Ngày phán xét thúc đẩy chúng ta sống giây phút hiện tại tốt lành và bác ái hơn
Ngày phán xét không làm cho chúng ta sợ hãi, nhưng thúc đẩy chúng ta sống giây phút hiện tại tốt lành hơn, biết nhận ra Chúa nơi các anh chị em nghèo túng và yêu thương trợ giúp họ.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hơn 100.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi tiếp kiến chung tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ tư 24-5-2013. Trong số các đoàn hành hương hiện diện và được ngồi hai bên khán đài có phái đoàn 55 tín hữu Việt Nam, do Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn hướng dẫn. Đức Thánh Cha đã chào phái đoàn như sau:
Tôi thân ái chào các khách hành hương Việt Nam của tổng giáo phận thành phố Hồ Chi Minh, dưới sự hướng dẫn của Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn.
Trong hài huấn dụ Đức Thánh Cha đã khai triển đề tài giáo lý ngày Chúa Giêsu Kitô quang lâm, như viết trong Kinh Tin Kinh: ”Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Đức thánh Cha nói: Lịch sử loài người đã bắt đầu với việc tạo dựng người nam và người nữ giống hình ảnh của Thiên Chúa, và kết thúc với việc phán xét sau hết của Chúa Kitô. Thường khi chúng ta quên hai cực này của lịch sử, và nhất là niềm tin vào việc trở lại của Chúa Kitô và ngày phán xét sau hết đôi khi không rõ ràng và vững vàng trong tim của các kitô hữu. Trong cuộc sống công khai Chúa Giêsu đã thường dừng lại trên thực tại này của lần trở lại sau cùng.
Tiếp đến Đức Thánh Cha đã suy tư về ba dụ ngôn giúp mình giải ý nghĩa của tín lý này: đó là dụ ngôn 10 trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể, dụ ngôn các nén bạc và văn bản nói về ngày phán xét sau hết. Cả ba văn bản đều thuộc diễn văn của Chúa Giêsu về ngày tận thế trong Phúc Âm thánh Mátthêu.
Với việc Lên Trời Con Thiên Chúa đã đem nhân tính của chúng ta mà Người đã nhận lấy lên gần Thiên Chúa Cha, và muốn kéo tất cả chúng ta đến với Người, muốn kêu gọi toàn thế giới được đón nhận trong vòng tay rộng mở của Thiên Chúa, để khi lịch sử kết thúc, toàn thực tại được giao cho Thiên Chúa Cha. Tuy nhiên, có ”thời gian tức khắc” giữa biến cố Chúa Kitô đến lần đầu và lần cuối, là thời gian chúng ta đang sống. Dụ ngôn mười trinh nữ nằm trong bối cảnh của ”thời gian tức khắc” này (x. Mt 25,1-13).
Đây là mười trinh nữ đang chờ Chàng Rể tới, nhưng chàng đến chậm và các cô thiếp ngủ. Khi nghe báo Chàng Rể đang tới, tất cả các cô chuẩn bị tiếp đón Chàng, nhưng trong khi các cô khôn ngoan có dầu để châm cho đèn, thì các cô khờ dại bị tắt đèn vì không có dầu; và trong khi họ tìm cách đến với Chàng Rể thì các trinh nữ khờ dại thấy cửa vào phòng tiệc cưới đã đóng. Họ kiên trì gõ cửa nhưng đã qúa muộn, Chàng Rể trả lời: Ta không biết các ngươi. Chàng Rể là Chúa, và thời gian chờ đợi Người tới là thời gian Chúa cho chúng ta, cho tất cả chúng ta, với sự thương xót và lòng kiên nhẫn, trước ngày Chúa đến lần sau hết; đó là một thời gian tỉnh thức, thời gian trong đó chúng ta phải giữ cho đèn của đức tin, đức cậy và đức mến được cháy sáng, trong đó chúng ta phải giữ cho con tim rộng mở cho sự thiện, cho vẻ đẹp và cho tình bác ái; đó là thời gian sống theo Thiên Chúa, bởi vì chúng ta không biết ngày giờ cuộc trở lại của Chúa Kitô. Đức Thánh Cha giải thích giáo huấn của dụ ngôn như sau:
Điều đòi hỏi chúng ta là chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ này, được chuẩn bị cho một cuộc gặp gỡ đẹp, cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu; nó có nghĩa là biết trông thấy các dấu chỉ sự hiện diện của Chúa, giữ cho đức tin của chúng ta được sống động, với lời cầu nguyện, với các Bí tích, tỉnh thức để đừng ngủ, để đừng quên Chúa. Cuộc sống của các kitô hữu ngủ là một cuộc sống buồn sầu, không phải là một cuộc sống hạnh phúc. Kitô hữu phải là người hạnh phúc, với niềm vui của Chúa Giêsu. Chúng ta đừng ngủ!
Dụ ngôn thứ hai là dụ ngôn các nén bạc, khiến chúng ta suy tư về tương quan giữa việc chúng ta dùng các ơn nhận được từ Thiên Chúa như thế nào và việc trở lại của Người, trong đó Người sẽ hỏi chúng ta đã dùng các ơn ấy ra sao (x. Mt 25,14-30). Chúng ta biết rõ dụ ngôn: trước khi đi xa, ông chủ trao cho mỗi đầy tớ vài nén bạc, để chúng được sử dụng trong lúc ông vắng nhà. Ông giao cho người thứ nhất năm nén, người thứ hai hai nén và ngươi thứ ba một nén. Trong thời gian ông đi vắng hai người dầu tiên làm cho các nén bạc sinh lợi, trong khi người thứ ba thích chôn nén bạc của mình và trả lại nguyên vẹn cho chủ. Khi chủ về ông xét xử công việc của họ: ông khen ngợi hai người đầu, trong khi người thứ ba bị đuổi ra ngoài trong tối tăm vì anh ta đã dấu nén bạc vì sợ hãi, và khép kín trong chính mình. Một kitô hữu khép kín trong chính mình, chôn dấu tất cả nhữmg gì Chúa đã ban cho không là một kitô hữu. Đó là một kitô hữu không cám ơn Chúa về tất cả những gì Chúa đã ban cho họ. Đức Thánh Cha giải thích giáo huấn của dụ ngôn như sau:
Điều này nói với chúng ta rằng sự chờ đợi Chúa trở lại là thời gian của hành động - chúng ta đang sống trong thời gian hành động - thời gian, trong đó sinh hoa trái các ơn Chúa ban cho chúng ta, không phải cho chính chúng ta, nhưng là cho Chúa, cho Giáo Hội, cho những người khác, là thời gian trong đó luôn tìm cách gia tăng sự thiện trong thế giới. Và một cách đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng ngày nay, điều quan trọng là không khép kín trong chính mình, bằng cách chôn dấu nén bạc, các phong phú tinh thần, trí tuệ, vật chất của mình, tất cả những gì mà Chúa đã ban cho chúng ta, nhưng phải mở ra, liên đới, chú ý tới người khác. Trong quảng trưởng tôi trông thấy nhiều người trẻ, có đúng thế không? Có nhiều người trẻ phải không? Người trẻ ở đâu rồi? Với các con là những người còn đang ở lúc khởi đầu của con đường cuộc sống cha xin hỏi: Các con đã nghĩ tới các nén bạc Thiên Chúa đã ban cho các con chưa? Các con đã nghĩ có thể dùng chúng để phục vụ tha nhân chưa? Đừng chôn dấu các nẻn bạc! Hãy đánh cá chúng trên các lý tưởng lớn, các lý tưởng rộng mở con tim, các lý tưởng phụng sự khiến cho các nén bạc của các con phong phú. Cuộc sống không được ban cho để chúng ta khư khư giữ nó cho chính mình, mà được ban để chúng ta cho đi. Các người trẻ thân mến, hãy có một tâm hồn cao thượng! Đừng sợ hãi mơ tưởng các điều vĩ đại!
Sau cùng là một lời liên quan tới sự phán xét sau hết, trong đó được miêu tả lần đến thứ hai của Chúa, khi Người sẽ phán xét tất cả mọi người kẻ sống và người chết (x. Mt 25,31-46). Hình ảnh được thánh sử dùng là hình ảnh của người mục tử tách chiên khỏi dê. Bên phải được đặt những người đã hành động theo ý muốn của Thiên Chúa, cứu giúp tha nhân đói khát, khách lạ, trần truồng, yếu đau, bị cầm tù - tôi đã nói ”khách lạ”: tôi nghĩ tới tất cả các người nước ngoài ở trong giáo phận Roma này, chúng ta phải làm gì cho họ? - trong khi đi về bên trái là những kẻ đã không cứu giúp tha nhân. Đức Thánh Cha giải thích ý nghĩa sự phân cách này như sau:
Điều này nói với chúng ta rằng chúng ta sẽ bị Thiên Chúa phán xử theo tình bác ái, theo cách chúng ta sẽ yêu thương các anh chị em của chúng ta, đặc biệt là những người yếu đuối và cần được giúp đỡ. Chắc chắn chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng chúng ta được biện minh, chúng ta được cứu rỗi nhờ ơn thánh, vì một hành động của tình yêu thương nhưng không của Thiên Chúa, là Đấng luôn luôn đi trước chúng ta; một mình chúng ta không thể làm được gì. Đức tin trước hết là một ơn mà chúng ta đã nhận được. Nhưng để mang hoa trái ơn thánh Chúa luôn luôn đòi hỏi chúng ta rộng mở cho Người, câu trả lời tự do và cụ thể của chúng ta. Chúa Kitô đến để đem lại cho chúng ta lòng thương xót của Thiên Chúa là Đấng cứu thoát. Chúng ta được yêu cầu tín thác nơi Người, đáp trả lại ơn tình yêu của Người với một cuộc sống tốt lành, gồm các hành động được linh hoạt bởi đức tin và tình yêu thương.
Rồi Đức Thánh Cha kết luận bài huấn dụ như sau: Anh chị em thân mến nhìn vào sự phán xét sau hết không bao giờ làm chúng ta sợ hãi; đúng hơn nó thúc đẩy chúng ta sống hiện tại tốt lành hơn. Thiên Chúa cống hiến cho chúng ta thời gian này với lòng thương xót và sự kiên nhẫn, để chúng ta học nhận biết Người mỗi ngày nơi các anh chị em nghèo túng và bé nhỏ, để chúng ta làm việc thiện và tỉnh thức trong lời cầu nguyện và trong tình yêu thương. Ước chi vào cuối cuộc đời mình và khi lịch sử kết thúc Chúa có thể thừa nhận chúng ta như các đầy tớ tốt lành và trung tín của Người.
Đức Thánh Cha đã đặc biệt chào người trẻ và khuyến khích họ tận dụng mọi khả năng và tài khéo Chúa ban để xây dựng Nước Chúa, Giáo Hội rất cần đến họ. Sau cùng ngài cất Kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.
Linh Tiến Khải
Chúa Kitô phục sinh luôn hướng dẫn nâng đỡ và bầu cử cho chúng ta
Chúng ta không bao giờ cô đơn vì Chúa Kitô tử nạn và phục sinh luôn ở với chúng ta. Người luôn hướng dẫn, nâng đỡ và bầu cử cho chúng ta trong mọi hoàn cảnh cuộc sống và giúp chúng ta đem quyền bính tình yêu của Người đến cho thế giới.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hơn 80.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi gặp gỡ chung sáng thứ tư 17-4-2013 tại quảng trường thánh Phêrô. Bên cạnh hàng trăm đoàn hành hương đến từ Bắc Mỹ và Âu châu, đặc biệt là từ nhiều giáo phận Italia có các Giám Mục Anh quốc và vùng Galles. Cũng có các nhóm hành hương Á châu đến từ Ấn Độ, Singapore, Sri Lanka và Philippines. Trong khi từ châu Mỹ Latinh có các đoàn hành hương Argentina, Panama, Venezuela và Mêhicô. Đến từ xa nhất là đoàn hành hương Australia.
Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã khai triển đề tài giáo lý lấy từ Kinh Tin Kính: Chúa Giêsu ”đã lên trời, ngự bên hữu Thiên Chúa Cha”. Dùng trình thuật của thánh sử Luca Đức Thánh Cha nói: Cuộc sống dương thế của Đức Giêsu đạt tột đỉnh với biến cố Lên Trời, nghĩa là khi Người từ trần gian này về với Thiên Chúa Cha và được nâng lên bên hữu Người. Phúc Âm thánh Luca kể như sau: ”Khi đã tới ngày Đức Giêsu được rước lên Trời, Người nhất quyết đi lên Giêrusalem” (Lc 9,51). Đức Thánh Cha giải thích:
Khi Người ”lên” Thành Thánh, nơi sẽ thành toàn cuộc ”xuất hành” của Người khỏi đời này, Chúa Giêsu đã trông thấy đích điểm là Trời, nhưng Người biết rõ là con đường đem Người trở về với vinh quang của Thiên Chúa Cha, đi qua Thập Giá, đi qua sự vâng phục chương trình tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Giáo Lý Giáo hội Công Giáo khẳng định rằng ”việc nâng cao lên trên thập giá có nghĩa và loan báo việc nâng cao của việc lên trời” (s. 661). Cả chúng ta nữa cũng phải biết rõ rằng trong cuộc sống kitô của mình việc bước vào trong vinh quang của Thiên Chúa đòi hỏi hy sinh, đôi khi đòi hỏi thay đổi các chương trình của chúng ta. Việc lên trời của Chúa Giêsu xảy ra một cách cụ thể trên Núi Cây Dầu, gần nơi Chúa đã rút lui vào để cầu nguyện trước cuộc khổ nạn, để sống trong sự kết hiệp xâu xa với Thiên Chúa Cha: một lần nữa chúng ta thấy rằng lời cầu nguyện ban cho chúng ta ơn thánh giúp sống trung thành với chương trình của Thiên Chúa.
Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: Vào cuối Phúc Âm thánh sử Luca kể lại biến cố Lên Trời một cách rất ngắn gọn. Chúa Giêsu dẫn các môn đệ ra ngoài về phía Bêtania và Người giơ tay chúc lành cho các ông. Trong khi chúc lành cho họ, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên Trời. Bấy giờ các ông bái lậy Người, rồi trở lại Giêrusalem lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” (Lc 24,50-53). Đức Thánh Cha ghi nhận hai yếu tố của trình thuật và nói:
Trước hết, trong khi lên Trời Chúa Giêsu thành toàn cử chỉ chúc lành của linh mục và chắc chắn các môn đệ diễn tả đức tin của mình với cử chỉ phủ phục, qùy gối và cúi đầu. Đây là một điểm quan trọng đầu tiên: Chúa Giêsu là Linh Mục duy nhất và đời đời với cuộc khổ nạn của mình đã đi qua cái chết và mồ chôn, đã phục sinh và lên Trời; Người ở bên Thiên Chúa Cha, nơi Người luôn mãi cầu bầu cho chúng ta (x. Dt 9,24). Như thánh Gioan khẳng định trong thư thứ I: Người là trạng sư của chúng ta. Thật là đẹp biết bao khi nghe điều này! Khi một người bị thẩm phán mời hay phải ra tòa, điều đầu tiân phải làm là tìm một trạng sư để bênh vực mình. Chúng ta có một trạng sư luôn luôn bênh vực chúng ta, Người bênh vực chúng ta khỏi các sách nhiễu của qủy dữ, Người bênh vực chúng ta khỏi chính chúng ta, khỏi các tội lỗi của chúng ta. Anh chị em rất thân mến, chúng ta có trạng sự đó: chúng ta đừng sợ hãi đến với Người và xin lỗi, xin phước lành, xin lòng thương xót! Người luôn luôn tha thứ cho chúng ta. Người là trạng sư của chúng ta: Người luôn luôn bênh vực chúng ta. Chúng ta đừng quên điều đó.
Như thế việc Chúa Giêsu lên Trời làm cho chúng ta biết thực tại trao ban an ủi đối với con đường đời ta: trong Chúa Kitô, là Thiên Chúa thật và là người thật, nhân loại đã được đem lên gần Thiên Chúa; Người đã mở lối cho chúng ta; Người giống như người dẫn đầu toán leo núi, đã lên tới đỉnh và kéo chúng ta lên, bằng cách dẫn đưa chúng ta tới với Thiên Chúa. Nếu chúng ta tín thác cuộc sống chúng ta cho Người, nếu chúng ta để cho Người hướng dẫn chúng ta thì đúng thật là chúng ta ở trong các bàn tay chắc chắn.
Có một yếu tố thứ hai: thánh sử Luca kể rằng các Tông Đồ, sau khi đã nhìn thấy Chúa Giêsu lên Trời, họ trở lại Giêrusalem ”với niềm vui lớn”. Điều này xem ra hơi lạ. Nói chung, khi chúng ta chia tay các người thân trong gia đình hay bạn hữu, để ra đi vĩnh viễn và nhất là vì cái chết, có sự buồn sầu tự nhiên, bởi vì chúng ta sẽ không trông thấy mặt họ nữa, chúng ta sẽ không lắng nghe được tiếng của họ nữa, chúng ta sẽ không còn có thể hưởng nếm sự trìu mến và sự hiện diện của họ nữa. Trái lại thánh sử nêu bật niềm vui sâu xa của các Tông Đồ. Tại sao vây? Chính bởi vì với cái nhìn của đức tin các vị hiểu rằng, cho dù khuất mắt họ, Chúa Giêsu vẫn luôn luôn ở với họ, Người không bỏ họ và trong vinh quang của Thiên Chúa Cha, Người nâng đỡ, hướng dẫn và bầu cử cho họ.
Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: Ở đầu sách Công Vụ các Tông Đồ, thánh sử Luca cũng kể lại việc lên Trời để nhấn mạnh rằng biến cố này giống như vòng xích nối liền cuộc sống dương thế của Chúa Giêsu với cuộc sống của Giáo Hội. Ở đây thánh Luca cũng nêu bật áng mây che phủ Chúa Giêsu khỏi cái nhìn của các môn đệ, còn đứng đó để chiêm ngưỡng Chúa Kitô lên trời về với Thiên Chúa Cha (x. Cv 1,9-10), Khi đó có hai người mặc áo trắng can thiệp mời các vị đừng ở yên bất động nhìn trời, nhưng hãy dưỡng nuôi cuộc sống mình và làm chứng cho sự chắc chắn rằng Chúa Giêsu sẽ trở lại trong cùng một cách thức mà các ông đã thấy Người lên trời (x. Cv 1,10-11). Đức Thánh Cha giải thích lời các thiên thần mời đoàn môn đệ như sau:
Đó là lời mời gọi ra đi từ việc chiêm ngưỡng quyền là Chúa của Đức Giêsu, để có từ Người sức mạnh đem Tin Mừng và làm chứng cho Tin Mừng vào trong cuộc sống thường ngày: chiêm ngắm và hành động, cầu nguyện và làm việc, như thánh Biển Đức dậy, cả hai việc đều cần thiết cho cuộc sống kitô của chúng ta.
Anh chị em thân mến, biến cố lên Trời không ám chỉ sự vắng mặt của Chúa Giêsu, mà nói với chúng ta rằng Người sống giữa chúng ta một cách mới mẻ; Người không còn ở trong một chỗ chính xác của thế giới như trước khi lên trời nữa. Giờ đây Người ở trong quyền là Chúa của Thiên Chúa, hiên diện trong mọi nơi mọi lúc, gần gũi từng người trong chúng ta. Trong cuộc sống chúng ta không bao giờ cô đơn: có Chúa chịu đóng đanh và phục sinh hướng dẫn chúng ta. Và với chúng ta có biết bao nhiêu anh chị em hằng ngày trong thinh lặng và kín ẩn, trong cuộc sống gia đình và làm việc, trong các vấn đề và các khó khăn của họ, trong những nỗi vui buồn và hy vọng của họ, họ sống đức tin mỗi ngày và cùng với chúng ta đem quyền là Chúa của tình yêu Thiên Chúa đến cho thế giới.
Đức Thánh Cha đã chào các đoàn hành hương hiện diện và chúc mọi người có những ngày viếng thăm Roma tươi vui và bổ ích. Với đông đảo các bạn trẻ ngài xin Chúa phục sinh đổ tràn đầy tình yêu của Người trong trái tim họ để họ sẵn sàng hăng say theo Chúa. Đức Thánh Cha xin Chúa nâng đỡ các anh chị em đau yếu để họ chấp nhận gánh nặng của khổ đau với tâm hồn thanh thản. Ngài xin Chúa hướng dẫn các cặp vợ chồng mới cưới để gia đình họ lớn lên trong sự thánh thiện bằng cách noi gương sống của Thánh Gia.
Sau cùng Đức Thánh Cha đã cất Kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.
Sau đó Đức Thánh Cha đã đứng chào các Giám Mục và một số quan khách. Rồi ngài đi sang hai bên để bắt tay chào, nói chuyện và lắng nghe các tín hữu, cũng như hôn và thoa đầu các trẻ em, trong khi các bạn trẻ thì không ngừng gọi tên Đức Thánh Cha. Cũng có người tặng Đức Thánh Cha chiếc áo của đội bóng đâ Argentina.
Khi xe díp chở ngài xuống khỏi thềm đền thờ thánh Phêrô, Đức Thánh Cha bảo tài xế dừng xe để ngài xuống bắt tay chào các người tàn tật ngồi trên các xe lăn. Ngài hỏi thăm, an ủi và chúc lành cho họ. Có một em bé mù ban đầu không chịu để cho Đức Thánh Cha hôn nhưng sau đó quàng tay ôm cổ Đức Thánh Cha và không muốn rời ngài nữa. Ngài cũng đã ôm hôn nhiều người tàn tật khiến cho giới trẻ lại càng gọi tên Đức Thánh Cha to hơn.
Linh Tiến Khải
Hãy liên tục vun trồng các tương quan với Thiên Chúa là Cha và sống xứng đáng là con của Người
April 24, 2013
Tương quan với Thiên Chúa là Cha không phải là một kho tàng mà chúng ta giữ gìn trong một góc cuộc sống, mà phải lớn lên, phải được nuôi dưỡng mỗi ngày với việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện, lãnh nhận các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Sám hối và Bí tích Thánh Thể, và sống tình bác ái. Chúng ta có thể sống như là con. Đó là phẩm giá của chúng ta. Hãy có cung cách hành xử như là các người con đích thật của Thiên Chúa.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với 70.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu trong buổi tiếp kiến sáng thứ tư 10-4-2013 tại quảng trường thánh Phêrô. Ngoài các đoàn hành hương đến từ các nước Bắc Mỹ và Âu châu có các đoàn hành hương đến từ Á châu như Philippines, Nam Hàn và Thái Lan. Hai đoàn hành hương đến từ xa nhất là đoàn hành hương của tổng giáo phận Buenos Aires Argentina và Australia.
Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã trình bầy bài giáo lý về tầm quan trọng của sự Phục Sinh đối với cuộc sống Kitô. Nếu không có sự phục sinh đức tin Kitô sẽ trờ thành vô ích. Đức Thánh Cha giải thích lý do như sau:
Đức tin của chúng ta dựa trên Cái Chết và sự Phục Sinh của Chúa Kitô, y như một ngôi nhà dựa trên các nền tảng của nó: nếu các nền tảng này sụp đổ, thì ngôi nhà cũng sập. Trên thập giá Chúa Giêsu đã hiến dâng chính mình bằng cách mang trên mình các tội lỗi của chúng ta và xuống trong vực sâu của cái chết, và trong sự Phục Sinh Người chiến thắng và lấy đi các tội lỗi và mở ra cho chúng ta con đường tái sinh vào một cuộc sống mới. Thánh Phêrô diễn tả điều này một cách tổng hợp trong phần đầu thư thứ I của người như chúng ta đã nghe: ”Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Do lượng hải hà, Người cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giêsu Kitô đã từ cõi chết sống lại, để được hưởng gia tài không thể hư hoại, không thể vẩn đục và tàn phai” (1 Pr 1,3-4).
Thánh Tông Đồ nói với chúng ta rằng với sự Phục Sinh của Chúa Giêsu xảy ra một điều gì đó triệt để mới mẻ: đó là chúng ta được giải thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi và trở thành con cái của Thiên Chúa, nghĩa là chúng ta được sinh vào một cuộc sống mới. Khi nào thì điều này được thực hiện cho chúng ta? Trong Bí tích Rửa Tội. Xưa kia, người ta lãnh nhận bí tích Rửa Tội bằng cách dìm mình trong nước. Người phải được rửa tội cởi bỏ y phục, bước xuống trong cái bồn lớn của Bí tích Rửa Tội, và vị Giám Mục hay Linh Mục đổ nước trên đầu họ ba lần, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Rồi người đã được rửa tội bước ra khỏi bồn và mặc y phục mới mầu trắng: nghĩa là họ đã được sinh vào một cuộc sống mới, bằng cách dìm mình trong Cái Chết và sự Sống Lại của Chúa. Họ đã trở thành con cái Chúa.
Trong thư gửi tín hữu Roma thánh Phaolô viết: ”Anh em đã lãnh nhận Thần Khí làm cho anh em trở thành nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên ”Abba, Cha ơi” (Rm 8,15). Thần Khí thực hiện nơi chúng ta điều kiện mới này là con Thiên Chúa. Và đây là ơn lớn nhất mà chúng ta nhận được từ Mầu Nhiệm Phục Sinh của Chúa Giêsu. Và Thiên Chúa đối xử với chúng ta như là con, Người hiểu biết chúng ta, tha thứ cho chúng ta, ôm ấp chúng ta, yêu thương chúng ta, cả khi chúng ta lầm lỗi. Trong Thánh Kinh Cựu Ước ngôn sứ Isaia đã khẳng định rằng cả khi một bà mẹ có quên con mình đi nữa, thì Thiên Chúa cũng không bao giờ và không khi nào quên chúng ta” (x. Is 49,15). Đức Thánh Cha giải thích thêm về sự cần thiết phải phát triển cuộc sống mới là con Thiên Chúa của tín hữu như sau:
Tuy nhiên, tương quan là con với Thiên Chúa này không phải như là một kho tàng mà chúng ta giữ gìn trong một góc cuộc sống, mà phải lớn lên, phải được nuôi dưỡng mỗi ngày với việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện, tham dự vào các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Sám hối và Bí tích Thánh Thể, và sống tình bác ái. Chúng ta có thể sống như là con. Và đó là phẩm giá của chúng ta. Chúng ta hãy có cung cách hành xử như là các người con đích thật. Điều này có nghĩa là mỗi ngày chúng ta phải để cho Chúa Kitô biến đổi chúng ta và làm cho chúng ta trở nên giống như Người; nó có nghĩa là tìm sống như Kitô hữu, tìm cách theo Chúa, cả khi chúng ta trông thấy các hạn hẹp và các yếu đuối của chúng ta đi nữa. Cám dỗ bỏ Thiên Chúa ra một bên và để chính chúng ta vào trung tâm luôn luôn ở trước cửa, và kinh nghiệm về tội lỗi gây thương tích cho cuộc sống Kitô, cho sự kiện là con Thiên Chúa của chúng ta. Vì thế chúng ta phải có can đảm sống đức tin, không để bị hướng dẫn bởi tâm thức nói với chúng ta rằng ”Thiên Chúa không cần thiết, không quan trọng đối với ngươi”. Trái lại: chỉ khi có cung cách hành xử như con cái Thiên Chúa, không ngã lòng vì các sa ngã của chúng ta, khi cảm thấy mình được Thiên Chúa yêu thương, cuộc sống của chúng ta sẽ mởi mẻ, được linh hoạt bởi sự thanh thản và tươi vui. Thiên Chúa là sức mạnh của chúng ta! Thiên Chúa là niềm hy vọng của chúng ta!
Anh chị em thân mến, chúng ta phải là những người đầu tiên có niềm hy vọng chắc chắn này, và phải là một dấu chỉ hữu hình, rõ ràng, sáng láng của niềm hy vọng đó. Chúa Phục Sinh là niềm hy vọng không suy giảm, không gây thất vọng (x. Rm 5,5). Biết bao nhiêu lần trong cuộc sống chúng ta các niềm hy vọng đã tan biến, biết bao nhiêu lần các chờ mong mà chúng ta mang trong con tim đã không được thực hiện! Niềm hy vọng của Kitô hữu chúng ta mạnh mẽ, chắc chắn, vững vàng trên trần gian này, nơi Thiên Chúa đã mời gọi chúng ta tiến bước, và được mở ra cho sự vĩnh cửu, bởi vì được xây dựng trên Thiên Chúa, là Đấng luôn trung tín. Sống lại với Chúa Kitô qua Bí tích Rửa Tội, với ơn đức tin, cho một gia tài không hư nát, đem chúng ta tới chỗ tìm các điều của Thiên Chúa nhiều hơn, nghĩ tới Người nhiều hơn và cầu nguyện với Người nhiều hơn.
Là tín hữu Kitô không giản lược vào việc tuân giữ các điều răn, nhưng muốn nói rằng ở trong Chúa Kitô, suy nghĩ như Người, hành động như Người, yêu thương như Người; để cho Người chiếm hữu đời ta và thay đổi nó, biến đổi nó, giải thoát nó khỏi các tối tăm của sự dữ và tội lỗi.
Anh chị em thân mến, với người hỏi chúng ta về lý do niềm hy vọng trong chúng ta chúng ta hãy chỉ Chúa Kitô Phục Sinh cho họ, chúng ta hãy chỉ Người cho họ bằng việc loan báo Lời Chúa, và nhất là bằng cuộc sống phục sinh của chúng ta. Chúng ta hãy cho thấy niềm vui là con Thiên Chúa, sự tự do sống trong Chúa Kitô mà Người ban cho chúng ta, là sự tự do thật, tự do khỏi sự nô lệ sự dữ, tội lỗi và cái chết. Chúng ta hãy nhìn lền Quê hương trên trời, chúng ta sẽ có được một ánh sáng và sức mạnh mới cả trong dấn thân và các lao nhọc hằng ngày. Đó là một phục vụ qúy báu mà chúng ta phải trao ban cho thế giới này, thường không còn thành công trong viêc hướng cái nhìn lên cao, hướng cái nhìn về Thiên Chúa nữa.
Chào các đoàn hành hương khác nhau Đức Thánh Cha đã cầu chúc mọi người có những ngày viếng thăm Roma tươi vui bổ ích. Chào đông đảo các bạn trẻ hiện diện tại quảng trường Đức Thánh Cha nhắc lại rằng Giáo Hội mới mừng lễ Truyền Tin cho Đức Maria. Ngài xin Đức Mẹ linh hứng cho họ để họ luôn biết lắng nghe và thực hành ý Chúa. Đức Thánh Cha xin Mẹ sưởi ấm con tim của các anh chị em đau yếu trong việc dâng hiến khổ đau của họ để cầu nguyện cho thiện ích của Giáo Hội. Ngài khích lệ các cặp vơ chồng mới cưới biết nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa và tình yêu của Người trong cuộc sống gia đình.
Sau cùng Đức Thánh Cha đã cất Kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.
Sau khi ban phép lành Đức Thánh Cha đã đứng lâu chào các Giám Mục và một số quan khách. Tiếp đến ngài đã đến chào các tín hữu đứng hai bên trên thềm đền thờ thánh Phêrô. Đức Thánh Cha bắt tay từng người một, nói chuyện và lắng nghe họ. Ngài vuốt ve và hôn các trẻ em. Có một em bé tặng Đức Thánh Cha các hình em đã vẽ trên một mảnh giấy. Một bà mẹ xin ngài chúc lành cho bà và bào thai bà đang mang trong bụng. Đức Thánh Cha đã ban phép lành và đặt tay chúc lành cho thai nhi. Một Linh Mục xin Đức Thánh Cha làm phép một triều thiên mạ vàng để dâng kính Đức Mẹ, nhiều người đã xin Đức Thánh Cha chúc lành cho các chuỗi ảnh họ đem theo. Đức Thánh Cha cũng đã làm phép một tượng Đức Mẹ lớn đặt trên kiệu.
Trong khi đi vào nội thành Vaticăng, Đức Thánh Cha đã bảo dừng xe díp lại để ngài xuống chào và ban phép lành cho các bệnh nhân ngồi trên xe lăn, Ngài đã hôn các trẻ em tàn tật và bắt tay thân nhân của họ đứng đàng sau.
Linh Tiến Khải
April 24, 2013
Chúa Kitô phục sinh giúp can đảm và dấn thân sống các thực tại thường ngày
Sự Phục Sinh của Chúa Kitô soi sáng cuộc đời, giúp chúng ta tin tưởng sống các thực tại thường ngày và can đảm dấn thân đương đầu với chúng.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hơn 70.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 3-4-2013 tại quảng trường thánh Phêrô. Trong số hàng trăm phái đoàn tham dự có nhóm 13 tân Phó Tế của dòng Tên và thân nhân, trong đó có hai thầy Việt Nam là thầy Cao Gia An và thầy Nguyễn Mai Kha, đã được Đức Hồng Y Gianfranco Ravasi Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh văn hóa truyền chức chiều thứ ba mùng 2-4-2013 tại nhà thờ Chúa Giêsu ở Roma. Ngoài ra còn có một nhóm tín hữu Việt Nam đến từ Hoa Kỳ.
Trong khi chờ đợi Đức Thánh Cha các bạn trẻ đã thay phiên nhau ca hát. Xe díp chở Đức Thánh Cha đã đi một vòng giữa các lối đi quanh quảng trường để ngài chào tín hữu.
Mở đầu bài huấn dụ Đức Thánh Cha Phanxicô nói ngài tiếp tục trình bầy các bài giáo lý về Năm Đức Tin. Trong Kinh Tin Kính chúng ta lập lại kiểu nói: ”Ngày thứ ba Người đã sống lại theo lời Thánh Kinh”. Đó là biến cố chúng ta đang cử hành: Sự Sống Lại của Chúa Giêsu là trung tâm sứ điệp Kitô ngay từ đầu đã vang lên và được thông truyền để đến được với chúng ta.
Thánh Phaolô viết cho các tín hữu Côrintô như sau: ”Trước hết tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Thánh Kinh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, như lời Thánh Kinh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai” (1 Cr 15,3-5). Lời tuyên xưng đức tin ngắn gọn này loan báo Mầu Nhiệm Phục Sinh, với các lần hiện ra đầu tiên của Chúa Phục Sinh với thánh Phêrô và với Nhóm Mười Hai: Cái Chết và sự Sống Lại của Chúa Giêsu là trung tâm niềm hy vọng của chúng ta. Không có niềm tin này nơi cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu niềm hy vọng của chúng ta sẽ yếu ớt, và cũng sẽ không phải là niềm hy vọng nữa, và chính cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là trung tâm niềm hy vọng của chúng ta. Thánh Tông Đồ khẳng định: ”Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em” (c. 17). Đức Thánh Cha ghi nhận tình trạng đức tin hiện nay như sau:
Rất tiếc là thường khi người ta đã tìm làm lu mờ đi niềm tin nơi sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, và các nghi ngờ cũng len lỏi vào giữa cả các tín hữu nữa. Một chút niềm tin đó là ”tin vào nước hoa hồng”, như người ta thường nói: nó không phải là niềm tin mạnh mẽ. Và điều này xảy ra vì sự hời hợt bề ngoài, đôi khi vì sự thờ ơ, người ta lo lắng cho hàng ngàn chuyện được coi là quan trọng hơn đức tin, hay vì một quan điểm chỉ ở chiều ngang của cuộc sống. Nhưng chính sự Phục Sinh mở ra niềm hy vọng lớn hơn cho chúng ta, bởi vì nó mở ra cho cuộc sống chúng ta và cuộc sống của thế giới tương lai vĩnh cửu của Thiên Chúa, niềm hạnh phúc tràn đầy, sự chắc chắn rằng sự dữ, tội lỗi, cái chết có thể được vượt thắng. Và điều này đưa chúng ta tới chỗ tin tưởng sống các thực tại thường ngày hơn, đương đầu với chúng với lòng can đảm và dấn thân. Sự Phục Sinh của Chúa Kitô soi sáng các thực tại thường ngày ấy với một ánh sáng mới mẻ. Sự Phục Sinh của Chúa Kitô là sức mạnh của chúng ta!
Nhưng sự thật đức tin về sự Phục Sinh của Chúa Kitô đã được thông truyền cho chúng ta như thế nào? Có hai loại chứng tá trong Thánh Kinh Tân Ước: vài chứng tá là trong hình thức của lời tuyên xưng đức tin, nghĩa là các công thức tổng hợp chỉ cho thấy trung tâm của đức tin; các công thức khác trái lại trong hình thức trình thuật biến cố Phục Sinh và các sự kiện gắn liền với nó. Hình thức thứ nhất là hình thức tuyên xưng đức tin, chẳng hạn như lời tuyên xưng mà chúng ta vừa mới nghe, hay hình thức của Thư gửi tín hữu Roma, trong đó thánh Phaolô viết: ”Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10,9). Ngay từ những bước đầu tiên của Giáo Hội niềm tin nơi Mầu Nhiệm cái Chết và sự Phục sinh của Đức Giêsu đã vững vàng và rõ ràng. Tuy nhiên, hôm nay tôi muốn dừng lại trên các chứng tá trong hình thái thứ hai là hình thái trình thuật mà chúng ta tìm thấy trong Tin Mừng. Trước hết chúng ta ghi nhận rằng các chứng nhân đầu tiên của biến cố này là các phụ nữ. Vào tảng sáng, họ ra mồ để ướp xác Chúa Giêsu, và họ tìm thấy dấu chỉ đầu tiên: đó là ngôi mộ trống (X. Mt Mc 16,1). Tiếp theo đó là cuộc gặp gỡ với một sứ giả của Thiên Chúa báo cho biết rằng Đức Giêsu thành Nagiarét, Đấng bị đóng đanh, không ở đây, Người đã sống lại (cc. 5-6). Rồi Đức Thánh Cha đã đề cao các phụ nữ như sau:
Các phụ nữ đã được thúc đẩy bởi tình yêu thương và họ biết tiếp nhận lời báo đó với đức tin: họ tin và ngay tức khắc họ thông truyền nó, chứ không giữ nó cho riêng mình. Niềm vui được biết rằng Chúa Giêsu sống, niềm hy vọng tràn ngập con tim không thể kìm hãn được. Điều này cũng phải xảy ra trong cuộc sống chúng ta. Chúng ta cảm thấy niềm vui là Kitô hữu! Chúng ta tin nơi một Đấng Phục Sinh đã chiến thắng sự dữ và cái chết! Chúng ta có can đảm ”đi ra” để đem niềm vui và ánh sáng này vào mọi nơi của cuộc sống thường ngày! Sự Phục Sinh của Chúa Kitô là sự chắc chắn lớn nhất của chúng ta; và nó là kho tàng qúy báu nhất! Làm sao lại không chia sẻ với các người khác kho tàng đó, sự chắc chắn đó? Nó không phải chỉ để cho chúng ta mà thôi, mà là để thông truyền nó, trao ban nó cho người khác, chia sẻ với người khác. Đó chính là chứng tá của chúng ta.
Có một yếu tố khác nữa. Trong các lời tuyên xưng đức tin của Tân Ước chỉ có các người nam, các Tông Đồ, chứ không phải các phụ nữ được nhớ tới như các chứng nhân của sự Phục Sinh. Điều này bởi vì theo Luật do thái thời đó, các phụ nữ và trẻ em không thể làm chứng tá một cách đáng tin cậy. Trái lại trong các Phúc Âm phụ nữ có một vai trò hàng đầu nền tảng. Ở đây chúng ta có thể tiếp nhận một yếu tố thuận lợi cho tính cách lịch sử của sự Phục Sinh: nếu nó đã là một sự kiện được bịa ra, trong bối cảnh của thời đó, thì nó sẽ không được gắn liền với chứng tá của các phụ nữ. Đức Thánh Cha giải thích thêm điểm này như sau:
Trái lại, các thánh sử kể lại một cách đơn sơ điều đã xảy ra: các phụ nữ là các chứng nhân đầu tiên. Điều này nói muốn rằng Thiên Chúa không lựa chọn theo các tiêu chuẩn của con người: các chứng nhân đầu tiên của biến cố Chúa Giêsu sinh ra là các mục đồng, những người đơn sơ khiêm hạ; các chứng nhân đầu tiên của sự Phục Sinh là các phụ nữ. Và điều này thật là đẹp. Và đây một chút là sứ mệnh của phụ nữ: của các bà mẹ, của đàn bà! Làm chứng cho con cái cháu chắt biết rằng Chúa Giêsu sống, là Đấng đang sống, đã phục sinh. Hỡi các bà mẹ và chị em phụ nữ, hãy tiến lên với chứng tá đó!
Đối với Thiên Chúa chỉ có con tim là đáng kể, khi chúng ta rộng mở cho Người, nếu chúng ta giống như trẻ em, chúng tin tưởng. Nhưng điều này cũng khiến cho chúng ta suy nghĩ về sự kiện trong Giáo Hội và trên con đường lòng tin, nữ giới đã và đang có một vai trò đặc biệt như thế nào trong việc rộng mở các cánh cửa cho Chúa, trong việc theo Người và thông truyền Gương mặt của Người, bởi vì cái nhìn của đức tin luôn luôn cần đến cái nhìn đơn sơ và sâu xa của tình yêu. Các Tông Đồ và các môn đệ vất vả hơn để tin. Các phụ nữ thì không. Thánh Phêrô chạy tới mồ, nhưng dừng lại ở ngôi mộ trống; còn Tôma phải sờ tay vào các vết thương của thân thể Chúa Giêsu. Cả trong con đường lòng tin của chúng ta thật là quan trọng biết và cảm thấy rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, không sợ hãi yêu thương Chúa: đức tin được tuyên xưng với môi miệng và con tim, với các lời nói và với tình yêu.
Sau các cuộc hiện ra với các phụ nữ Chúa Giêsu hiện diện một cách mới mẻ: đó là Đấng chịu đóng đanh, nhưng thân xác Người vinh hiện; Người không trở lại với cuộc sống trần gian nữa, nhưng trong một điều kiện mới mẻ. Ban đầu họ không nhận ra Người, và chỉ qua các lời và các cử chỉ của Người mắt họ mới mở ra: cuộc gặp gỡ với Chúa Phục Sinh biến đổi, trao ban một sức mạnh mới cho đức tin, một nền tảng không thể sụp đổ. Đối với chúng ta cũng thế, có biết bao nhiêu dấu chỉ qua đó Chúa Phục sinh tỏ hiện ra: Thánh Kinh, bí tích Thánh Thể và các Bí tích, lòng bác ái, các cử chỉ của tình yêu đem đến một tia sáng của Chúa Phục Sinh. Chúng ta hãy để cho mình được chiếu sáng bởi sự Phục Sinh của Chúa Kitô, chúng ta hãy để cho mình được biến đổi bởi sức mạnh của Người, để qua chúng ta trong thế giới các dấu chỉ của chết chóc nhường chỗ cho các dấu chỉ của sự sống. Tôi thấy có biết bao nhiêu bạn trẻ tại quảng trường. Họ đây: với họ tôi xin nói: Các con hãy mang theo sự chắc chắn này: đó là Chúa sống và bước đi bên cạnh chúng ta trong đời. Đó là sứ mệnh của chúng ta! Hãy đưa niềm hy vọng đó tiến lên. Hãy cắm neo vào niềm hy vọng ấy: cái neo này ở trên trời: hãy cầm chắc lấy dây neo, hãy cắm neo và đưa niềm hy vọng tiến lên. Các con là chứng nhân của Chúa Giêsu, hãy làm chứng rằng Người sống và điều này sẽ trao ban hy vọng cho chúng ta, sẽ trao ban hy vọng cho thế giới hơi già nua này vì chiến tranh, vì sự dữ vì tội lỗi. Các bạn trẻ ơi hãy tiến lên!
Đức Thánh Cha đã chào các nhóm tín hữu bằng tiếng Ý. Ngài đặc biệt cám ơn các bạn trẻ Libăng đã soạn các bài suy niệm cho buổi đi đàng Thánh Giá tối thứ sáu Tuần Thánh và cám ơn các ca đoàn tiếng Anh đã hát mừng ngài. Sau cùng Đức Thánh Cha đã cất kinh Lậy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.
Linh Tiến Khải.