ Đồng”. Ngay từ đầu, Đức Mẹ đã hiện diện sâu rộng trong đời sống bản thân của người dân Cuba, trong các biến cố lớn của đất nước, đặc biệt là trong nền độc lập, được mọi người tôn kính như người Mẹ đích thực của dân tộc Cuba. Lòng sùng kính đối với Đức Mẹ ”Mambisa” đã nâng đỡ đức tin và khuyến khích bảo vệ cũng như thăng tiến những gì làm cho thân phận con người được xứng đáng hơn và các quyền căn bản của con người, và còn mạnh mẽ tiếp tục ngày nay, chứng tỏ một cách cụ thể về sự rao giảng Tin Mừng một cách phong phú tại lãnh thổ này, cũng như những căn cội Kitô sâu xa, tạo nên căn tính sâu đậm hơn của tâm hồn người Cuba. Theo vết bao nhiêu tín hữu hành hương qua dòng lịch sử, tôi cũng muốn đến Mỏ Đồng để phủ phục dưới chân Mẹ Thiên Chúa, để cảm tạ Mẹ vì Mẹ đã can thiệp bênh đỡ mọi người con Cuba của Mẹ và xin Mẹ chuyển cầu, hướng dẫn hành trình của đất nước yêu quí này trên con đường công lý, hòa bình, tự do và hòa giải.”
Tiếp tục bài giảng thánh lễ tại Santiago de Cuba, ĐTC nói:
”Tôi đến Cuba như người lữ hành của Đức Mẹ Bác Ái, để củng cố các anh chị em tôi trong đức tin và khích lệ họ trong niềm hy vọng, nảy sinh từ sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta. Tôi mang trong tâm hồn tôi những khát vọng chính đáng và những ước muốn hợp pháp của mọi người dân Cuba, bất kỳ họ ở đâu, những đau khổ và vui mừng của họ, những lo âu và mong ước cao thượng nhất, đặc biệt là của những người trẻ và người già, thiếu niên và trẻ em, người đau yếu, các công nhân, tù nhân và gia đình họ, cũng như những người nghèo túng.
”Ngày nay, nhiều nơi trên thế giới đang trải qua thời kỳ khó khăn đặc biệt về kinh tế, và nhiều người đồng ý đặt những khó khăn ấy trong một cuộc khủng hoảng sâu xa về tinh thần và luân lý, khiến cho con người chẳng còn giá trị và vô phương tự vệ đứng trước tham vọng và sự ích kỷ của một số quyền lực không quan tâm đến thiện ích đích thực của con người và của các gia đình. Chúng ta không thể tiếp tục hành trình trong chiều hướng văn hóa và luân lý đã gây ra tình trạng đau thương mà bao nhiêu người đang phải chịu. Trái lại, tiến bộ đích thực đòi phải có một nền luân lý đạo đức đặt con người ở trung tâm và để ý đến những đòi hỏi chân chính nhất của con người, đặc biệt là chiều kích tinh thần và tôn giáo. Vì thế, trong tâm trí của nhiều người, càng ngày họ càng chắc chắn rằng sự hồi sinh xã hội và thế giới đòi phải có những người ngay thẳng và có những xác tín luân lý vững chắc và những giá trị cao cả cơ bản, không bị những lợi lộc hạn hẹp lèo lái, và đáp ứng bản chất bất biến và siêu việt của con người”.
Và ĐTC kết luận rằng: ”Các bạn thân mến, tôi xác tín, trong thời điểm rất quan trọng hiện nay của lịch sử, Cuba đang nhìn về tương lai, và vì thế đang nỗ lực đổi mới và mở rộng chân trời của mình, đang nghĩ đến những gì sẽ góp phần với gia sản vô biên các giá trị tinh thần và luân lý đã hình thành căn tính chân thực nhất của mình, và đang được những ảnh hưởng trong hoạt động và trong cuộc sống nhờ các vị lập quốc nổi bật như chân phước José Olallo y Valdés và vị tôi tớ Chúa LM Felix Varela hoặc José Martí. Về phần mình, Giáo Hội biết đóng góp với quyết tâm thăng tiến các giá trị nhờ sứ mạng mục vụ quảng đại và không biết mệt mọi của mình và tái quyết tâm tiếp tục làm việc không ngừng để phục vụ tất cả mọi người dân Cuba một cách tốt đẹp hơn nữa”.
Sau bài diễn văn của ĐTC, đã có nghi thức giới thiệu hai phái đoàn Tòa Thánh và chính phủ Cuba, cũng như 5 vị niên trưởng miền của ngoại giao đoàn. Ngài cũng hội kiến riêng với Chủ tịch Raul Castro trong phòng khánh tiết của phi trường, trước khi về tòa TGM Santiago de Cuba cách đó 10 cây số.
Tuy đoàn xe chạy nhanh, và ĐTC không dùng xe kiếng, nhưng dọc đường cũng có hàng ngàn người, phần lớn là thiếu niên và trẻ em đứng hai bên, vui mừng, vỗ tay, vẫy cờ Cuba và Vatican để chào đón khi ngài đi qua.
Thánh lễ kính Đức Mẹ
Lúc 5 giờ chiều cùng ngày 26-3-2012, ĐTC đã dùng xe kiếng đi từ tòa TGM Santiago đến Quảng trường Antonio Maceo cách đó 4 cây số để chủ sự thánh lễ đầu tiên trên đất Cuba. Maceo là vị tướng lãnh, anh hùng cách mạng kháng chiến (1845-1896), đã tham gia hai cuộc chiến dành độc lập. Về sau ông bị lưu đày và chết ở chiến trường ở miền tây Cuba.
Hàng ngàn người đã đứng hai bên đường dẫn tới Quảng trường. Tại đây, hơn 200 ngàn tín hữu đã có mặt, hân hoan chào đón ĐTC khi ngài tiến qua các lối đi ở khu vực hành lễ. Hàng chục ngàn bạn trẻ mặc áo T-Shirt màu trắng có in câu chào mừng ĐTC như ”người lữ hành của Đức Mẹ Bác Ái”. Trước khi ĐTC đến đây, tượng Đức Mẹ Bác Ái cao bằng gỗ cao 60 centimet đã được rước từ Đền thánh đến đây trên một chiếc xe màu trắng, giữa tiếng reo vui của mọi người.
Chủ tịch Raul Castro và một số quan chức chính quyền, cũng hiện diện trong hàng ghế đầu trước lễ đài, trên đó có đặt tượng Đức Mẹ Bác Ái cạnh bàn thờ. Đồng tế với ĐTC có tất cả 17 GM Cuba, cùng với hàng chục GM khách, nhất là các vị đến từ vùng Caraibí, đặc biệt là 5 HY đến từ các nước: Mỹ, Chile, Santo Domingo và Barcelona. Ngoài ra có 350 tín hữu Cuba đến từ Miami.
Thánh lễ được cử hành là lễ Truyền Tin. Trong bài giảng, ĐTC chào thăm chính quyền, mọi người hiện diện, và cả những người không thể tham dự vì lý do sức khỏe hoặc lý do khác. Ngài diễn giải về ý nghĩa việc truyền tin của Chúa cho Đức Trinh Nữ Maria và mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa:
”Trước tiên chúng ta hãy xem Nhập thể có nghĩa là gì. Trong Tin Mừng theo thánh Luca, chúng ta đã nghe lời sứ thần nói với Mẹ Maria: ”Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và sức mạnh của Đấng Tối Cao sẽ bao phủ Bà; vì thế Đấng Thánh sẽ sinh ra được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,,35). Nơi Mẹ Maria, Con Thiên Chúa nhập thể làm người, ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia: 'Này đây, trinh nữ sẽ thụ thai và sinh một con trái, được đặt tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta (Is 7,14). Đúng vậy, Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, đã đi vào lịch sử chúng ta, đã định cư giữa chúng ta, và qua đó Ngài đáp ứng khát vọng sâu xa của con người theo đó thế giới thực sự trở thành một căn nhà cho con người. Trái lại, khi Thiên Chúa bị gạt ra ngoài, thì thế giới biến thành một nơi không còn thuận tiện cho con người, đồng thời làm biến thái ơn gọi đích thực của thiên nhiên là trở thành không gian cho giao ước, cho sự đáp lại tình thương giữa Thiên Chúa và nhân loại trả lời Ngài. Như Mẹ Maria là hoa quả đầu mùa của các tín hữu đã làm, qua lời thưa xin vâng không chút dè dặt đối với Chúa...
ĐTC nhận xét rằng ”Đức Trinh Nữ Maria, do vai trò không thể thay thế được của Mẹ trong Mầu Nhiệm Chúa Kitô, chính là hình ảnh và là mẫu gương của Giáo Hội, Giáo Hội được mời gọi đón nhận Mẹ nơi Mầu Nhiệm Thiên Chúa, Đấng đến ở trong Giáo Hội. Anh chị em thân mến, tôi biết anh chị em đã làm việc với bao nhiêu cố gắng, táo bạo và hy sinh từ bỏ mỗi ngày để, trong những hoàn cảnh cụ thể của đất nước anh chị em, và trong thời điểm lịch sử hiện nay, Giáo Hội ngày càng phản ánh tôn ngan đích thực của Chúa, như một nơi trong đó Thiên Chúa đến gần và gặp gỡ con người. Giáo Hội, thân mình sống động của Chúa Kitô, có sứ mạng kéo dài trên mặt đất sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa, mở thế giới hướng về một cái gì cao cả hơn chính mình, cởi mở đối với tình yêu và ánh sáng của Thiên Chúa.
”Anh chị em thân mến, dành trọn cuộc sống cho Chúa Kitô, thật là điều bõ công, tăng trưởng hằng ngày trong tình bản với Chúa, và cảm thấy được kêu gọi loan báo vẻ đẹp và sự tốt lành của chính cuộc sống cho mọi người anh chị em chúng ta. Tôi khuyến khích anh chị em trong công tác gieo vãi Lời Chúa trong thế giới và cống hiến cho tất cả mọi người lương thực chân chính là mình Chúa Kitô. Lễ Phục Sinh đến gần, chúng ta hãy theo Chúa Giêsu, không chút sợ hãi hoặc mặc cảm, trên con đường tiến về thập giá. Chúng ta hãy kiên nhẫn đón nhận trong đức tin bất kỳ điều gì trái ý hoặc sầu muộn, với xác tín rằng, trong sự phục sinh, Chúa đã đánh bại quyền lực sự ác làm lu mờ mọi sự và làm nảy sinh một thế giới mới, thế giới của Thiên Chúa, của ánh sáng, chân lý và vui tươi. Thiên Chúa sẽ không ngừng chúc lành cho sự dấn thân quảng đại của chúng ta với những thành quả dồi dào”.
”Mầu nhiệm Nhập Thể tỏ cho chúng ta thấy phẩm giá vô song của mỗi người. Thiên Chúa đã ủy thác cho gia đình dựa trên hôn nhân sứ mạng rát cao cả là tế bào cơ bản của xã hội và là Giáo Hội tại gia đích thực.
Và ĐTC ngỏ lời với các đôi vợ chồng: ”Đối với con cái mình, Anh chị em phải trở thành dấu chỉ thực sự và hữu hình của tình yêu Chúa Kitô đối với Giáo Hội. Cuba đang cần chứng tá về lòng chung thủy, hiệp nhất, của anh chị em, khả năng đón nhận sự sống con người, nhất là sự sống yếu đuối và đang cần được giúp đỡ hơn cả.”
Theo trung tâm nghiên cứu dân số của Đại học La Habana, tỷ lệ ly dị tại Cuba đã tăng gấp 3 lần trong trong 4 thập niên: năm 1970 cứ 100 hôn phối thì có 22 vụ ly dị, năm 2009, con số này tăng lên 64 vụ ly dị cứ 100 hôn phối. Cuối năm nay, quốc hội Cuba dự kiến sẽ nhìn nhận hôn nhân đồng phái, theo một chiến dịch do bà Mariela Castro, con gái của Chủ tịch Raul Castro, phát động.
Trong phần kết luận bài giảng, ĐTC kêu gọi người Công Giáo Cuba hãy mang lại một sinh lực mới cho đức tin của mình, sống bằng Chúa Kitô và cho Chúa Kitô, và với võ khí hòa bình, sống bằng tha thứ, cảm thông, dấn thân xây dựng một xã hội cởi mở và đổi mới, một xã hội tốt đẹp hơn, xứng với con ngừơi con, phản ánh lòng từ nhân của Chúa hơn”.
Cuối thánh lễ, ĐTC đã dâng tặng tượng Đức Mẹ Bác Ái một đóa hoa hồng vàng. Ngài vẫn làm như vậy khi kính viếng các Đền thánh Đức Mẹ như tại Lộ Đức, Fatima, Loreto và Pompei.
Bấy giờ là 8 giờ tối. ĐTC về Đại chủng viện thánh Basilio Cả, gần Đền Thánh Đức Mẹ Bác Ái để dùng bữa tối và qua đêm tại đây. Đại chủng viện này có từ 290 năm nay và thuộc vào số những dinh thự cổ kính nhất tại đảo Cuba. Sau khi cộng sản lên nắm chính quyền tại nước này, Đại chủng viện bị quốc hữu hóa năm 1961 và biến thành một trường công lập. Mãi 36 năm sau, chủng viện này mới được phục hồi, và được tháp nhập với Đại học Giáo Hoàng Mater et Magistra ở Cộng hòa Dominicana, để có thể cấp các văn bằng của Giáo Hội.
Kính viếng Đền Thánh Đức Mẹ
Thứ ba 27-3-2012, lúc 8 giờ sáng, ĐTC đã cử hành thánh lễ riêng tại Nhà nguyện đại chủng viện, rồi đến Đền thánh Đức Mẹ Bác Ái chỉ cách đó 300 mét để kính viếng. Hàng trăm tín hữu đã chờ sẵn bên ngoài cùng với ca đoàn để chào đón ĐTC.
Đền thánh Đức Mẹ Bác Ái như hiện thời, đã được thánh hiến ngày 8-9 năm 1927. Và tượng Đức Mẹ tại đây được Đức Cha Valentín Zubizarreta, TGM giáo phận Santiago de Cuba sở tại, đội triều thiên ngày 20 tháng 12 năm 1936.
Ngày 30 tháng 12 năm 1977, Đức Giáo Hoàng Phaolô 6 đã cử ĐHY Bernardin Gantin người Benin, Tổng trưởng Bộ Giám Mục, làm Đặc Sứ của ngài đến viếng Đền thánh Đức Mẹ Bác Ái ở Santiago và mang theo một sắc chỉ nâng Đền thánh quốc gia Cuba lên hàng tiểu Vương cung Thánh đường.
Ngày nay, Vương cung thánh đường Đền thánh quốc gia Đức Mẹ Bác Ái Mỏ Đồng là một nhà thờ có hình thánh giá latinh, với 3 gian, mặt tiền cân đối và có một mái vòm. Cả hai gian bên hông cũng có mái vòm, nhưng nhỏ hơn, và tại đây có các quả chuông. Đền thánh có 8 cửa và một tiền đường phía trước dài 240 mét và rộng 15 mét. Có nhiều bậc thang dẫn lên tiền đường này. Bàn thờ chính của thánh đường được làm bằng nhiều loại cẩm thạch và phía trên bàn thờ có giữ tượng Đức Mẹ.
Dưới bàn thờ Đức Mẹ trong Đền Thánh, có một nhà nguyện phép lạ, là nơi giữ các đồ dâng cúng Đức Mẹ và nhiều vật dụng khác do các tín hữu mang đến để tạ ơn Đức Mẹ.
Khi đến trước Đền thánh Đức Mẹ vào lúc 9 giờ rưỡi sáng, ĐTC đã được Đức TGM sở tại, Dionisio García Ibanez, cùng với cha Quản đốc tiếp đón, và hướng dẫn vào bên trong thánh đường. Tại đây đã có mặt các GM Cuba và một số tín hữu, cùng với một ca đoàn xướng bài Ave Maria.
Sau khi kính viếng Mình Thánh Chúa, ĐTC đã tiến đến trước Tượng Đức Mẹ cạnh bàn thờ chính, quì cầu nguyện và thắp lên ngọn nến, trước khi đọc kinh kính Đức Mẹ Bác Ái như mỗi tín hữu hành hương vẫn đọc trong Năm Thánh Mẫu để được hưởng ơn toàn xá.
Cuộc kính viếng của ĐTC kết thúc với bài thánh ca kính Đức Mẹ Bác Ái. Khi ra khỏi thánh đường, ngài còn chào thăm và khích lệ đông đảo các tín hữu tụ tập tại quảng trường nhỏ trước Đền Thánh. Ngài nói:
”Xin anh chị em hãy nhận lấy lòng quí mến của tôi và mang đi mọi nơi để mọi người khác cũng được cảm nghiệm về niềm an ủi và sức mạnh của đức tin. Xin anh chị em hãy nói cho mọi người gần xa mà anh chị em gặp, để họ biết rằng tôi đã phó thác cho Mẹ Thiên Chúa tương lai tổ quốc của anh chị em, đang tiến bước trên con đường đổi mới và hy vọng, để mưu ích lớn hơn cho mọi người dân Cuba. Tôi cũng đã cầu xin Đức Mẹ chí thánh cho những nhu cầu của những người đau khổ, nhưng người bị thiếu tự do, bị chia cách những người thân yêu, hoặc đang gặp những khó khăn trầm trọng. Tôi cũng đã đặt trong tâm hồn Đức Mẹ Vô Nhiễm những người trẻ, để họ trở thành những người bạn chân thực của Chúa Kitô và đừng chiều theo những đề nghị chỉ để lại buồn sầu. Trước Đức Mẹ Bác Ái, tôi cũng đã đặc biệt nhớ đến những người Cuba con cháu của những người đã đến đây từ Phi châu, cũng như dân chúng tại Haiti gần đây, ngày nay vẫn còn phải chịu hậu quả của cuộc động đất cách đây hai năm. Tôi khôgn quên bao nhiêu nông dân và gia đình họ, đang mong ước sống Tin Mừng một cách nồng nhiệt trong gia đình họ, và đang dâng nhà của họ như trung tâm của giáo họ để cử hành thánh lễ”.
Tiếp đến, ĐTC đã ra phi trường thành phố Santiago de Cuba lúc quá 10 giờ 15 để đáp máy bay về thủ đô La Habana, cách đó 760 cây số và cũng là chặng chót trong chuyến viếng thăm mục vụ thứ 23 của ngài tại hải ngoại. Đến nơi vào lúc giữa trưa, ngài về tòa Sứ Thần Tòa Thánh để dùng bữa và nghỉ ngơi. Đến 5 giờ rưỡi chiều, ĐTC đến thăm xã giao Chủ tịch Hội đồng Nhà Nước Cuba Raul Castro, cùng với các vị Bộ trưởng tại Dinh Cách Mạng. Ban tối ngài gặp và dùng bữa với các GM Cuba tại tòa Sứ Thần.
G. Trần Đức Anh OP
Ngày thứ hai Đức Thánh Cha viếng thăm Cuba
Đức Thánh Cha đến La Habana và chủ sự thánh lễ tai quảng trường Cách Mạng thủ đô (Cuba 2)
Thứ tư 28-3-2012 là ngày cuối cùng trong chuyến Đức Thánh Cha Biển Đức XVI viếng thăm Cuba hai ngày. Đức Thánh Cha đã chỉ có một sinh hoạt duy nhất là chủ sự thánh lễ tại quảng trường Cách Mạng trong thủ đô La Habana, trước khi từ giã Cuba vào ban chiều để về Roma.
Nhưng trước hết, xin kính mời qúy vị và các bạn cùng chúng tôi theo dõi các sinh hoạt của Đức Thánh Cha chiều thứ ba 27-3-2012. Sau khi kính viếng đền thánh Đức Bà Bác Ái Mỏ Đồng ở Santiago de Cuba, Đức Thánh Cha đã đi xe ra phi trường quốc tế cách đó 32 cây số để lấy máy bay đi thủ đô La Habana. Máy bay đã cất cánh lúc 10 giờ rưỡi sáng và tới phi trường quốc tế José Martí của thủ đô La Habana sau một giờ rưỡi bay. Đức Thánh Cha đã được Đức Hồng Y Ortega y Alamino tiếp đón tận chân thang máy bay, và Đức Hồng Y giới thiệu với Đức Thánh Cha các giới chức chính quyền địa phương. Hiện diện tại phi trường có mấy trăm trẻ em và các ca đoàn hát chào mừng Đức Thánh Cha.
Thành phố La Habana do ông Diego Velazquez thành lập năm 1514. Với biến cố người Tậy Ban Nha chinh phục Mêhicô và Perù, La Habana trở thành hải cảng quan trọng nhất Mỹ châu, vì có các tầu hàng chở bạc về Tây Ban Nha. Năm 1555 thành phố bị người Pháp đảo Corse cướp phá, và năm 1762 bị người Anh chiếm đóng 11 tháng. Sau đó thành phố được củng cố đứng hàng đầu bên Tân Thế Giới. Từ năm 1607 La Habana là thủ đô của Cuba; và với gần 4 triệu dân cư, hiện nay nó là thành phố lớn nhất vùng quần đảo Caraibi. La Habana cũng là trung tâm của ngành kỹ nghệ luyện kim, làm thuốc xì gà, lọc dầu hỏa vv... và có các tầu đánh cá lớn. Thành phố bị ô nhiễm trầm trọng, không có hệ thống thiêu hủy rác, thiếu nước trong lành, và phân nửa nhà cửa rơi vào tình trạng rất tồi tệ, khiến hằng năm có 300 dinh thự bị sập.
Khu phố nổi tiếng nhất là khu phố cổ có các nhà xây thời thuộc địa, và từ năm 1982 nó được tổ chức UNESCO của Liên Hiệp Quốc cho vào danh sách gia tài của nhân loại. Tại đây có các lâu đài El Moro và La Cabanha, các dinh thự kỷ niệm Cách Mạng, bao gồm cả viện bảo tàng và đài tưởng niệm José Martí, cũng như các hàng quán và nơi sinh hoạt đêm với nhạc phi châu cuba thuộc thập niêm 1950, Tòa thị chính và viện bảo tàng Ernest Hemingway, nơi nhà văn Mỹ đã sống và sáng tác tiểu thuyết trong 20 năm.
Trong số các nhà thờ nổi tiếng trong thủ đô La Habana có nhà thờ Đức Bà Mân Côi xây năm 1720; nhà nguyện Templete xây năm 1828; nhà thờ và tu viện thánh Phanxicô thành Assisi xây năm 1608, hiện biến thành phòng hòa nhạc và viện bảo tàng; nhà thờ và tu viện thánh nữ Clara, nhưng từ năm 1920 không còn là tu viện nữa; nhà thờ giáo xứ Chúa Thánh Thần xây năm 1640: đây là nhà thở cổ xưa nhất trong thủ đô; nhà thờ và tu viện Đức Bà Mercede xây năm 1755; và nhà thờ thánh Thiên Thần Bản Mệnh.
Tổng giáo phận San Cristobal La Habana được thành lập năm 1787, rộng hơn 7.500 cây số vuông, có gần 4 triệu dân trong đó có hơn 2 triệu 800 ngàn tín hữu công giáo, bao gồm 107 giáo xứ với 44 linh mục triều và 101 linh mục dòng, 135 tu huynh, 265 nữ tu, 15 đại chủng sinh và 24 Phó tế vinh viễn. Giáo Hội điều khiển 2 học viện giáo dục và 6 cơ sở bác ái xã hội.
Từ phi trường quốc tế La Habana Đức Thánh Cha đã đi xe về Tòa Sứ Thần Tòa Thánh, cách đó 18 cây để dùng bữa trưa và nghỉ ngơi chốc lát trước khi đến viếng thăm xã giao Chủ tịch Raul Castro tại Dinh Cách Mạng. Ban đầu dinh thự này là trụ sở của Tòa Án Tối Cao và Tổng Biện Lý. Từ năm 1965 nó là trụ sở của Hội đồng nhà nước, với văn phòng của Chủ tịch Nước, Hội đồng Bộ trưởng và Ủy ban trung ương đảng Cộng Sản Cuba. Ngoài ra còn có một rạp hát, một phòng chiếu phim và một nhà thương.
Xe chở Đức Thánh Cha đã đến Dinh Cách Mạng lúc 17 giờ rưỡi chiều thứ ba. Chủ tịch Raul Castro đã ra tiếp đón Đức Thánh Cha và cùng ngài lên lầu một, nơi có phòng tiếp tân. Chủ tịch Raul Modesto Castro Ruz sinh năm 1931. Hồi còn trẻ ông đã tham gia nhiều cuộc biểu tình phản đối tổng thống Fulgenzio Batista. Năm 1953 ông đã cùng anh là Fidel Castro tổ chức một vụ tấn công vũ trang trại lính Moncada ở Santiago di Cuba. Có nhiều người chết và hai anh em bị bắt và bị kết án tù. Sau khi được ân xá, ông Raul đã tham gia cuộc chiến đấu giải phóng Cuba do bào huynh Fidel Castro lãnh đạo năm 1956. Cách mạng chiến thắng khiến cho tổng thống Batista phải bỏ trốn và ông Fidel Castro lên nắm quyền cai trị Cuba. Ông Raul đã từng là bộ trưởng các Lực lượng vũ trang cách mạng, phó bí thư Ủy ban trung ương đảng cộng sản Cuba, phó chủ tịch Hội đồng Nhà Nước, và từ năm 2006 từ từ thay thế ông Fidel Castro, rồi lên làm Chủ tịch năm 2008.
Sau khi hai bên đã giới thiệu các nhân vật của hai phái đoàn, Đức Thánh Cha và Chủ tich Castro đã hội kiến riêng trong vòng 45 phút. Trong cuộc họp báo sau đó Cha Lombardi Giám đốc phòng báo chí Tòa Thánh cho biết cuộc hội kiến đã diển ra trong bầu khí rất thanh thản và thân tình. Tuy không ai biết chi tiết nội dung cuộc nói chuyện nhưng cha Lombardi nói hai bên đã đề cập tới điều kiện sống hiện nay của nhân dân Cuba và tình hình trong nước. Đức Thánh Cha đã bầy tỏ ước mong Giáo Hội có thể tham gia vào cuộc sống xã hội một cách tích cực hơn, cũng như diễn tả lòng tin một cách tràn đầy hơn. Đức Thánh Cha cũng yêu cầu Chủ tịch Raul Castro tuyên bố Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày lễ nghỉ trên toàn quốc, vì nó là ngày nền tảng trong truyền thống tôn giáo của người dân Cuba, y như cách đây 14 năm Đức Gioan Phaolô II đã xin Chủ tich Fidel Castro tuyên bố Lề Giáng Sinh là lễ nghỉ toàn quốc và đã được chấp thuận ngay trong năm đó.
Theo sau cuộc đàm đạo lâu với Chủ tịch Raul Castro, Đức Thánh Cha gặp gia đình ông, chụp hình lưu niệm, rồi hai bên trao đổi qùa tặng.
Trong khi Đức Thánh Cha đàm đạo với Chủ tịch Nước, Đức Hồng Y Bertone Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh cũng gặp gỡ Phó chủ tịch Hội đồng Nhà Nước và Hội đồng bộ trưởng cùng với các cộng sự viên.
Sau cuộc gặp gỡ Đức Thánh Cha đã cùng Chủ tịch Raul Castro ra chào đại điện giới truyền thông ở bên ngoài Dinh, rồi Đức Thánh Cha lên xe về Tòa Sứ Thần Tòa Thánh cách đó 4 cây số đễ dùng bữa tối và qua đêm tại đây.
Trong cuộc họp báo ban chiều cha Lombardi giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh cũng tiết lộ một chi tiết liên quan tới thánh lễ riêng Đức Thánh Cha dâng trong nhà nguyện chủng viện Santiago sáng thứ ba. Tham dự thánh lễ có khoảng 10 nữ tu Thứa Sai Bác ái của Mẹ Terexa Calcutta, trong đó có nữ tu Teresa Kerketta người Ấn Độ. Như thói quen của các nữ tu Thừa Sai Bác Ái khi khấn trọng các chị chọn một linh mục để hằng ngày cầu nguyện cách riếng cho vị ấy. Cách đây 20 năm, khi vĩnh khấn chị Kerketta cũng đã chọn cầu nguyện cho một linh mục; vị linh mục đó là Đức Hồng Y Ratzinger. Sau thánh lễ Đức Tổng Giám Mục Santiago đã giới thiệu chị với Đức Thánh Cha và chị đã choàng một vòng hoa lên cổ ngài để tỏ lòng qúy mến. Đức Thánh Cha đã rất cảm động gặp người mỗi ngày đã liên lỉ cầu nguyện cho ngài trong suốt 20 năm qua. Ngoài ra có một ca đoàn gồm 20 thiếu nhi đã hát mừng Đức Thánh Cha và chụp hình lưu niệm với ngài khi Đức Thánh Cha rời chủng viện.
Lúc sau 8 giờ sáng thứ tư 28-3-2012, Đức Thánh Cha đã đi xe bọc kính rời Tòa Sứ Thần đến quảng trường Cách Mạng La Habana, cách đó 4 cây số để chủ sự thánh lễ cho tín hữu.
Quảng trường Cách Mạng mang tên José Martín là nơi biểu tượng của Cuba, rất rộng có thể chứa tới 600.000 người, và là nơi đã diễn ra biết bao nhiêu cuộc tụ họp của người dân thủ đô. Ông José Martín sinh năm 1853 là một nhà báo kiêm thi sĩ, và là người hoạt động chống lại sự chiếm đóng Cuba của Tây Ban Nha.
Ông bị bắt, ban đầu bị đầy bên Tây Ban Nha rồi bên Mêhicô. Ông đã sống tại Mỹ châu Latinh, Paris và New York trước khi trở về Cuba, và bị giết trong cuộc giao tranh với người Tây Ban Nha năm 1895. Khi còn sống, ông đã rất nổi tiếng vì các bài khảo luận chính trị, và ngày nay ông được coi là một trong các người khởi đầu trường phái thi ca tân tiến của Mỹ châu Latinh.
Ông Antonio Tejero, đặc trách giới trẻ của tổng giáo phận La Habana, cho biết tối thứ ba hàng chục ngàn người trẻ đã tham dự buổi canh thức cầu nguyện suốt đêm trong nhà thờ chính tòa, rồi từ sáng sớm đã rước ảnh Đức Mẹ Bác Ái Mỏ Đồng đi ngang qua các giáo xứ, cùng nhập đoàn với giáo dân đi bộ tiến về quảng trường Cách Mạng để tham dự thánh lễ do Đức Thánh Cha chủ sự.
Xe bọc kính đã chở Đức Thánh Cha đi một vòng quảng trường để ngài chào biển tín hữu đông đặc khắp nơi khoảng gần 1 triệu người.
Thánh lễ đã bắt đầu lúc 9 giờ sáng. Cùng đồng tế thánh lễ với Đức Thánh Cha có các Hồng Y và Giám Mục Cuba, đoàn tùy tùng, các Hồng Y Giám Mục khách, và hàng trăm linh mục. Bàn thờ dựng trên khán đài cao có bao lơn mầu xanh. Tượng Đức Mẹ Bác Ái Mỏ Đồng mặc áo thêu mầu trắng được đặt phía bên trái bàn thờ. Phần thánh ca do một ban nhạc và mấy trăm ca viên mặc đồng phục mầu tím đảm trách.
Giảng trong thánh lễ Đức Thánh Cha đã quảng diễn ý nghĩa các bài đọc. Ngài nêu bật lòng can đảm của ba thiếu niên trong sách Đaniel, thà chết chứ không phản bội đức tin và bất trung với Thiên Chúa, cũng như lời Chúa Giêsu mời gọi sống trong chân lý để được thực sự tư do. Đức Thánh Cha nói:
Trong bài đọc thứ nhất vừa nghe ba người trẻ bị vua Babilonia bách hại thích đương đầu với cái chết bị thiêu đốt bởi lửa hơn là phản bội lương tâm và đức tin của họ. Họ tìm ra sức mạnh để ”ca ngợi, vinh danh và chúc tụng Thiên Chúa” với xác tín rằng Chúa của vũ trụ và lịch sử không bỏ rơi họ cho cái chết và cho hư không. Thật thế, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con cái Người, và không bao giờ quến họ. Người ở bên trên chúng ta, và có khả năng cứu thoát chúng ta với quyền năng của Người. Đồng thời Thiên Chúa cũng gần gũi dân Người và qua Con của Người là Đức Giêsu Kitô Người muốn ở giữa chúng ta.
Trong Phúc Âm Đức Giêsu tự mạc khải như là Con Thiên Chúa Cha, Đấng Cứu Thế, Người duy nhất có thể chỉ cho thấy chân lý và trao ban sự thật đích thực. Giáo huấn của Người khơi dậy sự kháng cự và lo âu giữa những người nói chuyện với Người. Người tố cáo họ muốn tìm cái chết của Người, nhưng khuyến khích họ tin và ở lại trong Lời Người để hiểu biết sự thật.
Thật thế, sự thật là một khát vọng của con người và việc tìm kiếm nó luôn luôn giả thiết việc tập tành tự do đích thực. Nhưng nhiều người thích các lối tắt để tránh nhiệm vụ ấy. Một vài người như quan Philatô, cười nhạo khả năng hiểu biết sự thật (x. Ga 18,38) bằng cách tuyên bố con người không có khả năng đạt tới nó, hay từ chối rằng có một sự thật cho tất cả mọi người. Thái độ này cũng như trường hợp của khuynh hướng hoài nghi và chu trương tương đối thay đổi con tim của họ, khiến cho họ trở thành lạnh nhạt, lảo đảo, xa cách các người khác và khép kín co cụm trong chính mình.
Tiếp tục bài giảng Đức Thánh Cha nói: đàng khác cũng có những người giải thích sai việc tìm kiếm chân lý, dẫn đưa họ tới chỗ vô lý và cuồng tín, vì thế họ khép kín trong ”sự thật của họ” và tìm áp đặt nó trên người khác. Họ như những người vụ luật lệ, mù quáng khi thấy Đức Giêsu bị đánh đập chảy máu, thì diên loan kêu lên: ”Đóng đinh nó vào thập giá!” (x. Ga 19,6). Thật ra, ai hành động một cách vô lý, thì không thể là môn đệ Đức Giêsu. Đức tin và lý trí cần thiết và bổ túc cho nhau trong việc kiếm tìm chân lý. Thiên Chúa đã dựng nên con người với một ơn gọi bẩm sinh tin vào chân lý và vì thế Người ban cho nó lý trí. Mọi người đều phải dò xét sự thật và lựa chọn nó khi tìm ra nó, cả khi có phải đương đầu với các hy sinh đi nữa. Đức Thánh Cha nói thêm về sự thật như sau:
Ngoài ra, sự thật về con người là một giả thiết không thể tránh né được để đạt đến sự tự do, bởi vì trong nó chúng ta khám phá ra các nền tảng của một luân lý đạo đức, mà tất mọi người đều có thể đối chiếu, và nó chứa đựng các công thức rõ ràng, chính xác liên quan tới sự sống và cái chết, các nhiệm vụ và các bổn phận, hôn nhân, gia đình, và xã hội, nói cho cùng liên quan tới phẩm giá bất khả xâm phạm của con người. Gia tài luân lý đạo đức ấy là điều có thể làm xích lai gần nhau mọi nền văn hóa, các dân tộc và các tôn giáo, các chính quyền và các công dân, các công dân với nhau và các người tin nơi Chúa Kitô và những kẻ không tin nơi Người.
Khi nêu cao các gía trị nâng đỡ luân lý đạo đức, Kitô giáo không áp đặt, nhưng đề nghị lời Chúa Kitô mời gọi hiểu biết sự thật, khiến cho con người được tự do. Tín hữu được mời gọi cống hiến kho tàng đó cho các người đồng thời như Chúa đã làm, cả khi có cảm thấy trước sự khước từ và Thập Giá đi nữa.
Đức Thánh Cha nói thêm trong bài giảng: Anh chị em thân mến, đừng ngần ngại theo Chúa Giêsu Kitô. Nơi Người chúng ta tìm ra sự thật về Thiên Chúa và về con người. Người giúp chúng ta đánh bại các ích kỷ của chúng ta, ra khỏi các tham vọng và chiến thắng điều áp bức chúng ta. Ai làm điều ác, ai phạm tội, thì làm nô lệ của tội lỗi, và sẽ không bao giờ đạt sự tự do (x. Ga 8,34). Chỉ khi khước từ thú hận và con tim chai đứng mù lòa của mình, chúng ta mới tự do, và một cuộc sống mới sẽ nảy mầm trong chúng ta.
Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Nơi Người chúng ta tìm thấy sự tự do tràn đầy và ánh sáng giúp hiểu thực tại một cách sâu xa và biến đổi nó với sức mạnh canh tân của tình yêu thương. Giáo Hội sống để làm cho người khác tham dự vào điều duy nhất Giáo Hội có: đó là Chúa Kitô, niềm hy vọng vinh quang (x. Cl 1,27). Để có thể chu toàn nhiệm vụ ấy, Giáo Hôi phải dựa trên sự tự do tôn giáo nòng cốt, bao gồm việc có thể loan báo và cử hành công khai đức tin, chuyển tiếp cho người khác sứ điệp tình yêu hòa giải và hòa bình, mà Chúa Giêsu đem đếm cho thế giới. Đức Thánh Cha nhận định về tình hình tại Cuba hiên nay như sau:
Cần thừa nhận với niềm vui rằng tại Cuba đã có nhiều bước tiến được làm, để Giáo Hội chu toàn sứ mệnh không thể tránh né được của mình là công khai loan báo đức tin. Tuy nhiên, cần tiếp tục, và tôi muốn khích lệ chính quyền quốc gia củng cố những gì đã đạt được và tiếp tục trên con đường phục vụ thiện ích chung của toàn xã hội Cuba.
Quyền tự do tôn giáo trong chiều kích cá nhân cũng như trong chiều kích cộng đoàn biểu lô sự hiệp nhất của bản vị con người, vừa là công dân vừa là tín hữu. Cũng là điều hợp pháp việc các tín hữu góp phần xây dựng xã hội. Việc củng cố nó khiến cho sự sống chung được vững chãi, dưỡng nuôi hy vọng vào một thế giới tốt lành hơn, tạo ra các điều kiện thuận lợi cho hòa bình và phát triển hòa hợp, đồng thời thiết lập các nền móng vững chãi bảo dảm các quyền của các thế hệ tương lai.
Rồi Đức Thánh Cha kết thúc bài giảng như sau:
Khi Giáo Hội nêu bật quyền tự do tôn giáo, Giáo Hội không đòi hỏi đặc ân nào, nhưng chỉ yêu sách trung thành với sứ mệnh, mà Đấng sáng lập là Chúa Kitô đã giao phó cho mình, vì ý thức rằng nơi đâu có Chúa Kitô hiện diện, thì ở đó con người lớn lên trong nhân bản và tìm thấy sự vững vàng của nó. Chính vì thế Giáo Hội tìm cống hiến chứng tá đó trong việc rao giảng và dậy dỗ trong giáo lý cũng như trong các mội trường đào tạo và đại học. Hy vọng rằng sẽ mau đến lúc Giáo Hội có thể đem các lợi ích sứ mệnh của mình vào trong các lãnh vực khác nhau của sự hiểu biết. Thí dụ điển hình là linh mục Felex Varela, nhà giáo dục, bậc thầy và là người con ưu tú của thành phố La Habana này, mà lịch sử Cuba coi như người đầu tiên đã dậy cho người dân biết suy tư, và đã biến đổi xã hội. Cuba và thế giới cần có các thay đổi, nhưng sẽ chỉ có thay đổi, nếu mỗi người có thể ở trong điều kiện tự hỏi về sự thật, và quyết định bước theo con đường của tình yêu, gieo vãi hòa giải và tình huynh đệ.
Đức Thánh Cha xin Mẹ Maria Rất Thánh cho mọi người trở thành chứng nhân của lòng bác ái, luôn đáp trả lại sự ác bằng sự thiện.
Trong khi Đức Thánh Cha cho một số tín hữu rước lễ hàng trăm linh mục, các Phó tế, và hàng ngàn thừa tác viên thánh thể đã phân phát Mình Thánh Chúa cho giáo dân.
Sau khi chào từ biệt các tín hữu Đức Thánh Cha đã lên xe bọc kính trở về Tòa Sứ Thần Tòa Thánh để dùng bữa trưa với đoàn tùy tùng và nghỉ ngơi trước khi ra phi trường lấy máy bay về Roma.
Linh Tiến Khải
Đức Thánh Cha về Roma bằng an
VATICAN. Sáng ngày 29-3-2012, ĐTC Biển Đức 16 đã về đến Roma bằng an, kết thúc tốt đẹp chuyến viếng thăm dài hơn 6 ngày tại Mêhicô và Cuba.
Ra đón ĐTC tại phi trường Ciampino, khi máy bay đáp xuống đây lúc 10 giờ 35, có ĐHY Agostino Vallini, Giám quản giáo phận Roma, Bà Bộ trưởng nội vụ Italia, Anna Maria Cancellieri, và đại diện đại sứ quán Mêhicô và Cuba cạnh Tòa Thánh.
ĐTC về đến Roma sau chuyến bay dài hơn 10 tiếng đồng hồ từ phi trường thủ đô La Habana của Cuba. Trong nghi thức tiễn biệt trước đó vào lúc 4 giờ rưỡi chiều giờ địa phương, với sự hiện diện của Chủ tịch Nhà Nước Cuba, ông Raul Castro, các quan chức chính phủ và HĐGM địa phương, ĐTC cầu mong ”Cuba trở thành nhà của mọi người và của tất cả mọi người Cuba, trong đó có công lý và tự do, với một bầu không khí huynh đệ thanh thản”. Ngài cũng phê bình chính sách cấm vận mà Hoa Kỳ áp đặt trên Cuba từ nửa thế kỷ nay, gây bao đau khổ cho dân lành. ĐTC nói:
”Sự tôn trọng và chăm sóc tự do vốn là điều tâm hồn mỗi người mong ước, đó là điều không thể gạt bỏ, để có thể đáp ứng một cách thích hợp những đòi hòi cơ bản của phẩm giá con người và nhờ đó xây dựng một xã hội trong đó mỗi người cảm thấy mình giữ vai chính không thể chiếu được trong việc xây dựng tương lai cuộc sống, gia đình và tổ quốc của mình”.
ĐTC cũng khẳng định rằng: ”Thời điểm hiện nay, trong cuộc sống chung giữa con người, trên bình diễn quốc gia và quốc tế, đang cấp thiết đòi phải loại bỏ những lập trường cứng nhắc và những quan điểm một chiều có xu hướng làm cho sự đồng thuận trở nên cam go hơn và khiến cho nỗ lực cộng tác trở thành vô hiệu. Những dị biệt nếu có thì cần phải được giải quyết bằng cách liên lỷ tìm kiếm những gì nối kết, bằng cuộc đối thoại kiên nhân và chân thành, cũng như bằng một ý chí thực thực lắng nghe, đón nhận những dấu chỉ khách quan mang lại những hy vọng mới mẻ”.
ĐTC khuyến khích người dân Cuba tìm được nơi Chúa Kitô sức mạnh cần thiết để xây dựng một xã hội liên đới, trong đó không ai cảm thấy bị loại trừ... Ngài giải thích rằng ”Con đường mà Chúa Kitô đề nghị cho nhân loại và mỗi người, mỗi dân tộc, không hề cưỡng bách ai, trái lại là một yếu tố đầu tiên và chính yếu giúp họ phát triển đích thực.”
ĐTC nói thêm rằng: ”Ước gì không một ai cảm thấy bị cản trở không thể tham gia vào công cuộc xây dựng xã hội và phát triển con người, vì bị giới hạn những quyền tự do căn bản của mình; hoặc cảm thấy không bị thúc đẩy thi hành nghĩa vụ đó, vì thờ ơ hoặc vì thiếu những phương tiện vật chất. Tình trạng này trở nên trầm trọng khi có những biện pháp hạn chế kinh tế áp đặt từ nước ngoài, đang đè nặng một cách tiêu cực trên dân chúng”.
Sau cùng, ĐTC mời gọi Cuba hãy khơi dậy niềm tin của cha ông, hãy kín múc sức mạnh từ niềm tin ấy để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn, tín thác nơi những lời Chúa hứa, cởi mở tâm hồn đón nhận Tin Mừng của Chúa để can tân đời sống bản thân và xã hội một cách chân thực”.
Vì trời mưa, nên lễ nghi tiễn biệt ĐTC đã diễn ra ở trong nhà tại Phi trường. Và mặc dù thời tiết không thuận lợi như thế, vẫn có đông đảo dân chúng và tín hữu đứng hai bên đường dài 18 cây số từ tòa Sứ Thần Tòa Thánh ở trung tâm thủ đô La Habana, để chào từ biệt ĐTC.
Gặp Cựu Chủ tịch Fidel Castro
Cựu Chủ tịch Nhà Nước Cuba, Ông Fidel Castro, 86 tuổi, đã đến gặp ĐTC tại Tòa Sứ Thần Tòa Thánh trưa 28-3 vừa qua và hội kiến với ngài trong vòng nửa tiếng.
Cha Lombardi, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh, cho biết cuộc hội kiến diễn ra trong bầu không khi thân mật và sống động, ông Fidel hỏi ĐTC về nhiều điều liên quan đến sứ vụ Giáo Hoàng của ngài đồng thời cũng cám ơn Giáo Hội về việc phong chân phước cho Mẹ Têrêsa Calcutta, đại ân nhân của Cuba, và Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2. Ông cũng xin ngài vài cuốn sách để tìm hiểu thêm.
ĐTC cho Ông Fidel biết ngài rất hài lòng về chuyến viếng thăm cũng như sự đón tiếp mà chính phủ, Giáo Hội và nhân dân Cuba dành cho ngài.
Cách đây 14 năm, trong cuộc viếng thăm Cuba, Đức Gioan Phaolô 2 cũng đã hội kiến với Chủ tịch Fidel Castro trong 50 phút.
Một số báo chí tây phương về bình sự kiện trong cuộc viếng thăm vừa qua, ĐTC không được gặp các đại diện của phe đối lập, giống như cuộc viếng thăm trước đây của vị tiền nhiệm. Cha Lombardi nhấn mạnh tính chất mục vụ trong cuộc viếng thăm của ĐTC và nói rằng:
”Mục đích cuộc viếng thăm là khích lệ Giáo Hội địa phương, mang lại cho Giáo Hội một sức sống mới và niềm hy vọng, để Giáo Hội có thể giúp phần của mình. Dĩ nhiên, ĐGH cũng nêu lên với chính quyền Cuba nhiều yêu cầu để Giáo Hội được tự do hơn trong cách hoạt động, để tự do tôn giáo được nới rộng, hiểu như một chứng tá đầy đủ về đời sống Giáo Hội, kể cả trong lãnh vực giáo dục, từ thiện, để Giáo Hội có thể đóng góp tất cả phần của mình hầu mưu ích cho toàn dân Cuba. (RG 29-3-2012)
G. Trần Đức Anh OP
Tại Havana, Đức Thánh Cha hùng hồn bảo vệ Giáo Hội và quyền tự do tôn giáo
Category: Giáo Hội Hoàn Vũ
BY: J.B. ĐẶNG MINH AN DỊCH
Trước hàng trăm ngàn người tụ tập tại Quảng trường Cách mạng Havana, Đức Thánh Cha đã cử hành thánh lễ vào lúc 9h sáng. Ngài đã hùng hồn bảo vệ Giáo Hội và quyền tự do tôn giáo. Dưới đây là bản dịch toàn bộ bài giảng của ngài.
Anh chị em thân mến,
"Đáng Chúc Tụng thay danh Ngài, Lạy Chúa.. Danh Ngài thật chí thánh, chí tôn" (Dan 3:52). Bài thánh ca chúc tụng Chúa này từ Sách Daniel vang vọng ngày hôm nay trong phụng vụ của chúng ta, mời gọi chúng ta liên lỉ chúc tụng và cảm tạ Thiên Chúa. Chúng ta là một phần của một đại ca đoàn ca ngợi Chúa không ngừng. Chúng ta tham gia vào dàn hòa tấu tạ ơn, cống hiến vui tươi và tự tin tiếng hát của mình để tìm cách củng cố hành trình đức tin trong yêu thương và sự thật.
"Chúc tụng Thiên Chúa" là Đấng đã tập hợp chúng ta tại quảng trường lịch sử này để chúng ta hội nhập trong Ngài sâu sắc hơn. Tôi cảm thấy niềm vui lớn lao được hiện diện nơi đây với anh chị em ngày hôm nay để cử hành Thánh Lễ trong Năm Thánh mừng kính Đức Mẹ Bác Ái Mỏ Đồng.
Tôi nhiệt thành chào đón Đức Hồng Y Jaime Ortega y Alamino, Tổng Giám Mục Havana, và tôi cám ơn ngài về những lời tốt đẹp mà ngài đã gửi đến tôi thay mặt anh chị em. Tôi cũng gởi lời chào nồng nhiệt đến các Hồng Y và Giám Mục anh em của tôi ở Cuba và từ các nước khác, những người mong muốn được hiện diện trong lễ kỷ niệm long trọng này. Tôi cũng gởi lời chào các linh mục, chủng sinh, tu sĩ nam nữ, và tất cả anh chị em giáo dân đang tụ họp ở đây, cũng như các cấp chính quyền dân sự, những người muốn tham gia với chúng tôi.
Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, ba người thanh niên đã bị vua Babylon bách hại đã chọn chịu thiêu sống đến chết hơn là phản bội lại lương tâm và đức tin của họ. Họ có được sức mạnh để "tạ ơn, tôn vinh và ngợi khen Thiên Chúa" trong niềm xác tín rằng Chúa của vũ trụ và lịch sử sẽ không bỏ rơi họ trong sự chết và hủy diệt. Quả thật, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con cái của Ngài, Ngài không bao giờ quên họ. Ngài ngự trên chúng ta và có thể cứu chúng ta bằng quyền năng của Ngài. Đồng thời, Ngài cũng gần gũi với dân Ngài, và qua Đức Giêsu Kitô, Ngài đã muốn cư ngụ giữa chúng ta.
"Nếu các con tuân giữ lời Thầy, các con thật sự là môn đệ của Thầy, và các con sẽ nhận ra sự thật, và sự thật sẽ giải thoát các con" (Ga 8:31). Trong trình thuật Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tỏ mình ra như là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ, là Đấng tự mình có thể chỉ cho chúng ta sự thật và ban cho chúng ta tự do đích thật. Giáo huấn của Ngài gây ra chống đối và hoang mang trong số những người nghe Ngài, và Ngài cáo buộc họ tìm kiếm lý do để giết Ngài, ám chỉ đến sự hy sinh cao cả trên Thánh Giá đã gần kề. Mặc dù vậy, Ngài khuyến khích họ hãy giữ lời Ngài để nhận biết sự thật là điều đem lại ơn cứu chuộc và ơn công chính hóa.
Sự thật là ao ước của con người. Tìm kiếm sự thật luôn luôn đòi hỏi phải có tự do đích thực. Nhiều người, không chút nghi ngờ, muốn chọn đường tắt dễ đi, cố gắng hết sức để tránh công việc này. Một số, như quan Phongxiô Philatô, mỉa mai ngay cả khả năng có thể nhận biết sự thật (x. Ga 18:38), trong khi bác bỏ khả năng nhận ra sự thật hay phủ nhận rằng chẳng tồn tại một chân lý nào có giá trị chung cho tất cả mọi người. Thái độ này, như trong trường hợp của thuyết hoài nghi và thuyết tương đối, thay đổi con tim họ, làm cho họ hững hờ, hay dao động, xa cách những người khác và đóng kín. Có quá nhiều người, giống như viên tổng đốc La Mã, đã rửa tay và để dòng chảy của lịch sử trôi qua mà không có một lập trường nào.
Mặt khác, có những người lý giải sai lầm việc tìm kiếm sự thật, dẫn họ đến thái độ phi lý và cuồng tín, họ đóng mình trong "sự thật của họ", và cố gắng áp đặt nó trên người khác. Đây là trường hợp của các thầy thông giáo mù lòa, khi thấy Chúa Giêsu bị đánh đập tàn bạo và đẫm máu, còn hét toáng lên, "đóng đinh nó đi!" (X. Ga 19:06). Bất cứ ai hành động phi lý không thể trở thành một môn đệ của Chúa Giêsu. Đức tin và lý trí là cần thiết và bổ sung cho nhau trong việc tìm kiếm chân lý. Thiên Chúa tạo ra con người với một ơn gọi bẩm sinh là tìm kiếm sự thật và vì thế Ngài ban cho con người lý trí. Chắc chắn rằng đức tin Kitô được đề cao không phải vì sự phi lý nhưng chính vì niềm khao khát chân lý. Mỗi người nam nữ phải tìm kiếm sự thật và lựa chọn sự thật khi họ tìm được, thậm chí nếu có phải mất mạng sống mình đi chăng nữa.
Hơn nữa, sự thật khách quan vượt lên trên nhân loại là một điều kiện không thể thiếu để đạt được tự do, vì trong sự thật chúng ta khám phá ra nền tảng của một nền đạo đức trên đó tất cả có thể hội tụ, trong đó có những chỉ dẫn rõ ràng và chính xác liên quan đến cuộc sống và cái chết, nhiệm vụ và quyền hạn, hôn nhân, gia đình và xã hội, nói tóm lại là liên quan đến phẩm giá bất khả xâm phạm của con người. Di sản đạo đức này có thể làm xích lại những nền văn hóa, các dân tộc và tôn giáo khác nhau, chính quyền và công dân, giữa công dân với nhau, và giữa các tín hữu Kitô và những người vô thần.
Kitô giáo, khi đề cao những giá trị xiển dương đạo đức, không áp đặt, nhưng đề xuất lời mời gọi của Chúa Kitô để nhận biết sự thật giải thoát chúng ta. Người tín hữu được mời gọi để đưa ra sự thật cho những người đương thời với mình, như Chúa Kitô đã làm, ngay cả trước bóng đen chập chờn của khước từ và Thánh Giá. Cuộc gặp gỡ cá vị với Đấng là Chân Lý thúc đẩy chúng tôi chia sẻ kho tàng này với người khác, đặc biệt qua chứng tá của mình.
Anh chị em thân mến, đừng ngần ngại theo Chúa Giêsu Kitô. Trong Người chúng ta tìm thấy sự thật về Thiên Chúa và về nhân loại. Ngài giúp chúng ta vượt qua tính ích kỷ của mình, vượt lên trên những cuộc đấu tranh vô ích của chúng ta và thắng vượt những gì áp chế chúng ta. Kẻ gian ác, tội lỗi, trở thành nô lệ của sự dữ và sẽ không bao giờ đạt được tự do (x. Ga 08:34). Chỉ bằng cách từ bỏ hận thù và từ bỏ con tim chai cứng và mù lòa của chúng ta, thì chúng ta mới được tự do và một cuộc sống mới sẽ vươn lên trong chúng ta.
Khi xác tín rằng Chúa Kitô là đường lối thực sự của con người, và nhận ra rằng trong Người chúng ta tìm được sức mạnh cần thiết để đối mặt với mọi thử thách, tôi muốn tuyên bố công khai rằng Chúa Giêsu Kitô là con đường, là sự thật và là sự sống. Trong Người tất cả mọi người sẽ tìm thấy tự do hoàn toàn, sẽ thấy ánh sáng để hiểu thực tại một cách sâu sắc nhất và chuyển hóa nó bằng sức mạnh canh tân của tình yêu.
Giáo Hội tồn tại là để chia sẻ cho những người khác những gì Giáo Hội sở hữu, đó không gì khác hơn là Chúa Kitô, là niềm hy vọng vinh quang của chúng ta (x. Col 1:27). Để thực hiện nhiệm vụ này, Giáo Hội cần phải có tự do tôn giáo cơ bản, trong đó bao gồm khả thể công bố và cử hành đức tin của mình cả ở nơi công cộng, mang đến cho người khác thông điệp của hòa giải, tình yêu và sự bình an mà Chúa Giêsu mang đến cho thế giới. Thật là vui mừng là ở Cuba các bước khởi đầu đã được thực hiện để giúp cho Giáo Hội thực hiện sứ vụ thiết yếu của mình là thể hiện đức tin một cách cởi mở và công khai. Tuy nhiên, điều này phải được tiếp tục mạnh mẽ hơn nữa, và tôi muốn khích lệ các giới chức thẩm quyền của quốc gia này hãy tăng cường những gì đã đạt được và tiến bước theo con đường phục vụ thực sự cho thiện ích chân thật của toàn thể xã hội Cuba.
Quyền tự do tôn giáo, cả trong chiều kích cá nhân và công cộng, biểu hiện sự hiệp nhất của con người nhân bản, vừa là một công dân và đồng thời là một tín hữu. Nó cũng nhìn nhận về mặt pháp lý một thực tế là các tín hữu có nhiều đóng góp xây dựng xã hội. Tăng cường tự do tôn giáo củng cố những mối giây liên kết xã hội, nuôi dưỡng niềm hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho hòa bình và phát triển hài hòa, trong khi cùng lúc thiết lập nền móng vững chắc để đảm bảo quyền lợi của các thế hệ tương lai.
Khi Giáo Hội đề cao nhân quyền này, Giáo Hội không yêu cầu bất kỳ ưu đãi đặc biệt nào cho mình. Giáo Hội chỉ muốn được trung thành với lệnh truyền của Đấng thiêng liêng sáng lập ra mình, với ý thức rằng, nơi đâu Chúa Kitô hiện diện, nơi đó chúng ta trở nên nhân bản hơn và tình nhân loại của chúng ta trở nên chân thực. Đây là lý do tại sao Giáo Hội tìm kiếm cơ hội để đưa ra chứng tá qua lời rao truyền và giảng dạy của mình, cả trong các lớp giáo lý và trong các trường học và các trường đại học. Thật là vui mừng để hy vọng rằng thời điểm này sẽ sớm xảy ra ngay cả ở đây khi Giáo Hội có thể mang đến cho các lĩnh vực kiến thức những lợi ích của sứ mạng mà Chúa đã ủy thác cho Giáo Hội và Giáo Hội không bao giờ dám xao nhãng.
Một tấm gương sáng của dấn thân này được tìm thấy nơi linh mục xuất sắc Félix Varela, một giáo viên và là một nhà giáo dục, một người con ưu tú của thành phố Havana này, là người đã chiếm một chỗ đứng trân trọng trong lịch sử Cuba như một trong những người đầu tiên đã dạy đồng bào của mình phương pháp tư duy khoa học. Cha Varela vạch ra cho chúng ta một con đường chuyển biến xã hội thực sự để hình thành những người nam nữ đức hạnh nhằm kiến tạo một quốc gia xứng đáng và tự do, vì sự chuyển hóa này đòi buộc phương diện siêu nhiên đến mức là "không có quê hương đích thực nếu không có đức hạnh" (Thư cho Elpidio, Thư 6, Madrid năm 1836 Madrid, 220). Cuba và thế giới cần thay đổi, nhưng điều này chỉ xảy ra khi mỗi người sẵn sàng tìm kiếm sự thật và chọn con đường của tình yêu, gieo rắc hòa giải, và tình huynh đệ.
Khi kêu cầu sự phù trì từ mẫu của Mẹ Maria Chí Thánh, chúng ta hãy khẩn cầu để mỗi khi chúng ta tham dự Thánh Thể, chúng ta trở nên chứng nhân cho lòng bác ái là điều đáp trả lại sự dữ bằng điều thiện (x. Rom 12:51), và hiến dâng chúng ta như hy lễ sống động dâng lên Đấng đã từ bỏ chính mình vì yêu thương chúng ta. Chúng ta hãy bước đi trong ánh sáng của Chúa Kitô là Đấng duy nhất có thể phá hủy bóng tối của tội lỗi. Và chúng ta hãy cầu xin Ngài rằng, với lòng can đảm và sức mạnh của các thánh, chúng ta có thể, không sợ hãi, hận thù, nhưng tự do, quảng đại và bền đỗ đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa. Amen.
- www.vietvatican.net