ĐỨC THÁNH CHA BENEDICT
tin giáo hội tháng 01-2012
Đức Thánh Cha kêu gọi trợ giúp dân vùng Sahel
VATICAN. ĐTC Biển Đức 16 kêu gọi cộng đồng thế giới trợ giúp nhân dân vùng Sahel đang bị cuộc khủng hoảng lương thực đe dọa trong những tháng gần đây.
Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 10-2-2012, dành cho Ban chấp hành Ngân Quỹ Gioan Phaolô 2 trợ giúp vùng Sahel, nhóm họp tại Roma trong những ngày này dưới quyền chủ tọa của ĐHY Robert Sarah, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum, Đồng Tâm, 9 GM Phi châu thành viên đến từ 9 nước vùng sa mạc Sahara, và một số chuyên gia.
Ngỏ lời trong dịp này, ĐTC ca ngợi hoạt động của Ngân Quỹ Gioan Phaolô 2 trong 28 năm qua, đã tài trợ hàng ngàn dự án giúp phát triển các nước vùng sa mạc Sahara bên Phi châu. Ngài cũng khẳng định rằng: ”Đáng tiếc là vùng Sahel lại bị đe dọa trầm trọng trong những tháng gần đây do sự giảm bớt trầm trọng các nguồn lương thực và do nạn đói vì thiếu mưa và do nạn sa mạc lan rộng. Tôi kêu gọi cộng đồng quốc tế nghiêm túc cứu xét tình trạng nghèo đói cùng cực của các dân tộc ấy với những điều kiện sinh sống đang bị suy đồi. Tôi cũng muốn khích lệ và nâng đỡ nỗ lực của các cơ quan Giáo Hội hoạt động trong lãnh vực này”.
ĐTC cũng phê bình việc mô tả Phi châu một cách hẹp hòi và nhiều khi hạ nhục, coi Phi châu như một đại lục của các cuộc xung đột và với những vấn đề vô tận, không thể giải quyết nổi. Thực ra, Phi châu ngày nay đang đón nhận Tin Mừng, và đối với Giáo Hội, đây là một đại lục hy vọng. Đối với chúng tôi cũng như đối với anh chị em, Phi châu là đại lục của tương lai. Tôi lập lại lời nhắn nhủ trong cuộc viếng thăm mới đây của tôi ở nước Benin: ”Hỡi Phi châu, là Tin Mừng cho Giáo Hội, hãy trở thành Tin Mừng cho toàn thế giới!”. Ngân Quỹ Gioan Phaolô 2 giúp vùng Sahel là một bằng chứng hùng hồn.
ĐTC không quên khuyến khích Ngân Quỹ này canh tân, và nhấn mạnh nhiều hơn tới việc huấn luyện theo tinh thần Kitô và về nghề nghiệp cho con người hoạt động tại chỗ, vì có thể nói họ là những dụng cụ của ĐTC tại các miền ấy. Ngài nói: ”Tôi coi như một ưu tiên việc giáo dục và huấn luyện Kitô cho tất cả những người, bằng cách này hay cách khác, đang cộng tác để làm cho dấu chỉ bác ái lớn lao là Ngân Quỹ Gioan Phaolô 2 giúp vùng Sahel trở nên hữu hình hơn”.
Lời kêu gọi của các Giám Mục Đức
Đức TGM Ludwig Schick, của giáo phậm Bamberg, Chủ tịch Ủy ban GM Đức về giáo hội hoàn vũ, kêu gọi cộng đồng quốc tế dấn thân mạnh hơn trong việc chống nạn sa mạc lan rộng.
Trong tuyên ngôn công bố hôm 10-2-2012 tại thành phố Bonn, Đức TGM Schick khẳng định rằng ”Nạn sa mạc lan rộng không phải là một định mệnh không thể tránh đượng. Với các phương pháp canh tác tốt đẹp hơn, dân chúng tại vùng Sahel có thể góp phần nhiều hơn vào việc chống sa mạc.”
Đức TGM cũng kêu gọi đề ra các biện pháp chống nạn khí hậu thay đổi, làm cho sa mạc Sahara bên Phi châu ngày càng lan rộng hơn.
Đức TGM Schick đưa ra lời kêu gọi trên đây, nhân dịp khóa họp thường niên của Ban Quản trị Ngân Quỹ Gioan Phaolô 2 giúp vùng Sahel nhóm họp tại Roma.
Phần lớn số tiền Ngân Quỹ Gioan Phaolô 2 giúp vùng Sahel do các tín hữu Công Giáo Đức đóng góp theo lời kêu gọi của Đức Gioan Phaolô 2 hồi năm 1980. Số tiền khởi đầu là 30 triệu Đức Mã và từ năm 1984 ngân quỹ này có 40 triệu Euro.
Năm nay, Ngân Quỹ này dành 1 triệu 300 ngàn Euro để tài trợ các dự án thăng tiến nông nghiệp, trồng cây và giữ nước chống sa mạc lan rộng. (KNA 10-2-2012)
G. Trần Đức Anh OP
Thay đổi hay là chết!
Ngày 28-1-2012, đảng Cộng sản Cuba đã khai mạc khóa họp đặc biệt kéo dài trong hai ngày, để thảo luận về các biện pháp cải tổ chính trị kinh tế trong nước.
Kể từ khi được chính thức thành lập ngày mùng 3 tháng 10 năm 1965 đến nay, hội nghị toàn đảng lần này xem ra có tầm quan trọng định đoạt nhất đối với sự sống còn của đảng cộng sản Cuba như lời tuyên bố của Chủ tịch Raul Castro. Thật vậy, sau khi các đảng cộng sản thuộc khối Liên Bang Xô Viết sụp đổ tan tành thê thảm chỉ trong vài năm đầu thập niên 1990, và chủ nghĩa cộng sản bị quẳng vào sọt rác, thì cùng với Trung Quốc, Bắc Hàn, và Việt Nam đảng cộng sản Cuba đã tìm mọi cách để tồn tại trong một thế giới thay đổi với vận tốc chóng mặt, trong đó nhiều dân tộc đã mạnh dạn đứng lên lật đổ các chế độ độc tài để dành lại các quyền tự do làm người. Điển hình như cuộc cách mạng của các dân tộc A rập Bắc Phi và vùng Trung Đông.
Hội nghị ngoại thường này khiến cho người ta ngạc nhiên, vì đảng cộng sản Cuba mới kết thúc đại hội đảng lần thứ VI triệu tập tại thủ đô La Habana trong các ngày 16-19 tháng 4 năm ngoái, 2011. Chắc là phải có các lý do vô cùng nghiêm trọng, vì trước khi triệu tập hội nghị Chủ tịch Raul Castro đã cảnh cáo rằng: ”Hoặc chúng ta thay đổi, hoặc chúng ta sụp đổ, và cùng với sự sụp đổ ấy là tất cả các nỗ lực của nhiều thế hệ nhân dân Cuba”. Làm sao Cuba đã chống cự được với đế quốc tư bản và các cấm vận kinh tế kéo dài ròng rã 50 năm trời, mà giờ đây cuối cùng phải chấp nhận thay đổi?
Thật ra, ngay trong Hội nghị đảng lần thứ VI hồi mùa xuân năm ngoái 2011, các đại biểu đã thảo luận sôi nổi về tài liệu làm việc liên quan tới các đường lối chính trị và kinh tế do đảng đề ra. Dưới chế độ độc tài toàn trị, nhà nước say sưa với quyền bính nên luôn luôn kiêu căng mù lòa cho rằng dưới sự chỉ đạo anh minh sáng suốt của Lãnh tụ tối cao Chủ tịch Fidel Castro, đảng ta không bao giờ sai lầm và cái gì cũng có thể giải quyết được theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau 50 năm thống trị, các tiền đề ngu dốt phản khoa học ấy cuối cùng chứng minh cho các ”đỉnh cao trí tuệ loài người óc bé hơn óc gà và không có chất xám” ấy hiểu rằng thực tại cuộc sống của nhân dân thì chỉ có nhân dân mới có quyền quyết định.
Thật vậy, vì trong bài thuyết trình chính tại đại hội đảng lần thứ VI hồi năm ngoái 2011, Chủ tịch Raul Castro đã bỏ các giọng điệu cổ điển của giới lãnh đạo cộng sản, lúc nào cũng đổ tội cho đế quốc Mỹ, cho các thế lực thù nghịch, cho các phong tỏa thắt họng kinh tế, cho các lý do thế này thế nọ, để che dấu cái bất lực của Cách mạng không có khả năng bảo dảm cho nhân dân Cuba một cuộc sống xứng đáng với các hy sinh liên tục của họ. Trái lại, ông đã đề cập đến các mâu thuẫn và các sai lệch trong chính nội bộ đảng cộng sản Cuba, là những điều ông đã nói trong diễn văn đọc tại đại học La Habana hồi tháng 11 năm 2005, trong đó có câu sau đây: ”Một trong những sai lầm lớn nhất của chúng ta ngay từ đầu, và nhiều lần trong cuộc Cách Mạng, đó là đã tin rằng có ai đó biết xây dựng xã hội chủ nghĩa như thế nào”.
Vì thế, lời ông cảnh cáo trước khi triệu tập hội nghị ngoại thường vừa qua ”Phải thay đổi hay là chết”, không phải là điều mới lạ, cho bằng là một tiếng kêu cảnh tỉnh thê thảm đối với những đảng viên nào còn nhắm mắt say sưa với ý thức hệ cộng sản và các các đường lối chính trị kinh tế hoàn toàn sai lầm của nó. Nó cho thấy ý thức hệ và chế độ cộng sản Cuba đã qúa già nua cằn cỗi, không còn nghị lực, không còn sức sống, và đang trong tiến trình tự hủy, vì chính hàng lãnh đạo cộng sản cũng không còn tin tưởng gì nữa, và không có một động lực phát triển nào giúp vực dậy một nền kinh tế phá sản. Bên cạnh đó là các chứng bệnh nan y: ngu dốt, giáo điều, bàn giấy rườm rà, nhất là nạn gian tham hối lộ lan tràn trong mọi tầng lớp đảng viên, và chính sách cai trị bất công bạo tàn đối với nhân dân.
Trong một xã hội thay đổi nhanh chóng như xã hội vi tính ngày nay, cho dù nhà nước có chủ trương ngu dân và tìm mọi cách bưng bít mọi chuyện, các thế trẻ ngày nay thông minh, có học, hiểu biết và có nhiều khả năng hơn các thế hệ cha ông họ rất nhiều. Như người trẻ các nước A rập đã làm, với các phương tiện truyền thông tân tiến họ có thể phát động các cuộc xuống đường biểu tình ồ ạt chống chính quyền mạnh như nước lũ mà không có gì có thể ngăn cản được.
Có phải vì thế mà chủ tịch Raul Castro đã mạnh dạn phát động phong trào cải tổ bằng cách triệu tập hội nghị ngoại thường nói trên hay không. Chúng ta không biết được. Nhưng lời ông cảnh cáo diễn tả một định luật tự nhiên không hề sai chạy: thay đổi hay là chết! Thế thôi!
Linh Tiến Khải
Công bố Sứ Điệp Mùa Chay 2012 của Đức Thánh Cha
VATICAN. Trong Sứ điệp mùa chay năm nay, công bố sáng ngày 7-2-2012, ĐTC Biển Đức 16 cổ võ các tín hữu quan tâm đối với nhau, để khích lệ nhau trong việc thực thi bác ái và các công việc lành.
Đây cũng là chủ đề Sứ điệp mùa chay của ĐTC được ĐHY Robert Sarah Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum, Đồng Tâm, giới thiệu với giới báo chí trong cuộc họp báo sáng hôm qua tại Phòng báo chí Tòa Thánh.
Sứ điệp được phổ biến bằng 7 thứ tiếng: Ý, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Đức , Ba Lan. Và Mùa chay năm nay sẽ bắt đầu từ ngày thứ tư lễ tro, 22-2, và kết thúc vào ngày lễ Phục sinh 8-4 tới đây.
Chủ đề của Sứ Điệp Mùa Chay là câu 24 trong đoạn thứ 10 của thư gửi tín hữu Do thái. Trong đoạn này tác giả giải thích thành quả việc đón nhận Chúa Kitô là một đời sống được phát triển theo 3 nhân đức hướng thần, đó là: tiến đến gần Chúa ”với con tim chân thành trong sự viên mãn của đức tin” (c.22), giữ vững ”việc tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta” (c.23) trong sự luôn chú ý thi hành ”đức bác ái và các việc lành” (c.24) cùng với các anh em khác.
ĐTC lần lượt giải thích 3 ý tưởng nổi bật trong chủ đề của Sứ điệp:
- Trước tiên là lời mời gọi ”Chúng ta hãy quan tâm”. Lời này nhắc nhở về trách nhiệm của chúng ta đối với người anh em. Thái độ quan tâm đối với tha nhân, không dửng dưng đối với những người anh chị em như thế là điều rất cần thiết. Ngày nay, con người thường có thái độ ngược lại: dửng dưng, không tha thiết, đó là những thái độ nảy sinh từ lòng ích kỷ, được che đậy bằng cái bình phong là ”tôn trọng đời tư của người khác”. ĐTC viết: ”Ngày nay, Chúa cũng yêu cầu chúng ta trở thành những người canh giữ anh em mình (Xc St. 4,9), thiết lập những quan hệ ân cần đối với nhau, quan tâm đến thiện ích của tha nhân”. Trong chiều hướng trên đây, ĐTC đặc biệt kêu gọi thực thi giáo huấn của Kinh Thánh về sự ”sửa lỗi cho nhau” trong ý hướng nhắm phần rỗi đời đời của tha nhân.
- Ý tưởng thứ hai được ĐTC giải thích trong chủ đề mùa chay là ”tính chất hỗ tương đối với nhau”. Ngài viết: ”Ở đây chúng ta động chạm đến một yếu tố rất sâu xa của tình hiệp thông: cuộc sống của chúng ta có liên hệ tới cuộc sống của người khác, trong điều thiện cũng như trong điều ác; tội lỗi cũng như những việc lành bác ái đều có một chiều kích xã hội.. Quan tâm đến tha nhân trong tinh thần hỗ tương cũng là nhìn nhận điều thiện hảo mà Chúa làm nơi họ và cùng với họ cảm tả vi những kỳ công ân phúc mà Thiên Chúa nhân lành và toàn năng tiếp tục thực hiện nơi các con cái của Ngài”.
- Yếu tố thứ ba trong chủ đề là ”Để khích lệ lẫn nhau trong đức bác ái và trong việc lành”: tức là cùng nhau hành trình trong sự thánh thiện.
ĐTC tố giác cám dỗ ngày nay của nhiều người sống trong nguội lạnh, bóp nghẹt Thánh Linh, từ khước làm sinh lợi những nén bạc đã được ban cho chúng ta để mưu ích cho bản thân và tha nhân (Xc Mt 25,25ss).
ĐTC cũng nhấn mạnh rằng: ”Đứng trước một thế giới đang đòi hỏi các tín hữu Kitô một chứng tá được đổi mới về tình yêu thương và lòng trung thành với Chúa, tất cả chúng ta cảm thấy sự cấp thiết phải nỗ lực thi nhau làm việc bác ái, phục vụ và làm việc lành (Xc Dt 6,10). Lời kêu gọi này đặc biệt mạnh mẽ trong mùa thánh chuẩn bị mừng lễ Phục Sinh” (SD 7-2-2012)
G. Trần Đức Anh OP
Khai mạc Hội nghị quốc tế về nạn lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên
Roma. Chiều ngày 6-2-2012, ĐHY William Levada, Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin, đã thuyết trình khai mạc Hội nghị quốc tế nhắm đối phó với tệ nạn lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên.
Hội nghị diễn ra từ ngày 6 đến 9-2 tại Đại học Giáo Hoàng Gregoriana ở Roma về chủ đề ”Tiến đến sự chữa lành và đổi mới”, với sự tham dự của lối 200 người trong đó có các GM đại diện 110 HĐGM trên thế giới và các Bề trên của 30 dòng tu, cùng với nhiều chuyên gia.
Cha Viện trưởng Đại học Gregoriana François Xavier Dumortier, cùng với Cha Bề trên Tổng quyền dòng Tên Adolfo Nicolas đã chào mừng các tham dự viên, trước khi ĐHY Levada thuyết trình từ lúc 6 giờ rưỡi về đề tài ”Nạn lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên: một câu trả lời đa diện cho thách đố này”.
ĐHY đã gợi lại tiến trình lịch sử của vấn đề, đặc biệt là vai trò của Bộ giáo lý đức tin trong việc xét xử các vụ giáo sĩ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên, theo sự ủy thác của ĐGH Gioan Phaolô 2, sau khi tội này được xếp vào loại những tội nặng nhất. ĐHY Levada đặc biệt cám ơn ĐTC đương kim về vai trò của ngài khi còn làm Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin trong việc xử lý con số các phúc trình về những vụ lạm dụng này ngày càng được gửi về bộ.
ĐHY cho biết trong thập niên qua, đã có hơn 4 ngàn vụ được đệ trình Bộ giáo lý đức tin. Tình trạng này một đàng cho thấy nếu chỉ có câu trả lời cho thảm trạng này về mặt giáo luật mà thôi thì không đủ, cần có một câu trả lời đa diện nữa. Bộ thấy rằng ngoài việc áp dụng đúng đắn các qui tắc kỷ luật đối với các giáo sĩ phạm lỗi, còn phải mở rộng nhãn giới về việc giúp chữa lành các nạn nhân, thăng tiến các chương trình bảo vệ trẻ em và người trẻ, thúc giục các GM giáo dục các cộng đồng tín hữu về trách nhiệm đối với giới trẻ, cộng tác với các bộ khác của Tòa Thánh và các HĐGM để đảm bảo sự huấn luyện thích hợp cho các LM ngày nay và các LM tương lai về các khía cạnh liên quan đến vấn đề lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên.
Phần lớn bài thuyết trình của ĐHY Levada dành để quảng diễn phần đầu trong Thông tư của Bộ giáo lý đức tin ngày 3-5 năm ngoái (2011) gửi các HĐGM trên thế giới về việc đề ra những đường hướng đối phó với những vụ giáo sĩ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên.
ĐHY lần lượt lưu ý về các nạn nhân bị lạm dụng tính dục, vấn đề bảo vệ trẻ vị thành niên, việc huấn luyện các LM và tu sĩ tương lai, sự nâng đỡ dành cho các linh mục, sau cùng là sự cộng tác với chính quyền dân sự. Giáo Hội cổ võ sự cộng tác này như một nhiệm vụ, tuy nhiên các chức sắc của Giáo Hội phải tránh mọi sự thỏa hiệp vi phạm bí tích giải tội: tòa trong của bí tích này không thể bị vi phạm.
ĐHY Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin nhấn mạnh rằng Tông thư của Bộ gửi các HĐGM không hề có nghĩa là có sự chuyển nhượng quyền bính hoặc trách nhiệm của các GM giáo phận và các Bề trên dòng tu cho HĐGM. Ngoài ra, chính các GM và các Bề trên thượng cấp của các dòng tu có nghĩa vụ phải tham gia việc soạn thảo các đường hướng chỉ đảo và phải tuân hành các đường hướng này vì thiện ích của Giáo Hội, sau khi các qui tắc chỉ đạo ấy được Bộ giáo lý đức tin phê chuẩn. Không một GM hoặc Bề trên thượng cấp nào có thể coi mình được miễn chuẩn khỏi sự cộng tác ấy”. (SD 6-2-2012)
G. Trần Đức Anh OP
Chương trình viếng thăm của Đức Thánh Cha tại Mêhicô và Cuba
VATICAN. Hôm 31-1-2012, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố chương trình chính thức chuyến viếng thăm của ĐTC tại Mêhicô và Cuba từ ngày 23 đến ngày 29-3 tới đây.
Đây sẽ là chuyến viếng thăm thứ hai của ngài tại Mỹ châu la tinh, sau Brazil hồi năm 2007 và là chuyến viếng thăm thứ 23 của ngài tại nước ngoài trong 6 năm làm Giáo Hoàng.
Ngài sẽ rời Roma lúc 9 giờ rưỡi sáng thứ sáu, 23-3, bằng máy bay Boeing 777 của hãng Alitalia, và đến phi trường quốc tế Guanajuato ở thành phố Silao, miền trung Mêhicô, lúc 4 giờ rưỡi chiều cùng ngày, sau 14 giờ bay.
Sáng hôm sau, thứ bẩy 24-3, ĐTC sẽ cử hành thánh lễ tại nhà nguyện Học viện Miraflores của các nữ tu lúc 8 giờ sáng. Ngài sẽ không có hoạt động nào cho đến 6 giờ chiều cùng ngày, là giờ ngài sẽ đến viếng thăm Tổng thống Felipe Calderón của Mêhicô tại Nhà ”Bá tước Rul” là trụ sở chính quyền địa phương và gặp gỡ các trẻ em tại quảng trường Guanajuato sau đó.
Chúa nhật 25-3, ĐTC sẽ chủ sự thánh lễ lúc 10 giờ sáng tại Công viên kỷ niệm 200 năm độc lập tại thành phố Silao gần León. Hiện diện trong thánh lễ sẽ có hàng trăm ngàn tín hữu đến từ 91 giáo phận toàn quốc. Địa điểm cử hành thánh lễ ở dưới chân đồi Cublete, nơi có Đền thánh Chúa Kitô Vua, một trong những Đền thánh quan trọng nhất tại Mêhicô.
Ban chiều lúc 6 giờ ngài sẽ chủ sự kinh chiều với các GM Mêhicô và Mỹ châu la tinh tại Nhà Thờ chính tòa Đức Mẹ Ánh sáng của giáo phận León.
Sáng thứ hai, 26-3, ĐTC sẽ giã từ Mêhicô bay tới thành phố Santiago de Cuba lúc 2 giờ chiều cùng ngày sau 3 giờ 30 phút bay. Sau nghi thức đón tiếp tại phi trường ngài sẽ cử hành thánh lễ tại Quảng trường Antonio Maceo ở Santiago nhân dịp kỷ niệm 400 năm tìm thấy ảnh tượng Đức Mẹ Bác Ái mỏ đồng.
Vào năm 1612, 3 ngư phủ đã đã tìm được tượng Đức Mẹ nhỏ bằng gỗ do một tù trưởng thổ dân bỏ rơi một thế kỷ trước đó. Nơi tìm được tượng gần mỏ đồng đầu tiên của Cuba.
Sáng thứ ba, 27-3, lúc 9 giờ rưỡi, ĐTC sẽ kính viếng Đền thánh Đức Mẹ Bác Ái Mỏ đồng, bổn mạng Cuba, rồi đáp máy bay về thủ đô La Habana cách đó lối 900 cây số và sẽ đến nơi vào lúc 12 giờ trưa.
Ban chiều, lúc 5 giờ rưỡi ngài sẽ tham Chủ tịch Hội đồng Nhà Nước và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cuba, ông Raul Castro, tại dinh Cách Mạng.
Sau đó, lúc 7 giờ 15, ĐTC sẽ gặp gỡ và dùng bữa tối với các GM Cuba và đoàn tùy tùng tại Tòa Sứ Thần Tòa Thánh.
Sáng thứ tư, 28-3 vào lúc 9 giờ, ngài sẽ cử hành thánh lễ tại Quảng trường Cách Mạng ở thủ đô. Ban chiều lúc 4 giờ rưỡi, ngài giã từ Cuba để trở về Roma, dự kiến sẽ tới phi trường Ciampino lúc 10 giờ 15 phút sáng ngày thứ năm, 29-3, sau khoảng 10 giờ bay.
Theo dự kiến, ĐTC sẽ đọc 9 diễn văn và bài giảng trong chuyến viếng thăm lần này. (SD 31-1-2012)
G. Trần Đức Anh OP
Đức Thánh Cha bế mạc tuần cầu nguyện hiệp nhất
ROMA. Lúc 5 giờ rưỡi chiều 25-1-2012, ĐTC Biển Đức 16 đã chủ sự buổi hát kinh chiều trọng thể tại Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành ở Roma, để bế mạc tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô.
Hiện diện tại buổi cầu nguyện, ngoài 26 HY, còn có đông đảo các GM, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân Roma, nhiều đại diện của các cộng đoàn Kitô khác, đặc biệt là Đức TGM Ghennadios của Giáo Hội Chính Thống tại Italia và Malta, Kinh Sĩ Richardson, Đại diện Đức TGM Canterbury, Giáo chủ Liên hiệp Anh Giáo, nhóm làm việc gồm nhiều đại diện các Giáo hội Kitô ở Ba Lan, đã soạn tài liệu cho tuần cầu nguyện hiệp nhất năm nay, các sinh viên Học viện đại kết ở Bossey, Thụy Sĩ.
Trước khi kinh chiều bắt đầu, ĐHY Kurt Koch, người Thụy Sĩ, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô, đã đại diện mọi người hiện diện chào mừng và cám ơn ĐTC đã đến chủ sự Kinh Chiều này. ĐHY ghi nhận sự hiện diện của đông đảo đại diện các tín hữu Kitô trong buổi hát kinh chứng tỏ lời mời gọi của ĐTC cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô được nhiều người lắng nghe đón nhận.
Trong bài giảng, ĐTC đã dựa vào các bài đọc để diễn giải đề tài tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô năm nay là: ”Tất cả chúng ta sẽ được biến đổi nhờ chiến thắng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Xc 1 Cr 15,51-58). Ngài nêu bật tấm gương của thánh Phaolô tông đồ, người đã được ơn thánh của Chúa biến đổi từ một người hăng say bách hại các Kitô hữu thành tông đồ không biết mệt mỏi của Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô. ĐTC nhận xét rằng kinh nghiệm bản thân của Thánh Phaolô giúp thánh nhân chờ đợi sự viên mãn của mầu nhiệm biến đổi, với niềm hy vọng vững chắc: sự biến đổi này liên hệ tới tất cả những người tin nơi Chúa Giêsu Kitô, toàn thể nhân loại và các loài thụ tạo.
ĐTC cũng khẳng định rằng: ”Trong khi dâng lời cầu nguyện, chúng ta cũng tín thác mình được biến đổi và trở nên đồng hình dạng với Chúa Kitô. Điều này đặc biệt đúng trong việc cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô. Thực vậy, khi chúng ta khẩn cầu hồng ân hiệp nhất cho các môn đệ Chúa Kitô, chúng ta đón nhận như của chính mình niềm mong ước đã được Chúa Giêsu Kitô biểu lộ hôm trước ngày chịu nạn và chịu chết trong kinh nguyện dâng lên Chúa Cha: ”để tất cả chúng được nên một” (Ga 17,21).
ĐTC mời gọi các tín hữu Kitô hướng nhìn về tương lai trong niềm hy vọng mặc dù chúng ta vẫn đang cảm nghiệm tình trạng chia rẽ đau thương, bởi vì sự chiến thắng của Chúa Kitô có nghĩa là vượt thắng tất cả những gì ngăn cản không cho chúng ta chia sẻ trọn vẹn cuộc sống sung mãn với Chúa và với tha nhân.. Sự hiện diện của Chúa Kitô phục sinh kêu gọi tất cả các tín hữu Kitô chúng ta hãy cùng nhau hoạt động trong chính nghĩa sự thiện, chia sẻ sứ mạng của Chúa, sứ mạng mang hy vọng nơi những nơi đang bị bất công, oán thù và tuyệt vọng thống trị.”
ĐTC cũng nhắc đến quan niệm Kitô về sự chiến thắng, đó không phải là một sự thành công tức khắc.. Chiến thắng ấy xảy ra theo thời gian của Thiên Chúa, chứ không phải của chúng ta, đồng thời đòi chúng ta phải có niềm tin sâu xa và kiên nhẫn trường kỳ... Cũng vậy sự chờ đợi của chúng ta đối với sự hiệp nhất hữu hình của Giáo Hội phải có tính chất kiên nhẫn và tín thác. Chỉ trong thái độ đó, kinh nguyện và sự dấn thân hằng ngày của chúng ta cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô mới có ý nghĩa. Thái độ kiên nhẫn chờ đợi ấy không có nghĩa là thụ động hoặc cam chịu, nhưng là mau mắn và chăm chú đáp lại mỗi cơ hội hiệp thông và huynh đệ mà Chúa Ban cho chúng ta” (SD 25-1-2012)
G. Trần Đức Anh OP
Công bố sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân Ngày Thế giới truyền giáo 2012
VATICAN. ĐTC Biển Đức 16 kêu gọi toàn thể Giáo Hội phục hồi lòng hăng say tông đồ của các cộng đồng Kitô tiên khởi, và đẩy mạnh dấn thân truyền giáo cho dân ngoại.
Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong Sứ điệp công bố hôm 25-1-2012, nhân Ngày Thế giới truyền giáo sẽ được cử hành vào chúa nhật 21-10 năm nay, với chủ đề ”Được kêu gọi làm rạng ngời Lời Chân Lý” (Tông thư Porta fidei, 6).
ĐTC ghi nhận rằng Ngày Thế giới truyền giáo năm nay có một ý nghĩa rất đặc biệt với dịp kỷ niệm 50 năm sắc lệnh của Công đồng chung Vatican 2 ”Ad Gentes” về truyền giáo, việc khai mạc Năm Đức Tin, và Thượng HĐGM thế giới về việc tái truyền giảng Tin Mừng. Tất cả đều góp phần tái khẳng định ý chí của Giáo Hội dấn thân can đảm và nhiệt thành hơn trong sứ mạng truyền giáo cho dân ngoại để Tin Mừng đi tới mọi bờ cõi trái đất.
Trong sứ điệp, sau khi nhắc lại sự cấp thiết của sứ vụ truyền giáo, ĐTC viết: ”Chúng ta cần phục hồi đà tiến tông đồ của các cộng đồng Kitô tiên khởi; các cộng đồng ấy, tuy bé nhỏ và yếu ớt, nhưng vẫn có khả năng dùng lời giảng và việc làm chứng tá, loan truyền Tin Mừng trong toàn thế giới được biết đến bấy giờ”.
ĐTC nhắc nhở các mục tử của Giáo Hội rằng: ”Đối với một vị Chủ Chăn, mệnh lệnh rao giảng Tin Mừng không kết thúc trong việc quan tâm đến phần Dân Chúa được ủy thác cho mình chăm sóc mục vụ, và qua việc gửi vài linh mục, giáo dân nam nữ theo diện 'Fidei donum', Hồng ân đức tin đến giúp các xứ truyền giáo. Mệnh lệnh ấy phải bao trùm toàn thể hoạt động của Giáo Hội địa phương, tất cả mọi lãnh vực, hay nói khác đi, nó phải bao trùm toàn thể cuộc sống và hoạt động của Giáo Hội địa phương. Điều này đòi phải luôn luôn thích ứng lối sống, các kế hoạch mục vụ và việc tổ chức của giáo phận theo chiều kích cơ bản này của Giáo Hội, nhất là trong thế giới liên tục biến đổi ngày nay.. Theo chiều hướng đó, ĐTC hy vọng việc cử hành Năm Đức Tin và Thượng HĐGM thế giới về việc tái truyền giảng Tin Mừng sẽ là những cơ hội thuận tiện để tái đẩy mạnh việc cộng tác truyền giáo, không những qua sự trợ giúp kinh tế cho các Giáo Hội trẻ, nhưng còn tham gia trực tiếp vào việc truyền giảng Tin Mừng” (Xc Redemptoris Missio, 82).
Cũng trong sứ điệp ĐTC nói đến một trong những chướng ngại cản trở đà tiến truyền giáo là cuộc khủng hoảng đức tin, không những trong thế giới tây phương, nhưng trong phần lớn nhân loại.. Nhân loại vẫn đói khát Thiên Chúa và phải được mời gọi và dẫn đưa đến bánh sự sống và nước hằng sống, như người phụ nữ xứ Samaria đến giếng nước Giacob và đối thoại với Chúa Kitô (Xc Ga 4,1-30).
Sau khi diễn giải ý nghĩa cuộc gặp gỡ này của người phụ nữ với Chúa Giêsu, ĐTC viết: “Cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô như một Nhân Vật sinh động làm mãn nguyện cơn khát của con tin chỉ có thể đưa tới ước muốn chia sẻ với người khác niềm vui về sự hiện diện của Chúa và giới thiệu Người để tất cả mọi người có thể cảm nghiệm. Cần canh tân lòng hăng say thông truyền đức tin để thăng tiến một công trình tái truyền giảng Tin Mừng cho các cộng đoàn và các nước có truyền thống Kitô kỳ cựu đang bị sự tham chiếu về Thiên Chúa, để họ tái khám phá niềm vui đức tin.”
Sau cùng, ĐTC nhắc đến sự kiện việc loan báo Tin Mừng cũng phải được biểu lộ qua các hoạt động bác ái. Ngài nhắc đến và cám ơn các Hội Giáo Hoàng truyền giáo và kêu gọi các tín hữu hỗ trợ hoạt động của các Hội này và khẳng định rằng: ”Nhờ hoạt động của các Hội Giáo Hoàng truyền giáo, việc loan báo Tin Mừng cũng trở thành một sự can thiệp giúp đỡ tha nhân, thực thi công bằng đối với những người nghèo nhất, mang lại cơ hội được giáo dục tại những làng hẻo lánh nhất, trợ giúp y tế tại những miền xa xăm, giải thoát khỏi lầm than, phục hồi cho những người bị gạt ra ngoài lễ xã hội, nâng đỡ sự phát triển các dân tộc, vượt thắng những chia rẽ bộ tộc, tôn trọng sự sống trong mọi giai đoạn” (SD 25-1-2012)
G. Trần Đức Anh OP
Đức Thánh Cha kêu gọi chủng sinh và linh mục tăng cường đời sống thiêng liêng
VATICAN. Trong buổi tiếp kiến sáng 20-1-2011, ĐTC nhắn nhủ các LM và chủng sinh Học viện Capranica ở Roma tăng cường đời sống thiêng liêng, kết hiệp với Chúa, như điều kiện để có thể cộng tác hữu hiệu vào công cuộc truyền giảng Tin Mừng sau này.
Hiện diện tại buổi tiếp kiến có 70 người, gồm ban giám đốc, cùng với các LM và chủng sinh sinh viên. Tại Học viện này cũng có 1 LM thuộc giáo phận Xuân Lộc và 1 Phó tế thuộc giáo phận Bùi Chu. Học viện Capranica do ĐHY Domenico Capranica thành lập cách đây 550 năm và là một trong các chủng viện trong giáo phận Roma.
Trong bài huấn dụ, ĐTC nhắc đến tấm gương của thánh Agnès, trinh nữ tử đạo, bổn mạng của Học Viện: hồng ân hiến thân trọn vẹn cho Chúa trong cuộc tử đạo của thánh nữ được chuẩn bị bằng sự chọn lựa ý thức và tự do và trưởng thành đối với sự trinh khiết, chứng tỏ ý chí hoàn toàn thuộc về Chúa Kitô.
Từ tấm gương trên đây, ĐTC nhấn mạnh rằng ”đời sống linh mục đòi hỏi một sự khao khát ngày càng nên thánh, một cảm thức Giáo Hội thật rõ ràng, một sự cởi mở đối với tình huynh đệ, không loại trừ hoặc thiên vị ai.” Và trong tiến trình huấn luyện, chủng sinh và linh mục phải hấp thụ một tổng hợp giữa đức tin và lý trí.. Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể, nên linh mục chân thực của Ngôi Lời nhập thể ngày càng phải trở thành sự trong sáng, rạng ngời và sâu xa của Lời Vĩnh Cửu được ban cho chúng ta.”
ĐTC nói thêm rằng: ”Giáo Hội mong đợi nhiều nơi các LM trẻ trong công trình rao giảng Tin Mừng và tái truyền giảng Tin Mừng. Cha khuyến khích các con, để trong sự vất vả hằng ngày, ăn rễ sâu trong vẻ đẹp của truyền thống chân chính, kết hiệp sâu xa với Chúa Kitô, hãy có khả năng mang Chúa Kitô tới các cộng đoàn của các con với sự thật và niềm vui”. (SD 20-1-2012)
G. Trần Đức Anh OP
Đức Thánh Cha kêu gọi bảo vệ tự do tôn giáo tại Hoa Kỳ
VATICAN. Trong buổi tiếp kiến sáng 19-1-2012, dành cho các GM Hoa Kỳ, ĐTC cảnh giác về trào lưu văn hóa đang tìm cách thu hẹp tự do tôn giáo tại nước này, và hạn chế chứng tá công cộng của Giáo Hội Công Giáo về luân lý.
Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến dành cho 16 GM, đứng đầu là ĐHY Donald Wuerl, từ vùng thủ đô, bang Maryland, Delaware, Virginia, Tây Virginia và Tổng giáo hạt quân đội Mỹ, về Roma hành hương viếng mộ hai thánh Tông Đồ và thăm Tòa Thánh.
ĐTC nói đến một số trào lưu văn hóa ở Mỹ chủ trương giới hạn chân lý trong lãnh vực hoàn toàn là khoa học duy lý, hoặc loại bỏ sự thật luân lý nhân danh quyền bính chính trị hoặc qui luật của đa số.. Ngài nói: “Những trào lưu ấy không những là một đe dọa cho đức tin Kitô, nhưng còn cho chính nhân loại và cho sự thật sâu xa nhất về con người và ơn gọi tối hậu của chúng ta, quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Khi một nền văn hóa toan tính hủy bỏ chiều kích mầu nhiệm tối hậu, và khép kín đối với chân lý siêu việt, thì chắc chắn nó trở nên nghèo nàn và rơi vào quan niệm hẹp hòi và độc đoán về con người và bản chất của xã hội”.
ĐTC đề cao vai trò phê bình của Giáo Hội chống lại trào lưu văn hóa dựa vào chủ nghĩa cá nhân tột độ, tìm cách thăng tiến những ý niệm tự do tách rời khỏi sự thật luân lý.. Sự bảo vệ của Giáo Hội dành cho lý lẽ luân lý dựa trên luật tự nhiên vì Giáo Hội xác tín rằng luật này không phải là một đe dọa cho tự do của chúng ta, nhưng đúng hơn, đó là một ”ngôn ngữ” giúp chúng ta hiểu được chính mình và chân lý về con người chúng ta, hầu kiến tạo một thế giới công chính và nhân bản hơn. Vì thế, Giáo Hội đề nghị các giáo huấn luân lý như một sứ điệp, không cưỡng bách nhưng là giải thoát, và như một căn bản để xây dựng một tương lai chắc chắn”.
Cũng trong bài huấn dụ khi tiếp các GM Hoa Kỳ, ĐTC mời gọi toàn thể cộng đồng Công Giáo tại Hoa Kỳ ý thức về những đe dọa trầm trọng đối với chứng tá công cộng của Giáo Hội về luân lý, do trào lưu tục hóa cực đoan gây ra, trào lưu này ngày đàng được biểu lộ trong lãnh vực chính trị và văn hóa.
ĐTC nói: ”Cần nhận thức rõ những đe dọa nghiêm trọng ấy trong mọi cấp độ của đời sống Giáo Hội. Điều đặc biệt đáng lo là một số toan tính nhắm giới hạn tự do tôn giáo, vốn là điều được quí chuộng nhất trong các quyền tự do của người Mỹ. Nhiều người trong anh em đã vạch rõ sự kiện: nhiều nỗ lực có phối hợp đang được thực hiện để phủ nhận quyền phản kháng lương tâm của các cá nhân và tổ chức Công Giáo về việc cộng tác đối với những đường lối thực hành tự chúng là xấu. Một số anh em khác đã nối với tôi về xu hướng đáng lo âu, nhắm thu hẹp tự do tôn giáo vào tự do phụng tự, và không có sự bảo đảm tôn trọng tự do lương tâm”.
Sau cùng, ĐTC kêu gọi các GM Hoa Kỳ đẩy mạnh việc thăng tiến một hàng ngũ giáo dân Công Giáo dấn thân, được huấn luyện kỹ lưỡng, với một ý thức phê bình mạnh mẽ đối với trào lưu văn hóa đang thống trị, và có can đảm chống lại chủ nghĩa duy tục hóa, không cho Giáo Hội được tham gia vào cuộc thảo luận công cộng về những vấn đề quan trọng đối với tương lai của xã hội Hoa kỳ. Việc chuẩn bị những vị lãnh đạo giáo dân dấn thân và trình bày lập trường có sức thuyết phục về nhân sinh quan và xã hội quan Kitô giáo là một trách vụ hàng đầu của Giáo Hội tại đất nước anh em, như những yếu tố thiết yếu trong cuộc cuộc tái truyền giảng Tin Mừng. Các mối quan tâm này phải hình thành viễn tượng và mục tiêu của các chương trình giáo lý ở mọi cấp độ”.
Trong thời gian gần đây, HĐGM Hoa Kỳ đã nhiều lần lên tiếng tố giác các đạo luật tại một số nơi ở Mỹ đe dọa hoặc kỳ thị các tín hữu Kitô, đặc biệt là Công Giáo, như luật buộc các tổ chức Công giáo phải trả bảo hiểm ngừa thai cho các nhân viện, luật công nhận hôn nhân đồng phái, buộc các tổ chức Công Giáo phải giúp các cặp đồng phái nhận con nuôi, nếu không sẽ không được tài trợ của chính phủ, v.v. HĐGM Mỹ đã thành lập Ủy ban GM về tự do tôn giáo để giúp gây ý thức và động viên các thành phần Giáo Hội bảo vệ tự do tôn giáo. (SD 19-1-2012)
G. Trần Đức Anh OP
- www.vietvatican.net