Nhà nguyện Marta
Tài sản của Giáo hội hệ tại nơi người nghèo, chứ không phải nơi của cải vật chất
VATICAN. Giáo hội khiêm tốn, khó nghèo và luôn tín thác vào Thiên Chúa. Đây là điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã đề cập đến trong bài giảng thánh lễ sáng thứ ba, ngày 15.12, tại nhà nguyện thánh Marta. Đức Thánh Cha nói rằng sự nghèo khó là mối phúc đầu tiên trong Bát Phúc. Tài sản đích thực của Giáo hội chính là người nghèo, chứ không phải tiền bạc hay quyền lực thế gian.
“Bài đọc một trích sách Xô-phô-ni-a cho thấy hệ quả của một dân tộc đã trở thành phản loạn và ô uế vì không nghe lời Thiên Chúa. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu đã mạnh mẽ lên án các thượng tế và cảnh cáo rằng những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước họ. Từ đó, Đức Thánh Cha nói rằng ngay cả ngày hôm nay cám dỗ cũng có thể làm lũng đoạn những chứng nhân của Giáo hội.
Giáo hội thực sự trung tín với Thiên Chúa khi Giáo hội khiêm nhường, khó nghèo và tín thác. Một Giáo hội khiêm nhường không bao giờ phô trương quyền lực hay tỏ ra mình lớn mạnh. Khiêm nhường cũng không có nghĩa là một người yếu đuối, nhu nhược, uể oải với cặp mắt trắng dã thiếu sức sống. Khiêm nhường không phải là màn kịch diễn trên sân khấu, cũng không phải là giả vờ khiêm nhường hay xem có vẻ khiêm nhường. Người khiêm nhường thực sự là người nhận ra mình tội lỗi. Nếu tôi không có khả năng để nói với chính mình mình: tôi là kẻ có tội và người khác tài giỏi hơn tôi, thì tôi thật sự không khiêm nhường. Như vậy đặc nét đầu tiên của một Giáo hội khiêm nhường là tự nhận thấy mình là tội nhận, và đó cũng là đặc nét đầu tiên của mỗi người chúng ta. Nếu người nào trong chúng ta có thói quen hay săm soi lỗi lầm của người khác và bàn tán về điều đó, người ấy chẳng hề khiêm nhường. Trái lại, người ấy tin rằng mình là thẩm phán có quyền xét xử người khác. Chúng ta phải liên lỉ cầu nguyện để Giáo hội luôn khiêm nhường, bản thân tôi được khiêm nhường và mỗi người chúng ta được khiêm nhường.
Đặc nét thứ hai là khó nghèo. Khó nghèo là mối phúc tiên hết trong Bát Phúc. Tinh thần nghèo khó có nghĩa là chỉ gắn bó với sự giàu có của Thiên Chúa mà thôi. Như thế, không hề có một Giáo hội gắn bó với tiền bạc, suy nghĩ về tiền bạc hay tìm cách để kiếm tiền. Như tôi được biết trong một nhà thờ của giáo phận, để bước qua Cửa Thánh, người ta vô tư nói với giáo dân là phải bỏ tiền dâng cúng rồi mới bước qua. Đó không phải là Giáo hội của Đức Giêsu, nhưng là giáo hội của các linh mục, thượng tế đam mê tiền bạc, của cải.
Vị phó tế tử đạo Lorenzo là một chứng nhân anh hùng trong những thế kỷ đầu của Giáo hội. Khi nhà vua ra lệnh cho ngài phải trao nộp hết của cải và tài sản của Giáo hội, nếu không sẽ bị giết. Ngài đã vâng lời ra đi và quay trở lại cùng tất cả những người nghèo trong Giáo hội. Người nghèo chính là tài sản của Giáo hội. Anh chị em là chủ của một ngân hàng. Nếu anh chị em có một tâm hồn khó nghèo, không bám víu vào tiền của, việc điều hành ngân hàng của anh chị em sẽ trở thành một hành vi phục vụ người nghèo. Nghèo khó là có tâm hồn tách rời khỏi tiền của để phục vụ tha nhân, phục vụ những ai thiếu thốn. Giáo hội của chúng ta là Giáo hội của những người khiêm nhường và khó nghèo, nhưng chúng ta có thực sự sống khó nghèo và khiêm nhường chưa?
Đặc nét thứ ba, Giáo hội phải luôn tín thác vào Danh Thánh Thiên Chúa. Niềm tín thác của tôi đặt ở nơi đâu? Nơi quyền lực, hay nơi bạn bè, tiền của? Phải đặt nơi Thiên Chúa! Gia sản Thiên Chúa hứa cho chúng ta là ‘sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ; chúng sẽ tìm nương ẩn nơi Danh Đức Chúa.’ Bé nhỏ khiêm nhường vì họ nhận thấy mình tội lỗi; khó nghèo vì tâm hồn họ luôn gắn bó với sự giàu có của Thiên Chúa và nếu có của cải thì họ cũng chỉ là quản gia phân phối những của cải đó cho người khác; tín thác nơi Thiên Chúa vì họ biết rằng chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng tốt lành thánh thiện. Những vị thượng tế mà Đức Giêsu lên án không hiểu được ba đặc nét này. Và như thế, Đức Giêsu phải cảnh tỉnh họ rằng những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước họ.
Trong mùa Giáng Sinh năm nay, chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa ban cho chúng ta một con tim khiêm nhường, một tâm hồn nghèo khó và trên hết là luôn biết tín thác vào Thiên Chúa, Đấng không bao giờ thất hứa hoặc khiến chúng ta phải thất vọng.
Vũ Đức Anh Phương
(Xem Youtube: https://www.youtube.com/watch?v=d_XiBTbaqe8)
Thánh lễ với Đức Thánh Cha: Trông cậy vào lòng thương xót của Thiên Chúa
VATICAN. Trong bài giảng thánh lễ sáng thứ hai, ngày 14.12, tại nhà nguyện thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ: “Trông cậy vào lòng thương xót của Thiên Chúa sẽ mở ra những khung trời tự do. Sự cứng lòng của các thượng tế và kỳ mục, như được nhắc đến trong bài đọc Tin Mừng, đã khép kín con tim và từ đó gây ra nhiều điều tồi tệ.
Bài đọc một trích sách Dân Số kể về chuyện ông Bi-lơ-am. Ông là vị tiên tri được nhà vua phái đi để nguyền rủa Israel. Chắc chắn, ông Bi-lơ-am đã gây ra những lỗi lầm, thậm chí đã phạm tội. Bởi vì tất cả mọi người đều có tội. Tất cả đều là tội nhân. Nhưng chúng ta đừng hoảng sợ, vì Thiên Chúa cao cả hơn tội lỗi chúng ta. Trong cuộc hành trình của mình, ông Bi-lơ-am gặp thiên thần của Thiên Chúa và tâm hồn ông đã được biến đổi, không chỉ là thay đổi chọn theo bên nào nhưng là biến đổi từ điều lầm lạc sang chân lý. Hơn hết, ông đã dám nói điều ông chứng kiến. Thực vậy, khi đứng nhìn về sa mạc nơi dân Thiên Chúa đang đóng trại, Bi-lơ-am đã thấy hoa trái thánh thiện, vẻ đẹp và sự vinh thắng của dân tộc Israel. Ông đã mở lòng mình ra, đã hoán cải, đã nhìn ra xa và nhìn thấy chân lý. Với ý hướng tốt lành, người ta luôn có thể nhìn thấy chân lý. Và chính chân lý ấy sẽ đem đến niềm trông cậy.
Trông cậy là một nhân đức Kitô giáo. Mỗi người chúng ta đều có nhân đức ấy, vì nó là món quà tuyệt vời Thiên Chúa ban tặng. Nhân đức Cậy giúp chúng ta nhìn ra xa; nhìn vượt lên trên những khó khăn, những vấn nạn, những đau khổ và thách đố; và nhìn vượt lên trên tội lỗi của chúng ta. Chính niềm trông cậy giúp chúng ta nhìn thấy vẻ đẹp của Thiên Chúa.
Một người có lòng cậy trông sẽ được mạnh sức để đối diện với những khoảnh khắc tồi tệ của cuộc sống: khi ốm đau, bệnh tật; khi vất vả lo lắng cho con cái hoặc một người thân trong gia đình. Với nhân đức Cậy, dù giữa những khổ đau, người ta luôn có được đôi mắt sắc bén, luôn có tự do để nhìn vượt lên trên thực tại để chạm tới niềm hy vọng. Đây chính là lời tiên tri mà hôm nay Giáo hội nhắn gởi chúng ta: Giáo hội muốn chúng ta là những người biết cậy trông, nhất là trong những khó khăn, thách đố của cuộc sống. Lòng trông cậy mở ra những khung trời tự do chứ không phải gông cùm nô lệ. Nhân đức Cậy luôn có chỗ để sắp xếp và xử lý mọi trạng huống trong cuộc sống.
Trong bài Tin Mừng ngày hôm nay, những thượng tế và kỳ mục trong dân đã chất vấn Đức Giêsu về quyền nào để Ngài làm những điều ấy. Và như thế, họ đã không hề có những chân trời rộng mở. Họ khóa kín mình trong những toan tính cá nhân. Họ bị cầm tù nô lệ trong chính sự cứng lòng của mình. Những con người toan tính luôn đóng kín cánh cửa tâm hồn và dập tắt tự do, trong khi đó niềm hy vọng cậy trông lại dẫn chúng ta đến vùng trời chan hòa ánh sáng.
Sự tự do, tính cao thượng và lòng trông cậy đẹp đến là dường nào. Nhưng thật là xấu xa và tội tệ nếu con cái Giáo hội lại cứng đầu bướng bỉnh, lòng chai dạ đá. Sự cứng lòng chính là thái độ của những người không có lòng trông cậy. Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót này, có hai con đường mở ra phía trước: Con đường thứ nhất dành cho những ai trông cậy vào lòng thương xót của Thiên Chúa và biết rằng Thiên Chúa là Cha luôn tha thứ, tha thứ tất cả. Đằng sau sa mạc khô cằn của tội lỗi là cái ôm nồng thắm và sự thứ tha của Thiên Chúa đang đón chờ. Con đường thứ hai dành cho những người đi tìm nơi trú ẩn trong kiếp sống nô lệ của sự cứng lòng và chẳng biết gì về lòng thương xót của Thiên Chúa. Có thể họ là những bậc tiến sỹ, đã học hành và nghiên cứu thật nhiều, nhưng sự hiểu biết và những bằng cấp ấy không thể cứu được họ.”
Đức Thánh Cha kết thúc bài giảng bằng cách kể một câu chuyện đã xảy ra năm 1992 ở Buenos Aires, nước Argentina, trong một thánh lễ dành cho bệnh nhân: “Có một bà cụ đã 80 tuổi đến xưng tội thật lâu. Tuy mắt mũi đã kèm nhèm nhưng cụ lại có lòng trông cậy và có thể nhìn vượt lên trên những thực tại tầm thường. Tôi nói với bà: ‘Ngoại ơi, ngoại đến xưng tội ạ?’ Hỏi như thế, vì tôi vừa mới bước ra khỏi tòa giải tội để chuẩn bị đi. Bà cụ đáp: ‘Dạ.’ Tôi nói với cụ: ‘Ngoại làm gì có tội mà xưng?’ Bà cụ đáp: ‘Cha ơi, con là kẻ tội lỗi. Con phạm rất nhiều tội. Nhưng chắc chắn Chúa sẽ tha thứ cho con. Chúa tha thứ tất cả, phải không cha?’ Tôi hỏi lại: ‘Nhưng tại sao cụ biết Thiên Chúa tha thứ tất cả?’ Cụ đáp: ‘Thưa cha, nếu Thiên Chúa không tha thứ tất cả, thế giới này đã tan thành tro bụi, chứ chẳng thể tồn tại được.’ Quả vậy, trước mặt bà cụ này chỉ có sự tự do và niềm trông cậy. Và chính điều đó đã kéo xuống cho bà lòng thương xót của Thiên Chúa. Sự khép kín, cái tôi chủ nghĩa chỉ khiến con người rơi vào tình trạng nô lệ vì cứng lòng mà thôi. Chúng ta hãy nhớ bài học của bà cụ 80 tuổi này: Thiên chúa tha thứ tất cả. Ngài đang trông chờ chúng ta bước lại gần Ngài."
Vũ Đức Anh Phương
(Xem Youtube: https://www.youtube.com/watch?v=0_SQMAVr9wo)
Thánh lễ với ĐTC 23-11 : Bà góa là hình ảnh của Giáo hội đang tín trung chờ đợi ngày Chúa đến

VATICAN. “Giáo hội chỉ thật sự tín trung với Thiên Chúa khi luôn dõi mắt hướng nhìn lên Đức Giêsu. Nhưng Giáo hội sẽ không còn sức sống và trở nên tầm thường nếu tìm kiếm sự bảo đảm nơi thế gian.” Đây là thông điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng thánh lễ sáng thứ hai, 23.11, tại nhà nguyện thánh Marta.
“Tin Mừng theo thánh Luca kể cho chúng ta câu chuyện bà góa nghèo đã bỏ hai đồng tiền kẽm vào thùng tiền dâng cúng trong Đền Thờ. Trong khi đó, những người giàu có đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà bỏ vào dâng cúng. Đức Giêsu nói rằng bà góa nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết, vì những người khác rút từ tiền dư bạc thừa, còn bà góa tuy thật túng thiếu, nhưng đã bỏ vào thùng tiền tất cả những gì bà có để nuôi sống mình. Trong Kinh thánh, bà góa được nói đến như là một người phụ nữ cô độc, không còn chồng để được quan tâm chăm sóc, phải tự lo cho bản thân mình và sống nhờ vào lòng bác ái của cộng động. Bà góa trong bài Tin Mừng hôm nay là người đã đặt niềm tin tưởng duy nhất nơi Thiên Chúa. Quả thực, tôi thích ngắm nhìn những bà góa trong Tin Mừng như là hình ảnh của một ‘Giáo hội góa bụa’ đang chờ đợi sự trở lại của Đức Giêsu.
Giáo hội là Hiền Thê của Đức Giêsu, nhưng hiện thời Đấng Phu Quân đang đi vắng. Bởi thế, Giáo hội thực sự trung tín nếu luôn biết sẵn sàng chờ đợi Phu Quân của mình. Nhưng Giáo hội sẽ không còn chung thủy trong tình yêu với Thiên Chúa nữa nếu Giáo hội tìm kiếm sự bảo đảm và an toàn từ thế gian chứ không phải ở nơi Thiên Chúa.
Các bà góa trong Tin Mừng cho chúng ta thấy những điều rất đẹp về Chúa Giêsu và Giáo hội của Ngài. Tôi có thể nêu ra vài ví dụ. Có một bà góa thành Nain đang khóc thương bên cạnh quan tài của đứa con trai duy nhất đang được đem đi chôn ở bên ngoài thành. Mặc dầu có rất nhiều người đang cùng đưa tiễn với bà, nhưng từ sâu thẳm trong tâm hồn, bà hoàn toàn đơn độc. Giáo hội cũng là một ‘bà góa’ đang khóc thương khi con cái mình càng ngày càng sống xa rời Thiên Chúa. Lại có một bà góa khác, để bảo vệ con mình, bà đã đến gặp vị quan tòa bất chính, kiên trì gõ cửa hằng ngày để nài xin ông minh xét cho bà. Cuối cùng, vị quan tòa ấy cũng phải làm theo điều bà yêu cầu, vì bà ấy cứ quấy rầy mãi khiến ông nhức đầu nhức óc. Giáo hội cũng là một ‘bà góa’ đang liên lỉ cầu nguyện để nài xin Thiên Chúa cho đoàn con. Giáo hội luôn chờ đợi Phu Quân, chờ đợi để được diện kiến, để cầu nguyện và nài xin cho một đoàn con đông đúc.
Các vị ẩn sỹ trong sa mạc nói rằng tâm hồn hồn mỗi người chúng ta cũng có cùng cảm thức với Giáo hội. Và khi càng gần gũi Đức Giêsu, chúng ta càng dễ xa tránh các sự thế gian, những thứ vô ích, chẳng giúp được gì mà chỉ khiến chúng ta xa rời Thiên Chúa. Bởi vậy, khi chờ đợi Đức Giêsu, Giáo hội có thể trung tín và tin tưởng rằng Phu Quân của mình sẽ quay trở lại, nhưng Giáo hội cũng có nguy cơ không còn chung thủy sắt son trong ‘cảnh góa bụa’ của mình nữa khi đi kiếm tìm sự an toàn và bảo đảm ở những thứ tạm bợ, thế trần. Lúc ấy Giáo hội sẽ không còn hăng say nhiệt huyết và trở nên tầm thường, vì bị thấm nhiễm tinh thần thế gian.
Trong những ngày cuối cùng của năm phụng vụ, chúng ta có thể hỏi mình rằng liệu tâm hồn chúng ta đang kiếm tìm Thiên Chúa hay sự bảo đảm, an toàn nơi những tạo vật khác khiến Chúa phải buồn lòng. Ngước nhìn lên Thiên Chúa và với con tim rộng mở, chúng ta hãy tha thiết nài xin: Lạy Chúa Giêsu xin ngự đến” (SD 23.11.2015).
Vũ Đức Anh Phương
Thánh lễ với Đức Thánh Cha (20-11) : “Hối lộ thánh”

VATICAN. “Giáo hội không gắn bó với tiền của và quyền lực, không ‘tôn thờ hối lộ’. Sức mạnh và niềm vui của Giáo hội chính là Lời Chúa.” Đức Thánh Cha Phanxicô đã chia sẻ những lời trên đây trong thánh lễ sáng hôm thứ 6 ngày 20.11, tại nhà nguyện thánh Marta.
Bài giảng của Đức Thánh Cha khởi đi từ bài đọc một trích sách Ma-ca-bê, tường thuật niềm hoan hỷ của dân chúng khi thanh tẩy và cung hiến Nơi Thánh: “Nơi Thánh ấy trước đây đã bị dân ngoại xúc phạm làm cho ra ô uế vì tôn thờ những ngẫu tượng thế gian. Đoàn dân Chúa cử hành lễ cung hiến trong niềm hoan hỷ, vì họ đã tìm lại được căn tính đức thực của mình. Sự mừng vui của dân Chúa là điều mà thế gian không biết đến và cũng không thể có được. Thế gian chỉ biết tạo ra những trò vui chơi, tiêu khiển cốt làm sao cho thật sôi động và phấn khích; còn niềm vui đích thực mà đoàn dân Chúa cảm nghiệm chỉ đến từ sự trung tín với Giao Ước.
Bài Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu đuổi những kẻ đang buôn bán ra khỏi Đền Thờ: ‘Đã có lời chép rằng: Nhà Ta sẽ là nhà cầu nguyện, thế mà các người đã biến thành sào huyệt của bọn cướp!’ Trong thời đại của anh em nhà Ma-ca-bê, dân ngoại đã chiếm cứ Nơi Thánh và thay thế việc thờ phượng Thiên Chúa Hằng Sống bằng các ngẫu tượng thế gian. Ngày hôm nay, chuyện ấy lại xảy ra theo một cách thức khác.
Như bài Tin Mừng thuật lại, các thượng tế và kinh sư đã thay đổi nhiều thứ. Họ đã xâm phạm và làm ô uế Đền Thờ. Đền Thờ tượng trưng cho Giáo hội. Giáo hội luôn phải chịu đựng những cám dỗ của tinh thần thế gian và quyền lực. Thứ quyền lực này, Đức Giêsu không hề muốn thấy tồn tại nơi Giáo hội. Đức Giêsu không nói: ‘Các ngươi đừng có buôn bán ở đây. Hãy ra ngoài kia mà buôn bán’. Nhưng Ngài nói: ‘Các người đã biến Nhà Ta thành sào huyệt của bọn cướp!’ Và một khi Giáo hội đi vào tiến trình suy thoái, tức là dính bén với tiền của và quyền lực, thì kết cục sẽ rất tệ hại.
Luôn có nguy cơ tham nhũng trong Giáo hội. Điều này xảy ra khi Giáo hội, thay vì trung thành với Đức Giêsu, Hoàng Tử Hòa Bình của niềm vui và ơn cứu độ, lại bị chi phối bởi tiền của và quyền lực. Đây chính xác là điều mà bài Tin Mừng hôm nay thuật lại. Các thượng tế và kinh sư đã bị chi phối bởi tiền của và quyền lực; họ đã lãng quên Thần Khí. Và để hợp lý hóa hành động của mình, họ đã khoác lên người ‘tấm áo đạo đức giả’. Trong Tin Mừng Mathêu, chương 23, Đức Giêsu đã nói về thói đạo đức giả này. Đây là nhưng người đã đánh mất cảm thức thánh thiêng, và thậm chí đánh mất ngay cả khả năng vui mừng, khả năng tán dương Thiên Chúa. Họ không biết làm sao để thờ phượng, ca ngợi Thiên Chúa, vì bị chia lòng chia trí với tiền của và quyền lực.
Đức Giêsu không đuổi khỏi Đền Thờ các thượng tế và kinh sư mà là những người đang buôn bán, kinh doanh, những thương gia Đền Thờ. Nhưng cách nào đó, các thượng tế và kinh sư ấy cũng có dính líu đến việc làm ăn này. Đây chính là ‘hối lộ thánh’. Họ nhận tiền hối lộ và các thương gia được vào buôn bán trong Đền Thờ. Tin Mừng tường thuật rất rõ: ‘Các thượng tế và kinh sư tìm cách giết Đức Giêsu, cả các thân hào trong dân cũng vậy.’ Nhưng tại sao lại thế? Lý do là: ‘Toàn dân say mê nghe Đức Giêsu.’ Sức mạnh của Đức Giêsu chính là ở lời nói, việc làm và tình yêu mến. Ở đâu có Đức Giêsu, thì nơi đó không có tinh thần thế gian, không có chỗ cho tham nhũng hối lộ. Đây là thách đố cho mỗi người chúng ta và cũng là cuộc chiến mà Giáo hội phải đối diện hằng ngày. Chúng ta hãy luôn ở bên Giêsu, say mê nghe tiếng Người và đừng bao giờ tìm kiếm sự an toàn từ những ‘ông chủ khác’. Đức Giêsu đã nói với chúng ta rằng: Chúng ta không thể làm tôi hai chủ: Thiên Chúa hoặc tiền của, quyền lực.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho Giáo hội và hãy ấp ủ nơi trái tim chúng ta hình ảnh của biết bao vị tử đạo. Các ngài không hề bị thấm nhiễm bởi tinh thần thế gian, tiền của và quyền lực; nhưng lại sẵn sàng chấp nhận đau khổ và cái chết. Ngày này trong Giáo hội lại càng có nhiều các vị tử đạo hơn trước kia. Chúng ta hãy ghi nhớ điều đó. Chúng ta cũng xin ơn để không rơi vào cạm bẫy của tinh thần thế gian và đừng bị ám ảnh bởi của cải và quyền lực” (SD 20.11.15).
Vũ Đức Anh Phương
Thánh lễ với Đức Thánh Cha (19-11): Chúa Giêsu khóc thương cho một thế giới đã không hiểu mà còn muốn giết chết hòa bình
VATICAN. “Ngày nay, mọi nơi trên thế giới đều xảy ra chiến tranh mà dường như lại chẳng có lý do chính đáng nào cho những cuộc chiến ấy. Con người có thể tìm thấy con đường dẫn tới hòa bình với Năm Thánh Lòng Thương Xót Chúa đang gần kề.” Đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng hôm nay, thứ 5 ngày 19.11, tại nhà nguyện thánh Marta.
“Đức Giêsu khóc thương.” Đức Thánh Cha đã bắt đầu bài giảng như thế. Và có thể nói, đây là một trong những bài giảng tha thiết nhất của ngài tại nhà nguyện thánh Marta.
“Khi đến gần Giê-ru-sa-lem, Đức Giêsu đã trông thấy thành và khóc thương. Nhưng tại sao Chúa lại khóc thương? Chính Đức Giêsu cũng đã trả lời: ‘Phải chi ngày hôm nay ngươi nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được.’ Như thế, Đức Giêsu khóc vì Giê-ru-sa-lem đã không hiểu được đường lối hòa bình mà lại chọn con đường của ghen ghét, hận thù, chiến tranh.
Ngay cả ngày hôm nay, Đức Giêsu vẫn đang còn khóc thương. Bởi vì chúng ta ưa thích con đường của chiến tranh, hận thù, ghen ghét. Ngày lễ Giáng Sinh đã gần kề, sẽ có đèn chớp sáng, sẽ có lễ hội, tiệc tùng, những cây thông trang trí đủ màu sắc, và có cả máng cỏ với hang đá … Tất cả đều được trang hoàng đẹp đẽ. Nhưng ở ngoài kia, thế giới vẫn có chiến tranh. Những cuộc chiến lại tiếp tục xảy ra. Người ta thực sự không hiểu được đường lối của hòa bình.
Hồi năm ngoái, chúng ta đã tưởng niệm những nạn nhân trong chiến tranh Thế Giới Thứ Hai, vụ đánh bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki. Như Đức Biển Đức XVI nói, đó là những thảm sát không cần thiết. Ngày hôm nay, mọi nơi đều có chiến tranh, hận thù. Điều ấy khiến chúng ta phải thốt lên mà hỏi rằng: Điều gì còn sót lại sau chiến tranh? Tình trạng sống của chúng ta sẽ như thế nào?
Điều còn sót lại là sự dổ nát, hoang tàn. Hàng ngàn trẻ em không được đến trường. Vô số những người vô tội bị thiệt mạng. Hàng đống tiền rơi vào túi của những kẻ buôn bán vũ khí.
Có lần, Đức Giêsu đã nói: ‘Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa lại vừa làm tôi tiền của được.’ Quả thực, chiến tranh là một chọn lựa béo bở để làm giầu. Kinh doanh vũ khí sẽ thúc đẩy nền kinh thế phát triển, và từ đó người ta cũng thu được nhiều lợi nhuận hơn. Nhưng Thiên Chúa sẽ nói với những người ấy rằng: Khốn cho các ngươi! Bởi vì, Chúa Giêsu chỉ nói: “Phúc cho ai kiến tạo hòa bình!’, còn những người gây ra chiến tranh, hận thù sẽ không được chúc phúc, và còn là những tội phạm nữa. Chiến tranh có thể được ‘biện minh’ – biện minh trong ngoặc kép – với rất nhiều lý do. Và trong thế giới ngày hôm nay đã đầy dẫy chiến tranh rồi. Đó là một cuộc chiến có tầm mức thế giới nhưng xảy ra từng phần: ở đây, ở kia, ở đó và khắp mọi nơi mà chẳng có lý do nào cả. Thiên Chúa đã khóc thương. Đức Giêsu đã khóc thương.
Trong khi những người buôn bán vũ khí đang thực hiện việc kinh doanh của họ, lại có rất nhiều người kiến tạo hòa bình tuy đơn sơ nghèo khó nhưng vẫn tiếp tục giúp đỡ con người, hết người này đến người khác, đến nỗi sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình vì họ. Những gì Mẹ Têrêsa Calcutta, một biểu tượng sáng ngời trong thời đại chúng ta, đã sống và đã làm là một minh chứng hùng hồn. Nhưng bằng sự giễu cợt, những người có quyền lực có thể mỉa mai rằng: ‘Bà ấy đã làm gì vậy? Tại sao lại phải đánh đổi cả mạng sống của mình để giúp đỡ những người sắp chết?’ Họ không hiểu được đường lối của hòa bình, không hiểu được những gì Mẹ Teresa đã làm.
Bởi vậy, thật là hữu ích nếu mỗi người chúng ta cũng xin ơn biết khóc thương, vì thế giới này không biết đến con đường hòa bình, nhưng chỉ biết sống để gây chiến tranh, hận thù và mỉa mai những ai tận tâm kiến tạo hòa bình. Chúng ta được đòi hỏi phải hoán cải tận căn từ sâu thẳm trái tim. Bên ngưỡng cửa Năm Thánh Lòng Thương Xót, niềm vui của chúng ta sẽ là khi thế giới tìm thấy được khả năng biết khóc thương cho tội lỗi của mình, cho những gì mà chiến tranh đã gây ra.”
Vũ Đức Anh Phương
Thánh lễ với Đức Thánh Cha (17-11): Kitô hữu không sống hai mặt

VATICAN. “Chúng ta cần cảnh giác trước tinh thần thế gian vì nó có thể dẫn chúng ta đến một cuộc sống hai mặt. Đây là lời khuyên của Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng thánh lễ sáng hôm nay, 17.11, tại nhà nguyện thánh Marta.” Vẫn theo lộ trình mà Giáo hội mời gọi trong những ngày cuối năm phụng vụ, Đức Thánh Cha tiếp tục chia sẻ về việc chúng ta phải hành xử như thế nào trong những cơn bách hại. Quả thực, bài giảng hôm nay tiếp nối bài giảng ngày hôm qua, ở đó ngài đã suy tư về ba khái niệm: tinh thần thế gian, bỏ đạo và sự bách hại.
Đức Thánh Cha chia sẻ những suy tư của ngài dựa theo bài đọc một, trích sách Ma-ca-bê, quyển thứ 2, để một lần nữa khuyến khích các Kitô hữu biết cảnh giác trước những cám dỗ của cuộc sống thế tục: “Vị bô lão E-la-da không hề bị lung lay, suy sụp trước tinh thần thế gian, sẵn sàng chọn lựa cái chết hơn là chối đạo. Quả thực, ông E-la-da đã chín mươi tuổi, không chấp nhận ăn thịt heo cũng như từ chối lời khuyên của nhưng ‘người bạn thế tục’ ăn một món thịt khác rồi giả vờ như thể đang ăn thịt cúng do vua truyền để không bị giết. Nhưng ông đã kiên trì giữ vững phẩm giá cao quý của mình. Ông là người có cuộc sống minh bạch, lập trường rõ ràng, sẵn sàng đón nhận cái chết như hồng ân tử vì đạo để làm chứng cho Chúa. Ông nói: ‘Ở tuổi chúng tôi, giả vờ là điều bất xứng. Tôi muốn làm chứng về đạo cho con cháu và các thế hệ trẻ sau này’.
Đây thật sự là mẫu gương sáng ngời về một đời sống minh bạch giúp đẩy lui tinh thần thế gian. Tuy nhiên, có nhiều người lại chọn một cuộc sống hai mặt: giả vờ như thế này nhưng lại sống như thế khác. Tinh thần thế gian len lỏi vào tâm hồn con người và dần dần chiếm đoạt nó. Nhưng thật khó để nhận ra tinh thần thế gian ấy ngay từ lúc đầu, vì nó giống như mối mọt từ từ gặm nhấm phá hoại để đến một ngày cây gỗ bị hỏng, không còn sử dụng được nữa. Cũng vậy, một người theo đuổi tinh thần thế gian sẽ đánh mất căn tính Kitô hữu của mình, cuộc sống bị mục rữa không còn minh bạch và hội nhất nữa. Có nhiều người nói rằng: ‘Ồ, con là một tín hữu đạo gốc đấy cha ơi. Con tham dự thánh lễ mọi Chúa Nhật. Tuy nhiên, trong cuộc sống hằng ngày hay trong công việc, người ấy lại không có khả năng sống hội nhất và minh bạch. Thật đáng buồn thay!
Đấy là một cuộc sống mang đậm tinh thần thế gian. Và chính tinh thần thế gian sẽ dẫn đến kiểu sống hai mặt: vẻ bên ngoài hoàn toàn khác biệt những suy nghĩ nội tâm. Và như thế, người ấy sống xa rời Thiên Chúa và đánh mất căn tính Kitô hữu của mình. Như vậy, ta có thể hiểu tại sao Đức Giêsu đã khẩn nài tha thiết với Thiên Chúa Cha: ‘Lạy Cha, con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần, vì ác thần hay tinh thần thế gian ấy sẽ phá hỏng căn tính Kitô hữu nơi họ.’
Kinh thánh, đặc biệt là câu chuyện về ông E-la-da là một minh chứng hùng hồn chống lại tinh thần thế gian. Không phải ngẫu nhiên mà ông E-la-da thốt ra những lời này: ‘Nếu thanh niên nghĩ rằng tôi đã chín mươi tuổi đầu, mà còn theo những lề thói dân ngoại, vì tôi giả vờ và ham sống thêm một ít lâu nữa; họ bị lầm lạc vì tôi, còn tôi thì chuốc lấy vết nhơ và ô nhục cho tuổi già.’ Ông E-la-da đã ý thức được chuyện gì sẽ xảy ra nếu ông ham sống mà đầu hàng. Như vậy, tinh thần Kitô hữu hay căn tính Kitô hữu không bao giờ toan tính vị kỷ nhưng luôn nghĩ tới sự ảnh hưởng đến người khác, tránh tạo ra những gương mù, gương xấu và dùng chính sự minh bạch của một đời sống công chính như một chứng tá tốt lành để chữa lành và củng cố tha nhân.
Tuy nhiên, có người sẽ lý luận rằng: Chuyện này chẳng dễ dàng chút nào, vì con người phải sống trong một thế giới đầy dẫy những cám dỗ và cạm bẫy của một đời sống hai mặt luôn rình rập, gọi mời. Bởi thế, sống được như ông E-la-da quả là khó. Và câu trả lời là đúng vậy. Đối với chúng ta, không những rất khó mà còn là không thể được. Chỉ có Đức Kitô mới có thể làm được. Bởi vậy, những bài đọc ngày hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết cầu nguyện như lời Thánh vịnh: ‘Lạy Đức Chúa, xin đỡ nâng con.’
Chính Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta chống lại tinh thần thế gian đang nhăm nhe muốn hủy hoại căn tính Kitô hữu và muốn dẫn dụ chúng ta vào một kiểu sống lập lờ, hai mặt. Chỉ có Thiên Chúa mới cứu được chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy khiêm nhường nài xin: ‘Lạy Chúa, con là kẻ tội lỗi chẳng đáng kêu cầu trước mặt Chúa, nhưng xin Chúa dủ lòng thương ra tay bênh đỡ và gìn giữ, để con đừng rơi vào tình trạng giả vờ sống như một Kitô hữu nhưng thực tế lại sống như dân ngoại hay như mọi người khác trong xã hội.’
Nếu anh chị em có thời gian rảnh, hãy lấy Kinh thánh, sách Ma-ca-bê quyển thứ 2, chương 6 và đọc để biết câu chuyện ông E-la-da. Qua đó, anh chị em sẽ sống tốt hơn, có can đảm để làm chứng cho Chúa trước mặt mọi người, đồng thời cũng thêm lòng vững mạnh để gìn giữ căn tính Kitô hữu của mình chứ không thỏa hiệp để sống một cuộc sống hai mặt” (SD 17.11.15).
Vũ Đức Anh Phương
Thánh lễ với Đức Thánh Cha (13-11): Chỉ có vinh quang Thiên Chúa mới trường tồn, vĩnh cửu

VATICAN. “Đừng rơi vào hình thức ‘tôn thờ ngẫu tượng nội tại tính cục bộ’ cũng như tôn thờ những phong tục thói quen cố hữu. Nhưng thay vào đó, chúng ta phải luôn biết nhìn vượt lên trên: vượt ra khỏi nội tại tính cục bộ để vươn tới siêu việt tính; vượt ra khỏi những thói quen, phong tục cố hữu để chạm tới điểm tận cùng, đó chính là vinh quang Thiên Chúa.” Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắn nhủ những điều trên đây trong bài giảng thánh lễ sáng hôm nay ngày 13.11, tại nhà nguyện thánh Marta.
Đức Thánh Cha nói: “Sự đẹp đẽ và vinh quang của Thiên Chúa là không thể sánh ví. Đáp ca trong thánh lễ hôm nay đã cũng nói đến điều ấy: ‘Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa.’ Tuy nhiên, vấn nạn của con người là thường nghiêng mình bái lạy trước những gì lộng lẫy, uy nghi. Nhưng sự lộng lẫy của tạo vật chỉ phản chiếu vẻ đẹp của Thiên Chúa mà thôi, đến một ngày nào đó chúng sẽ tan biến đi.”
Tiếp đến, Đức Thánh Cha làm nổi bật hai thứ tôn thờ ngẫu tượng mà ngay cả những người tin cũng có thể mắc phải. Bài đọc thứ nhất và đáp ca nói về vẻ đẹp của các tạo vật nhưng đồng thời cũng chỉ ra sai lầm của những người khi thấy vẻ đẹp của thụ tạo mà không biết nhìn vượt lên trên để vươn tới Đấng Siêu Việt. Đức Thánh Cha gọi điều này là: “Tôn thờ ngẫu tượng nội tại tính. Có nghĩa là, người ta chỉ dừng lại ở vẻ đẹp nơi sự vật mà thôi chứ không biết nhìn lên trên và vượt ra ngoài để thấy vinh quang Thiên Chúa.
Có những người đã gắn chặt đời mình với hình thức tôn thờ ngẫu tượng này. Họ bị tác động mạnh bởi những điều kỳ diệu cùng sức mạnh và năng lực của chúng. Họ không nghĩ rằng có Đấng còn siêu việt hơn những điều ấy nữa, vì chính Đấng ấy đã sáng tạo nên mọi loài, đồng thời cũng là nguồn gốc và tác giả của mọi vẻ đẹp và vinh quang. Người ta chỉ nhìn thấy vẻ đẹp của thụ tạo, rồi tôn phong chúng thành thần mà không nghĩ rằng vẻ đẹp đó chỉ là vẻ đẹp của một buổi hoàng hôn, nó sẽ qua đi chứ không tồn tại mãi. Đây chính là một hình thức tôn thờ ngẫu tượng: gắn bó với những vẻ đẹp sẽ qua đi mà không nhận thấy siêu việt tính. Tất cả chúng ta đều có nguy cơ mắc phải điều này, một thứ tôn thờ ngẫu tượng nội tại tính, khi chúng ta tin rằng những thụ tạo giống như các vị thần sẽ không bao giờ qua đi. Như vậy, chúng ta đã quên đi ‘buổi chiều hoàng hôn’ rồi.”
Một hình thức tôn thờ ngẫu tượng khác chính là thần thánh hóa những phong tục, thói quen. Chính việc phong thần ấy sẽ khiến con tim và tâm hồn chúng ta bị câm điếc. Đức Thánh Cha giải thích điều này bằng cách nhắc lại lời của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay. Đức Giêsu đã mô tả về con người trong thời đại của Nô-ê và thời ông Lót: ‘Thiên hạ ăn uống, cưới vợ lấy chồng’ mà chẳng để ý lưu tâm đến những chuyện khác, cho đến lúc nạn hồng thủy ấp tới hay mưa diêm sinh từ trời đổ xuống tiêu diệt tất cả.
“Như vậy, chuyện xảy ra là do thói quen, xem mọi sự bình thường chẳng có gì đáng để ý. Cuộc sống là như thế, ta cứ tiếp tục sống như mình đã sống, chẳng bao giờ nghĩ đến ‘buổi chiều tà hoàng hôn’ của kiếp sống nhân sinh. Đây chính là một hình thức tôn thờ ngẫu tượng: gắn chặt vào những thói quen cố hữu và không nghĩ rằng mọi chuyện sẽ kết thúc, qua đi. Như vậy, những thói quen, phong tục cũng đã được suy tôn thành những vị thần: Cuộc sống là như thế nên chúng là cứ vậy mà sống. Nhưng Giáo hội giúp chúng ta nhận ra cái điểm tận cùng của mọi sự. Thật vậy, vẻ đẹp này sẽ qua đi và kết thúc trong một vẻ đẹp khác; thói quen, phong tục này cũng sẽ kết thúc trong một thói quen, phong tục ‘vĩnh cửu’ khác. Đó chính là Thiên Chúa.”
Tiếp tục bài giảng, Đức Thánh Cha khuyến khích: “Chúng ta phải luôn biết ngắm nhìn ‘điều siêu việt’, hay ‘đích điểm cuối cùng’; nói khác đi, biết chiêm ngắm vẻ đẹp không bao giờ qua đi. Thật vậy, Thiên Chúa là Đấng duy nhất siêu vượt lên trên cái tận kết của tạo vật. Chúng ta đừng mắc phải sai lầm chết người là ngoái đầu nhìn lại phía sau giống như vợ ông Lót; nhưng luôn lao mình về phía trước với một niềm xác tín rằng nếu cuộc sống trần gian này có đẹp và quyến rũ, thì cũng chỉ như cái đẹp của một buổi chiều hoàng hôn rồi sẽ vụt tắt.
Chúng ta – những người có đức tin – không là người quay lại đàng sau hay đầu hàng, nhụt chí; nhưng là những người luôn tiến về phía trước. Trong cuộc sống trần gian này, chúng ta luôn biết lao mình về phía trước, biết chiêm ngắm vẻ đẹp và sống với những thói quen vốn có nhưng không thần thánh chúng. Bởi vì, tất cả rồi sẽ qua đi. Tạo vật dù có đẹp lộng lẫy thì cũng chỉ là cái đẹp nhỏ bé, tạm thời, phản chiếu vẻ đẹp và vinh quang khôn tả của Thiên Chúa. Chỉ có vinh quang Thiên Chúa mới trường tồn, vĩnh cửu. Đó là điều mà chúng ta cần phải chiêm ngắm và xác tín” (SD 13.11.15).
Vũ Đức Anh Phương
Thánh lễ với Đức Thánh Cha (16-11) : Hãy cảnh giác trước tinh thần thế gian

“Đừng hủy bỏ căn tính Kitô hữu, cũng đừng mặc lấy tinh thần thế gian, vì những điều ấy tất yếu dẫn đến việc chối đạo và những bách hại.” Đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng thứ hai 16.11, tại nhà nguyện thánh Marta.
Khởi đi từ bài đọc một, Đức Thánh Cha giải thích ba từ: tinh thần thế tục, bỏ đạo và sự bách hại: “Bài đọc một trích sách Ma-ca-bê nói về ‘một mầm mống tội lỗi’ đã nảy sinh: Vua Hy lạp An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê đã áp đặt các tập tục của dân ngoại lên con cái It-ra-el, dân được tuyển chọn, nói cách nào đó chính là ‘Giáo hội thời bấy giờ’. Mầm mống nằm dưới mặt đất nên triệu chứng của nó như thế này: điều không nhìn thấy thì chưa chắc đã không gây ra nguy hiểm, nhưng khi mầm mống đã phát triển sẽ phô bày ra bản chất thật sự của nó. Mầm mồng mà bài đọc một nói đến là một mầm mống về mặt tư tưởng và lý trí đã đẩy nhiều con cái It-ra-el đến chỗ ký kết giao ước với các dân tộc láng giếng để tìm kiếm sự bảo vệ và an toàn: ‘Tại sao lại sống cách biệt với họ? Từ khi sống cách biệt như thế, chúng ta gặp phải nhiều tai họa. Chúng ta hãy đến sống chung với họ để chúng ta giống họ họ và họ cũng giống chúng ta.’ Như vậy, trước hết, tinh thần thế tục chính là làm theo những gì thế gian làm: ‘Hãy vứt bỏ căn tính của mình, chúng ta sẽ giống người khác.’ Có rất nhiều người trong dân It-ra-el đã xây một thao trường ở Giê-ru-sa-lem theo thói các dân ngoại; họ hủy bỏ dấu vết cắt bì, tức là chối bỏ đức tin, chối bỏ Giao Ước Thánh để mang chung một ách với dân ngoại và bán mình để làm điều dữ. Nhưng dường như việc chối bỏ căn tính này lại được biện minh rất hợp lý: Chúng ta được giống mọi người; chúng ta bình thường như mọi người. Đây chính là đường lối của tinh thần thế gian, của đau khổ và tội lỗi.
Bài đọc một tiếp tục tường thuật cho chúng ta biết, nhà vua ra chiếu chỉ trong toàn vương quốc, truyền cho mọi người phải nhập thành một dân duy nhất; và ai nấy phải bỏ tục lệ của mình. Mọi dân tộc đều chấp hành lệnh vua; trong dân It-ra-el có nhiều người hưởng ứng việc thờ phượng vua đã truyền: họ dâng lễ tế cho các ngẫu tượng, vi phạm ngày sa-bát. Đây chính là sự bỏ đạo. Như vậy, tinh thần thế gian – muốn làm giống người ta – sẽ dẫn đến một suy nghĩ hay tư tưởng độc đoán và cuối cùng là bỏ đạo. Không cho phép bất cứ sự khác biệt nào, tất cả là như nhau. Và điều này cũng xảy ra trong lịch sử Giáo hội, khi các nghi lễ tôn giáo được thay tên đổi họ. Chẳng hạn như ngày lễ Giáng Sinh, người ta lại muốn đặt ra một cái tên khác nhằm xóa bỏ căn tính thiêng liêng của ngày lễ ấy.
Lúc ấy, trong dân tộc It-ra-el, các sách của bộ Luật bị xé và quăng vào lửa. Nếu ai còn tuân giữ lề luật, thì đem ra xử tử theo phán quyết của vua. Như thế, sự bách hại đã được khởi đầu bằng một mầm mống tội lỗi. Tôi luôn được đánh động về hình ảnh của Đức Kitô trong Bữa Tiệc Ly. Với lời cầu nguyện dài, Ngài đã cầu nguyện cho sự hiệp nhất và nài xin Chúa Cha giải thoát các môn đệ khỏi tinh thần thế gian, vì tinh thần thế gian ấy sẽ hủy hoại căn tính Kitô hữu, sẽ dẫn đến những suy nghĩ và tư tưởng độc đoán.
Lúc bắt đầu, tinh thần thế gian là một mầm mống nhỏ bé, nhưng khi lớn lại trở thành đồ ghê tởm khốc hại, và kết thúc trong sự bắt bớ, chết chóc. Như vậy, đó chính là điều gian dối mà tinh thần thế tục mang lại, và cũng là lý do tại sao Chúa Giêsu nài xin Chúa Cha tại Bữa Tiệc Ly: ‘Lạy Cha, con không xin Cha cất họ ra khỏi thế gian, nhưng xin gìn giữ họ trong thế gian.’ Chính não trạng hay tinh thần thế tục sẽ hủy hoại căn tính Kitô hữu và dẫn tới một não trạng ‘bày đàn’: Tất cả mọi người đều làm như thế, sao chúng ta lại không? Trong thời đại ngày nay, chúng ta dễ bị hoang mang: Đâu là căn tính của tôi? Kitô hữu hay một người mang tinh thần thế tục? Có thể chúng ta sẽ tự trấn an mình rằng: Tôi là Kitô hữu vì tôi đã được rửa tội khi còn bé và được sinh ra trong một gia đình hay một quốc gia Công giáo, nơi đó tất cả mọi người đều là Công giáo. Nhưng tinh thần thế tục tiến đến cách chậm rãi từ từ, và sau đó sẽ phát triển lớn mạnh, hợp lý hóa chính mình và bắt đầu gây nhiễm bệnh. Rất nhiều những thứ xấu xa đã xuất phát từ đó.
Bởi vậy, những bài đọc trong những ngày cuối năm phụng vụ này khuyến cáo chung ta hãy cảnh giác trước những mầm mống độc hại khiến chúng ta xa lìa Thiên Chúa. Trong tinh thần ấy, chúng ta cầu nguyện cho Giáo hội, xin Thiên Chúa bảo vệ, canh chừng Giáo hội khỏi tất cả những dạng thức của tinh thần thế tục. Cầu nguyện cho Giáo hội sẽ luôn giữ vững căn tính đã được trao ban bởi Đức Giêsu Kitô, và cũng cầu nguyện cho bản thân chúng ta bảo toàn căn tính đã được nhận lãnh khi chịu phép rửa. Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn biết gìn giữ và kiên trung trong căn tính Kitô hữu trước tinh thần thế gian luôn không ngừng lớn mạnh, hợp lý hóa chính mình và trở thành một thứ dịch bệnh” (SD 16.11.15).
Vũ Đức Anh Phương
Thánh lễ với Đức Thánh Cha (06-11) : Giáo hội được mời gọi phục vụ chứ không phải được phục vụ

VATICAN. Giáo hội được mời gọi để phục vụ và trên hết, Giáo hội không phải là một tổ chức tài chính. Bởi thế, các Giám mục, linh mục cần vượt thắng cám dỗ của ‘một đời sống hai mặt’ do quá gắn bó với tiền của gây ra. Có nhiều linh mục, Giám mục thay vì phục vụ, họ lại biến mình trở thành những ‘doanh nhân’ và ‘ủ ấm’ đời mình với tiện nghi, vật chất trong sự lập lờ, thiếu trong sáng. Đây là thông điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng thánh lễ sáng hôm nay, 06.11, tại nhà nguyện thánh Marta.
Mở đầu bài giảng, Đức Thánh Cha nói: “Phụng vụ ngày hôm nay mời gọi chúng ta suy tư về hai hình ảnh của người phục vụ. Trong bài trích thư Roma, ta thấy xuất hiện hình ảnh của thánh Phao-lô, một người hăng say rao giảng Tin Mừng. Thánh Phao-lô nói: ‘Như anh em biết, chính nhờ ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi làm người phục vụ Đức Giêsu Kitô và để chu toàn nhiệm vụ tế tự là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa.’ Thánh Phao-lô đã thực hiện ơn gọi này cách hết sức nghiêm túc. Ngài dành trọn cả con người mình cho việc phục vụ. Ngài không bao giờ biết bằng lòng dừng lại nhưng tiếp tục cố gắng phục vụ hơn nữa, hơn nữa và hơn nữa. Để rồi cuối cùng, ngay tại Roma, ngài đã bị một trong số những người thân tín phản bội và bị kết án tù đày, thậm chí là phải chết.
Nhưng từ đâu thánh Phao-lô có được sự hăng say, nhiệt huyết và lòng can trường như thế? Điều đó đến từ Đức Giêsu Kitô. Thánh Phao-lô đã tuyên bố rằng: ‘Tôi có quyền hãnh diện về việc phục vụ Thiên Chúa. Và vì ai mà tôi hãnh diện? Đó chính là nhờ Đức Giêsu Kitô. Thật thế, tôi đâu dám nhắc đến chuyện nào khác, ngoài những gì Đức Kitô đã dùng tôi mà thực hiện để đưa muôn dân về phục vụ Thiên Chúa, thực hiện bằng lời nói việc làm, bằng sức mạnh của những dấu lạ điềm thiêng, bằng quyền năng của Chúa Thánh Thần.’
Với thái độ xác tín như vậy, thánh Phao-lô đã đi loan báo Tin Mừng khắp nơi. Ngài tự hào về việc phục vụ, tự hào về việc mình được chọn, tự hào vì nhận lãnh được sức mạnh của Thánh Thần, tự hào vì được đi khắp cùng trái đất. Và điều khiến ngài vui sướng hạnh phúc là: ngài chỉ có tham vọng loan báo Tin Mừng ở những nơi người ta chưa được nghe nói đến danh Đức Giêsu. Ngài không muốn xây dựng trên nền móng người khác đã đặt. Điều ấy có nghĩa là thánh Phao-lô muốn đến những nơi chưa được loan báo về Chúa, muốn được phục vụ những người phục vụ, muốn trở thành người tiên phong xây dựng nền móng. Bởi thế, ngài luôn luôn lên đường, đi mãi và đi mãi. Ngài không hề dựng lại để tận hưởng hoa trái ở nhưng nơi ngài đã đi qua. Ngài cũng không ở lại đó để nắm quyền lực, để được phục vụ. Nhưng ngài là một thừa tác viên, một tôi tớ ra đi để phục vụ chứ không phải để được phục vụ.”
Đức Thánh Cha cũng chia sẻ rằng: “Tôi cảm thấy rất vui và đánh động, vì trong thánh lễ hôm nay đã có những linh mục đến chào tôi và nói: ‘Đức Thánh Cha ơi, hôm nay con đến đây để tìm người của con, vì con đã đi truyền giáo ở Amazzon 40 năm trời nay rồi’. Niềm vui và xúc động cũng trào dâng trong tôi khi nghe một nữ tu nói: ‘Con đã làm việc suốt 30 năm trong một bệnh viện ở Châu Phi’; hay một nữ tu khác đã trải qua 40 năm làm việc trong một bệnh viện dành cho người khuyết tật, và vị nữ tu ấy luôn tươi nở nụ cười trên môi. Đây là lời mời gọi phục vụ và đây cũng là niềm vui trong Giáo hội: hãy bước ra ngoài và lên đường phục vụ tha nhân, hãy đến với người khác và trao hiến thân mình cho họ. Điều mà thánh Phao-lô đã làm là phục vụ và phục vụ.
Bài Tin Mừng theo thánh Luca nói về người quản gia bất lương. Qua đó, Đức Giêsu cho chúng ta thấy một hình ảnh khác: thay vì phục vụ lại bắt người khác phải phục vụ mình. Với những mánh khóe và mưu mẹo, người quản gia bất lương cố gắng làm mọi cách để giữ được vị trí chức vụ của mình, hay ít là khi bị cách chức cũng có một đời sống được bảo đảm. Và trong Giáo hội cũng có những người như thế. Thay vì phục vụ, suy nghĩ đến tha nhân và đi tiên phong xây dựng nền móng; họ lại khiến Giáo hội phải phục vụ họ. Họ trở thành những người bám víu và gắn bó vào tiền của. Chúng ta đã thấy bao nhiêu linh mục hay Giám mục như thế. Và thật buồn khi nhắc đến điều này đúng không anh chị em?
Đặc tính căn cốt của Tin Mừng và lời kêu gọi của Đức Giêsu Kitô là phục vụ: hãy phục vụ chứ đừng dừng lại; hãy biết quên mình đi để phục vụ tha nhân. Trái lại, phía bên kia là một tình trạng tiện nghi, yên ổn: tôi cố gắng để đạt tới một sự ổn định, rồi sống thoải mái trong tình trạng đó mà đôi khi thiếu đi sự liêm chính, trong sáng. Điều này giống như tình trạng của một số người Pha-ri-sêu mà Chúa Giêsu đã nói tới: Họ đeo những thẻ kinh thật dài và đi lại trên đường phố cốt để người khác trông thấy. Như vậy, có hai hình ảnh: hai hình ảnh Kitô hữu, hai hình ảnh linh mục, hai hình ảnh người nữ tu. Ta sẽ chọn hình ảnh nào: phục vụ hay được phục vụ?
Nơi thánh Phao-lô, chúng ta thấy hình bóng của Giáo hội, một Giáo hội không bao giờ dừng lại nhưng luôn đi tiên phong để đặt nền móng. Nhưng nếu trong Giáo hội có những người chỉ biết chọn một đời sống yên ổn, tiện nghi; Giáo hội đang tự đóng mình lại, đang trở thành một tổ chức kiếm tiền kinh doanh. Khi ấy, Giáo hội sẽ không còn là thừa tác viên của Đức Kitô để phục vụ người khác nữa nhưng lại khiến người khác phải phục vụ mình.”
Bởi thế, Đức Thánh Cha mời gọi mọi người cùng hiệp ý cầu nguyện: “Chúng ta nài xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ân sủng như đã ban cho thánh Phao-lô. Đó là ơn biết tự hào về công việc phục vụ Thiên Chúa, biết lao mình về phía trước, biết nói không với những bến đỗ tiện nghi, thoải mái. Đồng thời, cũng xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi cám dỗ của một đời sống hai mặt: tôi có thể nhìn nhận mình là một thừa tác viên của Chúa, một người phục vụ, nhưng thực ra người khác đang phải phục vụ tôi.” (SD 06-11-2015).
Vũ Đức Anh Phương
Thánh lễ với Đức Thánh Cha (05-11) : Kitô hữu là người biết bao dung chứ không loại trừ

VATICAN. Kitô hữu là người biết gắn kết với tha nhân, không hề khép cửa lại với bất cứ ai, cho dù có bị chống đối. Kẻ hay loại trừ, vì nghĩ rằng mình hơn người, luôn gây ra những xung đột, chia rẽ và chẳng hề suy nghĩ đến thực tế rằng có một ngày anh sẽ phải trả lẽ trước tòa phán xét của Thiên Chúa. Đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng hôm nay, 05-11, tại nhà nguyện thánh Marta.
Đức Thánh Cha chia sẻ:
“Anh chị em thân mến,
Trong thư gởi giáo đoàn Roma, thánh Phao-lô kêu gọi chúng ta đừng xét đoán và khinh dể người anh em; vì sẽ dẫn đến việc loại trừ người anh em đó ra khỏi cộng đoàn, và khiến chúng ta dễ có khuynh hướng tự biến mình thành những người ưu tuyển. Nhưng như thế, chúng ta sẽ không còn là những Kitô hữu đúng nghĩa nữa. Đức Kitô, với cuộc hiến tế của Ngài trên đồi Canvê, đã hiệp nhất và nối kết tất cả mọi người trong hồng ân cứu độ. Trong bài Tin Mừng, các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Người giảng. Nói khác đi, tất cả những người bị loại trừ, bị gạt ra bên lề xã hội đều đến với Đức Giêsu. Còn những người Pha-ri-sêu và các kinh sư lại xầm xì bàn tán với nhau.
Các kinh sư và người Pha-ri-sêu đều có chung một động thái, đó là loại trừ. Có thể họ nghĩ bụng: ‘Chúng ta là những người hoàn hảo, vì tuân giữ mọi điều trong lề luật. Còn đây là những kẻ tội lỗi và những tên thu thuế’. Nhưng thái độ của Đức Giêsu lại là nối kết và hiệp nhất. Như thế, trong cuộc sống có hai con đường: một là loại trừ người khác khỏi cộng đồng, và một là con đường của nối kết trong hiệp nhất yêu thương. Con đường thứ nhất có vẻ nhỏ bé nhưng lại là nguyên nhất của tất cả mọi thứ chiến tranh và hận thù. Bởi vì quả thật, mọi thảm họa và chiến tranh đều khởi đi từ thái độ phân biệt, loại trừ. Con người bị loại trừ khỏi cộng đồng quốc tế nhưng cũng có thể bị loại trừ khỏi gia đình và ngay giữa một nhóm bạn bè với nhau. Quả là một con đường đầy chiến tranh và xung đột! Con đường thứ hai giúp chúng ta gặp gỡ Giêsu và dạy chúng ta biết rằng Đức Giêsu hoàn toàn khác biệt. Ngài không hề loại trừ nhưng luôn bao dung và gắn kết.”
Tuy nhiên, Đức Thánh Cha cũng ý thức rằng: “Việc nối kết mọi người không phải là chuyện dễ dàng, vì gặp phải chống đối, nhất là thái độ của những kẻ nghĩ mình được chọn, nghĩ mình là ưu tuyển. Bởi thế, Đức Giêsu mới kể hai dụ ngôn: dụ ngôn con chiên lạc và đồng tiền bị đánh mất. Cả người chăn chiên và người phụ nữ đều cố gắng làm mọi cách với ước mong tìm lại được thứ mà họ đã đánh mất. Và khi tìm thấy rồi, họ hoan hỷ vui mừng. Ngay lập tức, họ chia sẻ niềm vui ấy với bạn bè và hàng xóm vì họ vô cùng hạnh phúc: ‘Tôi đã tìm thấy, tôi đã đem về con chiên bị mất’. Đây chính là sự ‘bao dung’ của Thiên Chúa, hoàn toàn trái ngược với việc loại trừ của những ai ưa xét đoán và gạt bỏ người khác. Sự loại trừ tạo nên một vòng tròn nhỏ xíu chỉ gồm bạn bè hay những người hợp tính tình sở thích. Nhưng sự bao dung, gắn kết của Thiên Chúa lại rộng lớn, bao la. Ngài bao bọc tất cả mọi người, chẳng trừ một ai, trong hồng ân cứu độ. Tuy nhiên, chúng ta, với sự yếu đuối, tội lỗi, ghét ghen, đố kỵ, luôn có khuynh hướng loại trừ người khác. Và như đã nói ở trên, mọi hành vi loại trừ đều kết thúc bằng chiến tranh, thù hận.”
Tiếp tục bài giảng, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng, nếu tôi xét đoán và loại trừ người khác, đến một ngày tôi sẽ phải trả lẽ về chính mình trước mặt Thiên Chúa: “Đức Giêsu đã sống và hành động như Chúa Cha, Đấng đã sai Ngài đến để cứu chúng ta. Đức Giêsu không ngừng tìm kiếm để bao bọc chúng ta và nối kết chúng ta thành một cộng đồng, thành một gia đình. Bởi thế, chúng ta hãy chu toàn bổn phận của mình và đừng bao giờ xét đoán người khác. Thiên Chúa thấu biết tất cả. Thiên Chúa biết người kia đang làm gì. Thế nên, chúng ta đừng xét đoán anh ta, đừng loại trừ anh ta ra khỏi tâm hồn, ra khỏi lời cầu nguyện và nụ cười dễ mến của chúng ta. Nếu có cơ hội, ta hãy nói với anh những lời cởi mở, gần gũi. Chúng ta đừng xét đoán vì chúng ta không có quyền làm điều đó. Thánh Phao-lô đã nói: ‘Mỗi người chúng ta sẽ phải trả lời về chính mình trước mặt Thiên Chúa.’ Chúng ta xin ơn để được trở nên những người biết bao dung và gắn kết, không bao giờ khép cửa chối từ bất cứ ai nhưng luôn rộng mở với trái tim nhân ái. Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ân sủng này” (SD 05-11-2015).
Vũ Đức Anh Phương
Thánh lễ với Đức Thánh Cha (31-10) : Sự tha thứ của Thiên Chúa không giống với việc tha bổng của tòa án
“Linh mục tốt lành là người biết cảm thương và dấn thân vào đời sống của đoàn chiên. Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta giống như người cha tha thứ cho con cái mình, chứ không phải như một vị thẩm phán nơi tòa án.” Đây là hai chủ đề chính trong nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô khi ngài cử hành thánh lễ sáng thứ sáu ngày 30-10 tại nhà nguyện thánh Marta. Hôm nay, ngài giảng lễ bằng tiếng Tây Ban Nha.
Đức Thánh Cha nói: “Thiên Chúa có lòng xót thương. Ngài xót thương mỗi người chúng ta và toàn thể nhân loại. Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài đến với con người để chữa lành những thương tích, để phục hồi và đổi mới bộ mặt nhân trần.
Điều thú vị là tất cả chúng ta đều biết dụ ngôn người con hoang đàng. Dụ ngôn ấy thuật lại rằng khi người cha – hình ảnh biểu trưng của Thiên Chúa giầu lòng xót thương và tha thứ – nhìn thấy từ đằng xa đứa con thứ đang quay trở về; ông đã tỏ lòng xót thương. Lòng thương xót của Thiên Chúa không phải là sự thương hại. Sự thương hại chẳng có gì đáng nói cả. Bởi vì chúng ta có thể thấy tội nghiệp hay thương hại một con vật sắp chết, tỉ dụ như một con chó. Nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa lại hoàn toàn khác với sự thương hại ấy. Thiên Chúa thương xót một người là Ngài sẵn sàng can dự vào những vấn nạn mà người ấy đang gặp phải và đồng cảm với người ấy trong mọi trạng huống của cuộc đời. Nói khác đi, Thiên Chúa xót thương con người bằng tấm lòng của một người cha. Chính vì thế, Thiên Chúa mới sai Con Một của Ngài đến với nhân loại.”
Tiếp tục bài giảng, Đức Thánh Cha nói: “Đức Giêsu chữa lành bệnh tật cho dân chúng nhưng Ngài không đơn thuần là một thầy thuốc chữa bệnh. Hơn thế, việc chữa lành chính là một dấu chỉ về lòng thương xót của Thiên Chúa, để cứu chuộc con người, ‘để tìm lại con chiên bị lạc mà đem về đồng cỏ xanh tươi và trả lại đồng tiền bị đánh mất cho bà góa nghèo.’ Thiên Chúa có lòng xót thương. Thiên Chúa yêu thương chúng ta như người cha yêu thương con cái mình. Và khi Thiên Chúa tha thứ, Thiên Chúa cũng tha thứ giống như một người cha chứ không như một quan tòa chỉ đọc bản án tuyên bố: ‘Được tha bổng vì thiếu chứng cứ.’ Như vậy, sự tha thứ của Thiên Chúa xuất phát từ sâu thẳm bên trong con tim của Ngài. Thiên Chúa tha thứ cho một người chỉ vì Ngài yêu thương người ấy mà thôi.”
Đức Thánh Cha nói thêm: “Đức Giêsu được sai đến để mang Tin Mừng, để giải thoát những ai đang bị áp bức và để đi vào cõi lòng của mỗi người chúng ta, nhằm giải phóng chúng ta khỏi gông cùm của tội lỗi và sự dữ.
Điều mà một mục tử tốt lành thường làm là biết chạnh lòng thương và dấn thân vào đời sống của đoàn chiên, vì ngài là một linh mục giống như Đức Giêsu Linh Mục. Đã bao nhiêu lần (và có lẽ chúng ta nên đi xưng tội vì điều này), chúng ta phê bình, chỉ trích những linh mục, khi các vị ấy chẳng bao giờ quan tâm đến những chuyện đang xảy ra với con chiên trong xứ đạo hay với anh em mình trong cùng nhà dòng. Các vị ấy chẳng hề để ý đến ai. Vâng, đó thật sự không phải là những linh mục tốt. Một linh mục tốt lành là người biết cảm thông, biết dấn thân và dám mạo hiểm để đi vào cuộc đời của người khác.”
Đức Thánh Cha kết thúc bài giảng bằng việc cám ơn và chúc mừng Đức Hồng Y Javier Lozano Barragán, cũng đang hiện diện trong thánh lễ, nhân dịp kỷ niệm 60 năm linh mục của ngài. Đức Thánh Cha hồi tưởng lại với niềm biết ơn sâu xa về sự dấn thân của Đức Hồng Y trong lãnh vực y tế. Với tư cách là Bộ Trưởng Y Tế, Đức Hồng Y Barragán đã dấn thân phục vụ Giáo Hội ngang qua việc chăm sóc những người đau yếu, bệnh tật. Sau hết, Đức Thánh Cha mời gọi mọi người cùng dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì 60 năm linh mục hồng phúc và vì lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn tuôn đổ tràn trề trên nhân loại ngày hôm nay (SD 30-10-2015).
Vũ Đức Anh Phương
Thánh lễ với Đức Thánh Cha (29-10) : Thiên Chúa chỉ yêu thương chứ không hề kết án

Giảng trong thánh lễ sáng hôm nay, ngày 29-10 tại nhà nguyện thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ: “Thiên Chúa chỉ biết yêu thương chứ không hề kết án. Tình yêu thương chính là ‘điểm yếu’ của Ngài và là sự chiến thắng của chúng ta.”
Sự chiến thắng của chúng ta là tình yêu thương khôn tả của Thiên Chúa
Khởi đi từ thư của thánh Phao-lô Tông đồ gởi giáo đoàn Rôma, Đức Thánh Cha diễn giải rằng: “Kitô hữu là những người chiến thắng vì nếu có ‘Thiên Chúa bên đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?’. Nếu Thiên Chúa cứu độ chúng ta, ai còn dám kết án chúng ta? Dường như sức mạnh của sự vinh thắng này là ân ban mà mỗi tín hữu nắm trong tay như một tài sản quý giá. Bởi thế, hầu như mỗi Kitô hữu đều có thể thốt lên: ‘Chiến thắng. Chúng ta đã toàn thắng. Chúng ta là những nhà vô địch.’ Tuy nhiên, sự chiến thắng này cũng mang một nghĩa khác. Chúng ta chiến thắng không phải vì chúng ta có thể chiếm hữu được sự chiến thắng nhưng bởi một lý do khác. Chính lý do khác ấy khiến chúng ta chiến thắng, hay ít là nếu chúng ta không muốn chối từ, chúng ta sẽ luôn luôn chiến thắng. Đây chính là điều mà thánh Phao-lô tuyên bố: ‘Không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô, Chúa chúng ta.’
Như vậy, ý nghĩa thứ hai: không phải là chúng ta toàn thắng trên kẻ thù hay trên tội lỗi nhưng là chúng ta được gắn chặt vào tình yêu của Thiên Chúa đến nỗi không một ai, không một sức mạnh nào và không điều gì có thể tách chúng ra ra khỏi tình yêu này. Thánh Phao-lô đã nhìn thấy trong ân sủng của sự vinh thắng ấy một điều hết sức sâu xa: đó chính là hồng ân được tạo dựng lại, hồng ân được tái sinh trong Đức Giêsu Kitô. Như thế, thánh Phao-lô đã cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu khôn tả.
Điều ‘không thể’ của Thiên Chúa là Ngài không thể không yêu thương
Đức Thánh Cha nói: “Con người có thể chối từ ân ban vì thói hư danh, kiêu căng ngạo mạn hay vì tội lỗi của mình. Nhưng ân ban chính là tình yêu của Thiên Chúa, một Thiên Chúa không thể tách rời khỏi con người. Và đây chính là điều ‘không thể’ của Thiên Chúa. Chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa toàn năng, có thể làm được mọi sự. Nhưng ít là có một chuyện Ngài không làm được, đó là xa lìa, bỏ rơi chúng ta. Trong bài Tin Mừng, hình ảnh Đức Giêsu khóc thương cho thành Giê-ru-sa-lem giúp chúng ta hiểu hơn về tình yêu của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã khóc. Ngài khóc thương thành Giê-ru-sa-lem và việc thương khóc này biểu lộ trọn vẹn sự ‘không thể’ của Thiên Chúa: Thiên Chúa không thể không yêu thương, Ngài không thể bỏ rơi chúng ta.”
Bảo đảm của chúng ta: Thiên Chúa chỉ yêu thương chứ không hề kết án
Đức Thánh Cha tiếp tục triển khai: “Đức Giêsu khóc thương Giê-ru-sa-lem vì họ đã giết các ngôn sứ rao giảng ơn cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa ngỏ lời với thành Giê-ru-sa-lem và với mỗi người chúng ta: ‘Đã bao lần ta muốn tập họp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu.’ Đây thực sự là một hình ảnh hết sức dịu dàng dễ thương: ‘Đã bao lần ta muốn trao cho các ngươi sự êm ái và tình yêu ngọt ngào của Ta, giống như gà mẹ ấp ủ đàn con, nhưng các ngươi đã từ chối.’ Khi hiểu và cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa, thánh Phao-lô đã nói: ‘Tôi tin chắc rằng cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa.’
Thiên Chúa không thể không yêu thương! Và đây là một sự bảo đảm chắc chắn cho chúng ta. Chúng ta có thể chối từ tình yêu của Thiên Chúa. Chúng ta có thể từ chối giống như người trộm lành chối từ tình yêu của Thiên Chúa cho đến tận những giây phút cuối đời. Nhưng trên thánh giá, Thiên Chúa vẫn kiên trì chờ đợi anh với một tình yêu thương tha thứ. Ngay cả một người có tội lỗi nhất, có ngạo mạn hay ăn nói phạm thượng nhất, Thiên Chúa vẫn yêu thương bằng một sự dịu dàng và nhân hậu của người cha. Tình yêu ấy giống như thánh Phao-lo đã xác tín, như Tin mừng đã thuật lại và như Đức Giêsu đã nói: ‘như gà mẹ ấp ủ đàn con’. Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, là Tạo Hóa có thể làm được mọi sự nhưng Ngài lại khóc. Sự khóc thương của Đức Giêsu đối với thành Giê-ru-sa-lem, trong những giọt nước mắt ấy, chứa đựng tất cả tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa khóc thương chúng ta khi chúng ta lạc xa đường lối Ngài; Thiên Chúa khóc thương mỗi người chúng ta; Thiên Chúa khóc thương những kẻ tội lỗi đã làm ra bao nhiêu chuyện gian ác, xấu xa cho người khác…Đứng trước tất cả những điều ấy, Thiên Chúa không hề kết án nhưng Ngài chỉ khóc và chờ đợi. Ngài đã khóc vì yêu thương!" (SD 29-10-2015).
Vũ Đức Anh Phương
Thánh lễ với Đức Thánh Cha (23-10) :Dấu chỉ thời đại
Thánh Lễ Sáng Ngày 23-10-2015 - OSS_ROM
Giảng trong thánh lễ sáng hôm nay (23-10) tại nhà nguyện thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ: “Thời đại đổi thay, mỗi Kitô hữu cũng phải không ngừng đổi mới. Điều này mời gọi mỗi người chúng ta – với một sự tự do và khồng hề sợ hãi – hãy vượt thoái khỏi một thứ chủ nghĩa an tâm (cho rằng chỉ cần làm theo những gì luật dạy là đủ) và một định kiến (chỉ biết kiên vững tin tưởng vào Đức Giêsu và chân lý của Tin Mừng), để biết uyển chuyển không ngừng mà nhận xét những dấu chỉ của thời đại.
Đức Thánh Cha bắt đầu bài giảng với những suy tư về các bài đọc, đặc biệt là bài trích thư Rôma. Đức Thánh Cha nói: “Thánh Phao-lô đã rao giảng cách rất hùng hồn rằng chúng ta đã được nhận lãnh ân sủng của sự tự do nơi Đức Giêsu. Đó là ân sủng được giải thoát khỏi tội lỗi, được tự do, được trở nên con cái của Thiên Chúa như Đức Giêsu. Chính ân sủng của sự tự do này khiến chúng ta có thể thân thưa với Thiên Chúa: ‘Cha ơi!’ Vì có tự do nên chúng ta phải mở lòng ra trước quyền năng của Thánh Thần và phải thấu hiểu những gì đang xảy ra trong nội tâm cũng như xung quanh bên ngoài chúng ta. Nếu như trước đây, chúng ta đã ‘nhìn vào trong’ để phân định những chuyển động nội tâm như: đâu là thần lành và điều gì đến từ sự thôi thúc của vị thần lành ấy; ngày hôm nay với đoạn Tin Mừng theo thánh Luca, chúng ta được mời gọi hãy ‘nhìn ra ngoài’ để biết nhận xét những gì đang diễn ra xung quanh chúng ta.”
Đức Thánh Cha tiếp tục bài giảng: “Mỗi người chúng ta đều có tự do để phân định. Nhưng để có thể phân định được, chúng ta phải biết rõ điều gì đang diễn ra.” Rồi ngài đặt vấn đề: “Vậy chúng ta có thể thực hiện việc phân định này như thế nào? Chúng ta có thể phân định điều mà Giáo Hội gọi là ‘nhận biết những dấu chỉ thời đại’ ra sao? Quả thật, thời đại thực sự đang đổi thay. Và một Kitô hữu khôn ngoan là người biết nhận xét những thay đổi này, biết nhận ra những khác biệt của thời đại và biết đọc ý nghĩa của những dấu chỉ trong thời đại ấy. Điều này có nghĩa là gì, hàm ý của điều kia thật sự ra sao? Chúng ta hãy luôn phân định như thế với một sự tự do, chứ đừng sợ hãi, run rẩy.”
Tuy nhiên, Đức Thánh Cha cũng ý thức rằng đây không phải là một chuyện dễ dàng, vì có quá nhiều yếu tố ngoại cảnh tác động và thậm chí những yếu tố ấy đã đưa lối khiến nhiều người rơi vào trạng thái dễ dãi, chấp nhận, không muốn phân định. Đức Thánh Cha nói: “Chúng ta thường có thói quen bằng lòng với những điều người ta nói; với những điều mà ta đã nghe, đã đọc… Chúng ta cảm thấy thỏa mãn và dừng lại với những điều ấy. Tuy nhiên, chúng ta có tự do. Chúng ta có quyền để nhận xét, để phận định. Chúng ta phải hỏi chính mình rằng: Đâu là sự thật? Đâu mới là thông điệp mà Thiên Chúa muốn nói với chúng ta ngang qua những dấu chỉ của thời đại này?
Với những câu hỏi ấy, Đức Thánh Cha cũng đề xuất một gợi ý rất thực tế: “Để hiểu những dấu chỉ thời đại, điều cần thiết trước hết là phải biết thinh lặng: hãy thinh lặng và quan sát. Sau đó, hãy suy tư và phản tỉnh. Ví dụ, tại sao ngày hôm nay chiến tranh lại xảy ra liên miên như vậy? Đâu là lý do khiến một điều gì đó diễn ra? Tiếp đến, chúng ta hãy cầu nguyện. Như vậy, có ba bước trong việc phân định: tĩnh lặng, suy tư phản tỉnh và cầu nguyện. Chỉ khi làm như thế, chúng ta mới có thể hiểu được những dấu chỉ của thời đại. Dấu chỉ đó cũng chính là điều mà Đức Giêsu muốn ngỏ cùng chúng ta.
Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể sẽ bị cám dỗ mà lí luận rằng: ‘Làm sao tôi có thể phân định được, vì tôi đâu có được học hành nhiều. Tôi đâu có được đến trường, đâu có được học đại học…’ Nhưng việc phân định hay hiểu ý nghĩa của những dấu chỉ thời đại không phải là công việc dành riêng cho những người ưu tuyển hay những người học cao biết rộng. Không hề có một ngoại lệ nào cả. Thật vậy, Đức Giêsu đã không nói: ‘Kìa, hãy nhìn xem những sinh viên đại học, những tiến sỹ, những bậc trí thức đang phân định như thế nào mà học tập’. Nhưng trái lại, Ngài nói: ‘Hãy xem những người nông dân chân chất. Tuy họ đơn sơ mộc mạc nhưng lại có thể biết khi nào mưa đến, khi nào cây mọc. Họ có thể phân biệt được cỏ dại với lúa đồng’. Như vậy, với sự đơn sơ, chân thành cộng với việc thinh lặng, suy tư phản tỉnh và cầu nguyện; chúng ta có thể hiểu ý nghĩa của những dấu chỉ thời đại. Thời đại thay đổi và chúng ta, những Kitô hữu, cũng phải không ngừng đổi mới. Chúng ta đừng chỉ mãi nhắc lại điệp khúc “phải kiên vững vào niềm tin nơi Đức Giêsu, phải xác tín vào chân lý Tin Mừng’ nhưng chúng ta còn phải có đôi mắt rộng mở và một thái độ luôn biết uyển chuyển theo những dấu chỉ của thời đại. Nói khác đi, chúng ta đừng lấy lý do là phải ‘tin tưởng vào Đức Giêsu và phải xác tín vào chân lý Tin Mừng’ mà quên đi việc nhận xét, phân định những biến chuyển của thời đại.
Cuối cùng, Đức Thánh Cha lập lại ý tưởng mà ngài đã triển khai lúc ban đầu: “Chúng ta tự do. Chúng ta tự do vì chính Đức Giêsu đã trao ban cho chúng ta ân sủng của sự tự do. Bởi thế, chúng ta không chỉ nhìn xem xét những chuyển động bên trong chúng ta. Chúng ta không chỉ phân định những suy nghĩ, tình cảm nội tâm nhưng còn biết phân định tất cả những gì đang diễn ra xung quanh, biết phân định cả những dấu chỉ của thời đại. Chúng ta có thể làm được điều đó bằng sự thinh lặng, suy tư phản tỉnh và cầu nguyện” (SD 23-10-2015).
Vũ Đức Anh Phương
Tuy không phải là những nhà khổ tu nhiệm nhặt, nhưng sự cố gắng, nỗ lực của chúng ta sẽ mở ra cánh cửa cho Thần Khí
Thánh Lễ Sáng Ngày 22-10-2015 - OSS_ROM
Sức mạnh của người Kitô hữu hệ tại ở việc biết mở cửa tâm hồn trước Thần Khí. Sự hoán cải đối với người Kitô hữu là một nhiệm vụ, là một công việc phải thực hiện mọi ngày trong cuộc sống. Chính việc hoán cải liên lỉ ấy dẫn chúng ta đến sự gặp gỡ thân mật với Đức Giêsu. Để minh họa, Đức Thánh Cha kể câu chuyện về một người mẹ đang mang trong mình căn bệnh ung thư và người mẹ ấy đã cố gắng hết sức để chiến thắng bệnh tật. Đây chính là nội dung bài giảng được Đức Thánh Cha Phanxicô trình bày trong thánh lễ sáng hôm nay 22-10-2015 tại nhà nguyện thánh Marta.
Được gợi hứng từ thư của thánh Phao-lô Tông Đồ gởi giáo đoàn Roma, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng: “Để được giải thoát khỏi ách tội lỗi mà trở nên công chính, thánh thiện; chúng ta phải cố gắng, nỗ lực mỗi ngày. Đối với mỗi Kitô hữu, hoán cải là một nhiệm vụ, là một công việc phải thực hiện liên lỉ.”
Chúng ta không cần phải là những nhà khổ tu nhiệm nhặt. Nhưng nếu nỗ lực cố gắng, chúng ta sẽ nên thánh
Đức Thánh Cha nói: “Thánh Phao-lô đã dùng hình ảnh của một vận động viên, một người đang rèn luyện thân mình để chuẩn bị cho những cuộc thi đấu. Nỗ lực mà vận động viên ấy phải bỏ ra quả là ghê gớm. Như vậy, để chiến thắng trong cuộc đấu trên thao trường, vận động viên đã phải nỗ lực tập luyện không ngừng. Còn chúng ta, nếu muốn chiếm được phần thưởng không bao giờ hư nát trong Nước Trời; chúng ta cũng phải nỗ lực rèn luyện nhiều như thế nào? Do đó, thánh Phao-lô thúc bách chúng ta ‘nỗ lực lao mình về phía trước’.
Nhưng có người sẽ hỏi rằng: ‘Thưa cha, nếu như vậy, phải chăng nên thánh là do cố gắng, nỗ lực của chúng ta giống như phần thường vận động viên đạt được khi chiến thắng trong cuộc chạy đua trên thao trường?’ Câu trả lời là không. Nỗ lực hay cố gắng của chúng ta – chẳng hạn như khi chúng ta thờ phượng, kính mến Chúa hết linh hồn, hết lòng, hết trí khôn và hết sức lực trong tất cả mọi ngày sống – chỉ là mở ra cánh cửa đối với Thần Khí. Khi cánh cửa tâm hồn đã mở, Thánh Thần Thiên Chúa sẽ đi vào và cứu độ chúng ta. Ngài chính là quà tặng của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Nhưng nếu cố gắng, nỗ lực nhiều như thế, phải chăng chúng ta sẽ trở thành các vị khổ tu nhiệm nhặt? Câu trả lời cũng là không. Chúng ta không phải là những nhà khổ tu. Nhưng đơn giản là, với nỗ lực của bản thân, chúng ta cố gắng để mở cách cửa tâm hồn cho Thần Khí.”
Hãy lao mình về phía trước, đừng thoái lui khi phải đối diện với cám dỗ, thử thách
Đức Thánh Cha nói: “Đây là một nhiệm vụ khó khăn, vì sự yếu đuối của chúng ta, vì sức nặng của nguyên tội, vì ma quỷ luôn tìm cách kéo chúng ta thụt lùi lại phía sau. Tác giả của thư gửi tín hữu Do Thái đã cảnh giác chúng ta phải chống lại cám dỗ thoái lui. Chúng ta phải kiên vững, không được bỏ chạy hay đầu hàng. Chúng ta phải luôn tiến về phía trước, mỗi ngày một chút, cho dù có gặp phải những khó khăn, thách đố ghê gớm.
Một vài tháng trước, tôi đã gặp một quý cô. Cô còn khá trẻ và là mẹ của một gia đình – một gia đình khá hạnh phúc và ấm êm – nhưng lại mắc bệnh ung thư, ung thư ác tính. Tuy bệnh tật nhưng cô sống hết sức hạnh phúc. Cô đi lại và làm việc hệt như một người khỏe mạnh. Khi chia sẻ về thái độ sống lạc quan này, cô nói: “Thưa Đức Thánh Cha, con chỉ đang cố gắng hết sức để có thể chiến thắng căn bệnh ung thư này thôi ạ!’. Đấy, Kitô hữu là như thế! Chúng ta đã nhận lãnh ân sủng nơi Đức Giêsu Kitô và được giải thoát khỏi gông cùm tội lỗi, được giải thoát khỏi một cuộc sống gian ác mà tiến vào đời sống ân sủng trong Đức Kitô và trong Thần Khí. Thế nên, chúng ta cũng hãy sống và hành xử giống như quý cô ấy: cố gắng mỗi ngày, từng chút một, từng chút một.”
Chúng ta hãy xin ơn được rèn luyện thật tốt trong thao trường cuộc sống
Đức Thánh Cha nêu ra một số cám dỗ, chẳng hạn như khi chúng ta có “nhu cầu muốn tán gẫu” để nói xấu ai đó. Đức Thánh Cha nói: “Trong trường hợp này, chúng ta tập cố gắng để giữ im lặng, đừng nói gì cả. Hay trường hợp khác: Khi cảm thấy buồn ngủ, mệt mỏi, chúng ta chẳng muốn đọc kinh cầu nguyện. Nhưng chúng ta cứ cố gắng đi, chỉ cầu nguyện một chút thôi cũng được. Chính những cố gắng và hy sinh nho nhỏ hằng ngày như thế sẽ giúp chúng ta tiến lên không ngừng trên đàng nhân đức. Những cố gắng ấy sẽ giúp chúng ta không từ bỏ, không thoái lui, không quay về con đường gian ác nhưng giúp chúng ta lao mình về phía trước để tiếp chạm vào ân sủng, vào lời đoan hứa của Đức Giêsu Kitô. Đó chính là được gặp gỡ Ngài.”
Cuối cùng, Đức Thánh Cha kết luận: “Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn sủng này. Đó là được ơn rèn luyện mình thật tốt, được nai nịt sẵn sàng trong cuộc thao luyện hằng ngày ngõ hầu có thể gặp gỡ Thiên Chúa. Bởi vì, chúng ta đã được nhận lãnh ơn huệ của sự công chính, được lãnh nhận món quà của ân sủng và của Thần Khí trong Đức Giêsu Kitô” (SD 22-10-2015).
Vũ Đức Anh Phương
Thiên Chúa không dừng lại. Ngài luôn bước ra để tìm kiếm chúng ta và Ngài yêu chúng ra bằng một tình yêu không biên giới
Thánh Lễ Sáng Ngày 20-10-2015 - OSS_ROM
“Thiên Chúa luôn ban cho con người ân sủng dồi dào, nhưng con người lại có thói quen cân đong, tính toán trong mọi hoàn cảnh. Bởi vậy, để hiểu được sự đầy tràn, chan chứa trong tình yêu của Thiên Chúa luôn luôn cần đến hoa trái của ân sủng.” Đây là nội dung của bài giảng mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã triển khai trong thánh lễ, được cử hành tại nhà nguyện thánh Marta vào sáng hôm nay 20-10-2015.
Sự dồi dào, chan chứa
Đức Thánh Cha nói: “Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người là như thế. Nhưng dường như con người lại không thể hiểu thấu tình yêu quảng đại này và thường chần chừ, do dự khi quyết định trao tặng một điều gì đó cho người khác trong khả năng của mình. Ân sủng của Thiên Chúa được ban tặng nhờ Đức Giêsu, Đấng đã vượt thắng sự sa ngã của Adam, là một minh chứng cho việc trao ban cách quảng đại. Ân sủng này chính là tình bằng hữu giữa con người với Thiên Chúa.
Như đã trao tặng tình bằng hữu, phải chăng Thiên Chúa cũng ban cho con người cả hồng ân cứu độ? Thiên Chúa sẽ ban khi con người biết làm việc thiện: ‘Người sẽ đong cho anh em đấu hảo hạng đã dằn, đã lắc và đầy tràn.’ Điều này cho thấy sự dồi dào của ân sủng, và chính từ “dồi dào’ cũng được lặp lại đến ba lần trong Bài Đọc Một. Đứng trước ân sủng chứa chan ấy, thánh Phao-lô đã thốt lên: ‘Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội.’ Vâng, ân sủng chứa chan. Đây chính là tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu không thể đo lường được.”
Một vị Thiên Chúa luôn bước ra ngoài
Tiếp tục bài giảng, Đức Thánh Cha nói: “Sự vô tận hay không thể đo lường trong tình yêu của Thiên Chúa giống như tình yêu của người cha nhân hậu trong bài Tin Mừng dành cho đứa con của mình. Ngày ngày ông vẫn dõi mắt về phía chân trời xa mà trông chờ người con quay trở về. Trái tim của Thiên Chúa không bao giờ đóng lại nhưng luôn rộng mở. Và khi chúng ta quay trở về như người con thứ, Thiên Chúa sẽ chạy lại ôm chầm lấy chúng ta, hôn lấy hôn để và sai mở tiệc ăn mừng.
Thiên Chúa không hề nhỏ nhen, ích kỷ. Ngài không hề biết đến những suy tính nhỏ mọn. Nhưng Ngài trao ban tất cả. Thiên Chúa không bao giờ dừng lại. Ngài luôn mong ngóng, chờ đợi chúng ta hoán cải. Ngài là vị Thiên Chúa luôn bước ra ngoài, bước ra để tìm kiếm và để tìm kiếm mỗi người chúng ta, không sót một ai. Mỗi ngày, Ngài đang kiếm tìm chúng ta và sẽ tìm kiếm chúng ta luôn mãi. Đây cũng là ý nghĩa của dụ ngôn con chiên lạc và đồng tiền bị đánh mất: luôn luôn kiếm tìm.”
Cái ôm không biên giới
Đức Thánh Cha nhắc lại lời Chúa Giêsu: “Chúng ta biết rằng, Đức Giêsu đã từng nói: ‘Trên trời, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.’ Tuy nhiên, với tiêu chuẩn phàm nhân – nhỏ bé và giới hạn – thật khó để chúng ta có thể hiểu được tình yêu của Thiên Chúa. Chỉ với ân sủng, người ta mới có thể hiểu được điều này.” Để minh họa, Đức Thánh Cha kể một câu chuyện. Ngài nói: “Trước đây, có một nữ tu trong giáo phận của tôi. Vị nữ tu ấy đã 84 tuổi nhưng hằng ngày vẫn không ngừng đi lại giữa những lối đi của bệnh viện để chào thăm và trò truyện với các bệnh nhân bằng một nụ cười luôn tươi nở trên môi. Đó chính là nụ cười của tình yêu Thiên Chúa. Quả thật, vị nữ tu ấy đã được ban tặng ơn để hiểu mầu nhiệm tình yêu dồi dào, chan chứa của Thiên Chúa, điều mà phần lớn người không hiểu được.”
Cuối cùng, Đức Thánh Cha kết luận: “Đúng là chúng ta có thói quen hay cân đong đo đếm trong mọi tình huống. Nhưng chính những thứ chúng ta hay đo đếm và ngay cả cách đo lường của chúng ra cũng thật nhỏ bé, giới hạn. Bởi thế, tốt hơn hết là chúng ta hãy nài xin ân sủng của Thần Khí và nguyện cầu cùng Chúa Thánh Linh giúp chúng ta hiểu hơn về tình yêu của Thiên Chúa, đồng thời giúp chúng ta biết khao khát ơn được Thiên Chúa ‘ôm chầm lấy, hôn lấy hôn để’ bằng một tình yêu không biên giới” (SD 20-10-2015).
Vũ Đức Anh Phương
Bao nhiêu và như thế nào
Thánh Lễ Sáng Ngày 19-10-2015 - OSS_ROM
“Tham lam là một hình thức tôn thờ ngẫu tượng. Nó làm suy giảm khả năng chia sẻ và trao ban của con người với tha nhân. Đức Giêsu không kết án sự giàu có nhưng nếu quá gắn bó với của cải sẽ gây ra những chia rẽ trong gia đình và là nguyên nhân làm phát sinh chiến tranh.” Mối liên hệ phức tạp này giữa con người và của cải chính là điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô muốn truyền tải tới mọi người đang hiện diện trong thánh lễ ngày 19-10, tại nhà nguyện thánh Marta.
Khi suy niệm về những bài đọc trong thánh lễ, Đức Thánh Cha nói: “Việc quá gắn bó với sự giàu sang, tiền của cũng giống như thờ ngẫu tượng. Không ai có thể làm tôi hai chủ. Hoặc là phục vụ Thiên Chúa hoặc là làm tôi tớ cho tiền của. Chúng ta cần biết rằng Chúa Giêsu không hề lên án của cải chỉ vì của cải. Nhưng Ngài khuyến cáo chúng ta trước thái độ đặt sự an toàn của bản thân vào tiền của và biến tôn giáo thành một thứ ‘công ty bảo hiểm’. Tức là, một mặt ta chỉ lo tìm kiếm tiền bạc để bảo đảm an toàn cho cuộc sống, nhưng mặt khác ta chạy đến với tôn giáo để khỏi phải sa hỏa ngục. Điều này là không thể được.
Thêm vào đó, việc gắn bó với của cải gây ra chia rẽ. Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy hai anh em ruột thịt đã tranh cãi với nhau về việc chia gia tài. Đây cũng chính là điều vẫn thường xảy ra trong xã hội ngày hôm nay. Thử nghĩ xem chúng ta đã gặp biết bao gia đình: Họ cãi vã, tranh chấp, thậm chí ghét bỏ và không thèm nhìn mặt nhau chỉ vì gia tài, của cải. Điều ấy cho thấy rằng tình yêu trong gia đình không còn quan trọng nữa. Tình yêu của con cái đối với cha mẹ, của anh chị em đối với nhau và của cha mẹ dành cho con cái không còn quan trọng bằng sức mạnh của đồng tiền. Đây là một sự hủy hoại. Tất cả chúng ta, ít là một lần trong đời, đã bắt gặp những gia đình rơi vào thảm trạng bi thương như thế.
Sự tham lam của cải còn dẫn đến chiến tranh. Người ta thường bắt đầu với một lý tưởng cao đẹp, nhưng đằng sau lý tưởng ấy lại là tiền bạc: tiền của những kẻ buôn bán vũ khí, tiền của những kẻ thu lợi nhuận từ chiến tranh. Bởi vậy, Đức Giêsu đã nói rất rõ ràng: ‘Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi sự tham lam.’ Tham lam thực sự rất nguy hiểm. Không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu. Tiền của chỉ mang đến cho chúng ta một sự bảo đảm tạm bợ. Nếu chúng ta vừa đi đến nhà thờ để đọc kinh, cầu nguyện vừa mang trong mình một con tim quá gắn bó với của cải; chắc chắn, chúng ta sẽ không có một kết cục tốt đẹp.”
Quay trở lại câu chuyện dụ ngôn trong bài Tin Mừng, Đức Thánh Cha mô tả hình ảnh của một người phú hộ giàu có: “Ông phú hộ là người rất giỏi làm ăn, kiếm tiền. Ông biết cách làm sao để ruộng nương sinh nhiều hoa lợi. Những kho lẫm của ông được tích trữ đầy ứ hoa mầu và của cải. Thay vì suy nghĩ: ‘À, hoa màu nhiều như vậy, ta nên chia sẻ chúng với những người làm công cho ta. Nhờ vậy, họ có thêm chút thu nhập để chăm lo cho gia đình của họ’. Nhưng ông lại tự nhủ: ‘Mình phải làm gì đây? Vì còn chỗ đâu để tích trữ hoa mầu! À, mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó.’ Chúng ta nhận thấy rằng, luôn luôn có chữ ‘hơn’. Thật vậy, sự gắn bó với của cải chẳng bao giờ có giới hạn. Một khi đã gắn bó với của cải; mặc dù đã có dư thừa rồi, chúng ta lại cứ muốn hơn nữa, hơn nữa và hơn nữa. Thế nên, của cải chính là chúa tể của những ai có lòng gắn bó với giàu sang, tiền bạc.
Đức Giêsu đã mời gọi mỗi người chúng ta phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam. Và, thật ngạc nhiên khi Ngài giới thiệu cho chúng ta con đường cứu độ chính là con đường của Tám mối Phúc. Mối Phúc đầu tiên: ‘Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ’. Điều này có nghĩa là đừng để lòng mình gắn bó với của cải vật chất. Nếu có nhiều của cải, ta hãy biến chúng thành phương tiện để phục vụ người khác, để chia sẻ và để đến với tha nhân.”
Đức Thánh Cha nói thêm: “Có người sẽ hỏi rằng: ‘Vậy bây giờ chúng con phải làm gì? Đâu là dấu chỉ cho biết chúng con không tôn thờ ngẫu tượng, không bị gắn bó với của cải vật chất?’ Câu trả lời rất đơn giản và ở ngay trong Tin Mừng. Thật vậy, ngay từ hồi Giáo Hội sơ khai đã có dấu chỉ này, đó là hãy làm việc bố thí. Như thế, dấu chỉ cho biết chúng ta không ‘tôn thờ ngẫu tượng’ là khi chúng ta biết bố thí, biết chia sẻ với những người đang túng thiếu. Không phải chỉ sẻ chia những của dư thừa mà còn tất cả những gì khiến chúng ta phải trả ‘một cái giá thật đắt’. Tức là chia sẻ cả những gì đang rất cần thiết đối với chúng ta. Đó là một dấu chỉ hết sức đẹp. Dấu chỉ ấy có nghĩa là: Tình yêu của Thiên Chúa vĩ đại hơn việc gắn bó với của cải vật chất.”
Và để đúc kết, Đức Thánh Cha nói: “Có ba câu hỏi chúng ta cần phải tra vấn mình. Câu hỏi trước hết: Tôi có dám sẻ chia không? Câu hỏi thứ hai: Tôi chia sẻ bao nhiêu? Và câu hỏi thứ ba: Tôi chia sẻ như thế nào? Giống như Đức Giêsu, tôi sẻ chia cho người khác bằng lòng quan tâm và tình yêu mến hay tôi chỉ thực hiện hành vi ấy giống như một người làm công ăn lương? Khi giúp đỡ người khác, tôi có nhìn vào đôi mắt của họ? Tôi có dám tiếp chạm vào đôi tay của họ không? Họ chính là thân xác của Đức Kitô, là anh em của tôi, là chị em của tôi. Trong giờ khắc tuyệt vời của sự sẻ chia chân thành, chúng ta thực sự được trở nên giống Thiên Chúa Cha, Đấng chẳng hề bỏ rơi và luôn ban phát của ăn nuôi dưỡng chim trời. Đấy chính là tình yêu trao ban của Thiên Chúa.”
Cuối cùng, Đức Thánh Cha kết luận: “Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa giải thoát chúng ta khỏi sự tôn thờ ngẫu tượng; đó chính là lòng gắn bó với tiền tài, của cải. Chúng ta cũng xin ơn để biết chiêm ngắm Thiên Chúa, Đấng rất mực giàu có nơi con tim, trong sự quảng đại và trong tình xót thương. Chúng ta xin ơn để biết giúp đỡ tha nhân bằng việc thực hành bố thí như chính Chúa đã làm. Nhưng có người sẽ nói: ‘Thưa cha, khi Thiên Chúa trao ban cho chúng ta, Ngài chẳng mất mát gì cả...’. Thực ra, Đức Giêsu Kitô, Đấng có địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, đã ban tặng cho chúng ta tất cả. Ngài đã tự hạ mình xuống, đã hủy mình đi để trao cho chúng ta trọn vẹn con người của Ngài” (SD 19-10-2015).
Vũ Đức Anh Phương
Thói đạo đức giả là một loại vi-rút ẩn núp trong bóng tối. Nhưng bằng cầu nguyện, chúng ta sẽ chiến thắng.
Thánh Lễ Sáng Ngày 16-10-2015 - OSS_ROM
Giảng trong thánh lễ sáng hôm nay tại nhà nguyện thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Chúng ta cần phải cầu nguyện liên lỉ để đừng bị lẫy nhiễm những ‘vi-rút’ giả hình. Thói đạo đức giả ấy mê hoặc người khác với những lời dối trá luôn ẩn núp trong bóng tối.”
Đức Thánh Cha mô tả lại bối cảnh trong bài Tin Mừng theo thánh Luca: “Khi ấy, Đức Giêsu và các môn đệ đang ở giữa một đám đông có đến hàng vạn người, đông đến nỗi họ giẫm lên nhau. Và Đức Giêsu bắt đầu cảnh giác các môn đệ bằng những lời rất thẳng thắn: ‘Anh em phải coi chừng men Pha-ri-sêu.’ Đức Thánh Cha nhận xét rằng: “Men là một thứ rất nhỏ bé. Nhưng với Đức Giêsu, men Pha-ri-sêu giống như ‘vi-rút’. Và như một vị lương y, Đức Giêsu đã khuyên nhủ những cộng sự viên của Ngài là các môn đệ cần phải cảnh giác trước nguy cơ lây nhiễm thứ vi-rút đó. Thói đạo đức giả không hề có màu sắc rõ rệt để nhận biết, nhưng cứ thích chơi đùa theo kiểu lấp lửng, nửa thật nửa giả. Kẻ giả hình thường luồn lách và dụ dỗ người khác trong trạng thái ‘tranh tối tranh sáng’ không rõ ràng, với ‘sự quyến rũ của những lời dối trá’.
Đức Thánh Cha nói tiếp: “Giả hình cũng là một cách sống, một cách hành xử và một cách để nói những điều không rõ ràng. Cứ nửa đùa, nửa thật… Không sáng, cũng chẳng tối. Cách thức hành động của người giả hình dường như chẳng đe họa hay gây thiệt hại gì đến ai, giống như con rắn trườn bò, luồn lách. Nhưng anh ta lại có cái vẻ đẹp quyến rũ của cái trạng thái nửa sáng nửa tối, của những thứ không rõ ràng, của nhưng lời nói không minh bạch; và nhất là sự mê hoặc của những lời đường mật dối trá hay của dáng mạo bề ngoài. Đối với những người Pha-ri-sêu giả hình, tâm hồn họ bị lấp đầy bởi lòng tự kiêu và sự hư danh. Họ thích đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài, thích được chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ làm tất cả những điều ấy vì muốn chứng tỏ họ là người quan trọng và có học thức.
Đứng trước thứ men giả hình, Đức Giêsu khích lệ dân chúng: ‘Anh em đừng sợ vì không có gì che giấu mà không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết.’ Từ đó, Đức Thánh Cha nói: “Men Pha-ri-sêu như một thứ vi-rút khiến anh chị em bị nhiễm bệnh và dẫn đến cái chết. Hãy cẩn thận! Thứ men này sẽ đẩy anh chị em vào bóng tối. Hãy cẩn thận. Nhưng có một Đấng còn mạnh hơn chất men này. Đó chính là Thiên Chúa Cha, Đấng ngự trên trời. ‘Năm con chim sẻ chỉ bán được hai hào, phải không? Thế mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa. Ngay đến tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi. Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.’ Như vậy, trước tất cả những nỗi sợ hãi mà chúng ta phải đối diện ở khắp mọi nơi hay nỗi sợ trước sự lây nhiễm của men Pha-ri-sêu, Đức Giêsu đã nói với chúng ta rằng: Có Thiên Chúa là Cha yêu thương chúng ta và hết lòng quan tâm chăm sóc chúng ta.”
Tiếp đến, Đức Thánh Cha nói: “Chỉ có một cách để tránh không bị lây nhiễm. Cách thức mà Đức Giêsu đã chỉ cho chúng ta: Hãy cầu nguyện. Đó là giải pháp duy nhất để không rơi vào thói đạo đức giả. Nếu không cầu nguyện, chúng ta mãi chơi vơi giữa cuộc hành trình và chẳng bao giờ tiến tới được ánh sáng của Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta hãy cầu nguyện, cầu nguyện liên lỉ.”
Cuối cùng, Đức Thánh Cha dâng một lời nguyện để kết thúc bài giảng: “Lạy Chúa Giêsu xin bảo vệ Hội Thánh Chúa, một Hội Thánh đang ôm ấp tất cả chúng con trong mình. Xin canh giữ đoàn dân Chúa, những người đang tụ họp bên Chúa ‘như muốn giẫm lên nhau vì đông đúc’. Xin bảo vệ đoàn dân Chúa, bởi vì Chúa yêu thích sự sáng và sự sáng lại đến từ Chúa Cha; và từ Cha mà Chúa đã đến để cứu chuộc chúng con. Xin che chở dân Chúa để họ đừng trở nên những kẻ giả hình, để họ đừng rơi vào một kiểu sống lãnh đạm, dửng dưng. Xin chăm sóc đoàn dân Chúa vì họ là những người đang vui mừng khôn tả khi nhận biết rằng có một Thiên Chúa là Cha, Đấng yêu thương họ vô cùng” (SD 16-10-2015).
Vũ Đức Anh Phương
Không ai có thể kiểm soát ơn cứu độ, vì tình yêu của Thiên Chúa được ban tặng cách nhưng không
Thánh Lễ Ngày Sáng 15-10-2015 - OSS_ROM
“Hãy cảnh giác trước những nhà thông luật vì họ đang thu hẹp chân trời ân sủng và tình yêu thương hải hà của Thiên Chúa. Họ chỉ tập trung đến giới luật mà lãng quên tình mến, và muốn trở thành những người kiểm soát ơn sủng.” Đây là nội dung chính trong bài giảng của Đức Thánh Cha trong thánh lễ sáng hôm nay tại nhà nguyện thánh Marta.
Khởi đầu bài giảng, Đức Thánh Cha nói: “Một trong những điều khó hiểu đối với tất cả những người Kitô hữu chúng ta là chúng ta được ban tặng hồng ân cứu độ cách nhưng không nhờ Đức Giêsu Kitô. Chính những người trong thời đại của thánh Phao-lô cũng cảm thấy khó khăn để hiểu giáo lý này: ‘Ân huệ của Thiên Chúa được ban cách nhưng không’. Chúng ta biết rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Vì yêu thương, Ngài đã đến thế gian để cứu chuộc và đã chết vì chúng ta. Ta đã nghe những điều ấy rất nhiều lần đến nỗi cảm thấy quen thuộc. Nhưng khi chúng ta đi sâu vào mầu nhiệm ‘Thiên Chúa tình yêu không ranh giới’, chúng ta sẽ cảm thấy kinh ngạc và thậm chí là không thể hiểu nổi.”
Đừng thu hẹp khung trời ân thiêng, vì tình yêu của Thiên Chúa không có giới hạn
Chúng ta bắt buộc phải thực thi những điều mà Đức Giêsu chỉ dạy là đúng đắn và nên làm. Nhưng sự đáp trả của chúng ta trước hồng ân cứu độ lại là một hành động tự do, vì hồng ân ấy xuất phát từ tình yêu vô vị lợi của Thiên Chúa.
Đức Thánh Cha nói: “Đức Giêsu tỏ ra gay gắt với những nhà thông luật, vì Ngài đã nói với họ những lời rất mạnh và cứng rắn: ‘Khốn cho các ngươi hỡi những nhà thông luật! Các ngươi đã cất giấu chìa khóa của sự hiểu biết: các ngươi đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các ngươi lại ngăn cản.’ Chìa khóa ấy chính là chìa khóa của ân sủng, của sự hiểu biết.
Những nhà thông luật nghĩ rằng chỉ cần tuân giữ tất cả những giới răn là có thể đảm bảo cho ơn cứu độ. Nhưng chính những vị ấy lại không thực thi những gì giới luật đòi buộc. Vì quá tập trung vào giới răn, nên những nhà thông luật đã thu hẹp khung trời ân thiêng và làm cho tình yêu của Thiên Chúa hóa ra nhỏ bé, tầm trường trước con mắt phàm nhân. Thu hẹp hay kiểm soát ân sủng chính là một thách đố mà cả Đức Giêsu và thánh Phao-lô đã cố gắng hết sức để loại bỏ.”
Đừng biến thành những kẻ kiểm soát ân sủng
Đức Thánh Cha nói: “Đúng là chúng ta có những giới luật phải giữ nhưng tất cả những giới luật ấy chỉ tóm thành một điều là ‘mến Chúa và yêu người’. Chính giới luật duy nhất này đưa ta đến cao điểm của một thứ ân sủng được trao ban cách nhưng không, vì chính đặc tính của tình yêu là vô vị lợi. Thật vậy, nếu tôi nói tôi yêu bạn, nhưng đằng sau lời nói đó lại ẩn chứa một suy tính vị lợi, chắc chắn đó không phải là tình yêu nhưng chỉ là một mưu toan ích kỷ mà thôi.
Do đó, đối với Đức Giêsu, giới luật cao trọng hơn hết phải là: ‘Phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực và phải yêu người thân cận như chính mình’. Đây chính là giới luật duy nhất và giới luật ấy đã diễn tả được tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Trong giới luật này, rõ ràng là có những người thân cận. Bởi thế, ta phải làm những điều tốt lành cho những người thân cận ấy. Nhưng nguồn gốc của những gì ta làm chính là tình yêu, là khung trời tình mến. Nếu một người muốn đóng kín cửa và cất dấu đi chiếc chìa khóa tình yêu, người ấy sẽ chẳng bao giờ tiến tới được cao điểm của hồng ân cứu độ đã được ban tặng cách nhưng không. ‘Đóng kín cửa và cất dấu chìa khóa của sự hiểu biết’ chính là thách đố muốn kiểm soát ân sủng. Đức Giêsu và thánh Phao-lô đã kịch liệt phê phán thái độ này.”
Đức Thánh Cha nói thêm: “Năm nay chúng ta sẽ kỉ niệm 500 năm sinh nhật của của thánh Tê-rê-sa Avila, vị thánh mà chúng ta mừng lễ hôm nay. Mẹ là một phụ nữ có nhiều kinh nghiệm thần bí và đã được Thiên Chúa ban tặng ơn thấu hiểu những cung bậc tình yêu. Nhưng ngay trong thời đại của mẹ, mẹ cũng đã bị những tiến sĩ hay những nhà thông luật phán xử về tình yêu ấy. Và quả thật, đã có rất nhiều vị thánh bị bách hại khi cố gắng bảo vệ là làm chứng cho tình yêu, một tình yêu nhưng không vô vị lợi. Chúng ta cũng có thể nói rằng: Tất cả các thánh đều bị phán xử như thế. Và một cách đặc biệt, chúng ta nhớ đến thánh Jeanne D’Arc của nước Pháp.”
Chúng ta đừng để bị lừa dối bởi những người muốn giới hạn tình yêu của Thiên Chúa
Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Thách đố muốn kiểm soát ân sủng chưa kết thúc, và nó vẫn đang diễn ra bên trong mỗi người chúng ta. Bởi thế, ngày hôm nay, thật là thích đáng nếu chúng ta tự tra vấn mình rằng: Tôi có tin Thiên Chúa cứu chuộc tôi bằng một tình yêu vô vị lợi không? Tôi có nghĩ rằng tôi chẳng hề xứng đáng với hồng ân cứu chuộc ấy không? Và tôi có nghĩ rằng giả như có điều gì xứng đáng thì cũng là nhờ Đức Giêsu Kitô và tất cả những gì Ngài đã làm cho tôi?”
Cuối cùng, Đức Thánh Cha kết luận: “Ngày hôm nay hơn bao giờ hết, chúng ta hãy xác tín vào tình yêu xót thương của Thiên Chúa. Tình yêu ấy giống như tình yêu của một người bố, người mẹ dành cho con cái; vì chính Thiên Chúa đã nói rằng Ngài thương yêu chúng ta bằng một tình yêu phụ tử. Đó là một tình yêu với khung trời bao la rộng mở, không hề có giới hạn, không hề có biên giới chia cắt. Chúng ta đừng để những nhà thông luật che mắt dối lừa, vì họ là những người muốn thu hẹp tình yêu của Thiên Chúa” (SD 15-10-2015).
Vũ Đức Anh Phương
Hãy biết phân định và tỉnh thức, ngay cả khi mọi sự có vẻ tốt đẹp
Thánh Lễ Sáng Ngày 09-10-2015 - OSS_ROM
Giảng trong thánh lễ sáng ngày 09-10 tại nhà nguyện thánh Marta, Đức Thánh Cha nói: “Luôn nghĩ xấu cho những người làm điều tốt, vu khống người khác vì ghen tị, xếp đặt những cạm bẫy để mưu hại tha nhân là những hành vi đến từ ma quỷ. Thế nên, trong bối cảnh đó, một Kitô hữu phải biết phân định và tỉnh thức, phân định trong tất cả mọi sự, ngay cả khi mọi sự ấy dường như đang tốt đẹp.”
Những giáo thuyết cứng nhắc
Bài Tin Mừng của ngày thứ sáu (09.10) thuật lại việc Đức Giêsu trừ một tên quỷ. Ngài đã làm một việc tốt lành cho người bị quỷ ám. Trong số những người đang nghe Ngài giảng dạy và chứng kiến phép lạ, có những kẻ đã tin và nhận ra uy quyền của Thiên Chúa qua Đức Giêsu. Nhưng cũng có những kẻ tố cáo Ngài dựa thế quỷ vương Bê-en-dê-bun mà trử quỷ. Đức Thánh Cha nói: “Đã có những người không muốn nghĩ tốt về Đức Giêsu. Họ luôn tìm cách hiểu và giải thích lời nói cũng như hành động của Ngài theo một cách thế sai lạc để chống lại Ngài. Có những người chống đối Ngài vì ghen tị; một số khác là vì có sẵn trong đầu những giáo thuyết cứng nhắc; một số khác vì sợ quân đội Roma sẽ đến và thảm sát họ. Bởi rất nhiều những lý do như thế, họ đã cố gắng tìm cách để loại trừ uy quyền của Đức Giêsu và thậm chí lăng nhục, vu khống Ngài.”
Phân định và cảnh giác
Đức Thánh Cha mời gọi các Kitô hữu hãy phân định và cảnh giác. Phân định trong những tình huống cụ thể để biết điều nào đến từ Thiên Chúa và điều nào đến từ ma quỷ, vì ma quỷ luôn tìm cách để lừa dối và bịp bợp chúng ta chọn lựa những con đường sai trái. Chúng ta không thể bình tĩnh, thản nhiên trước những điều có vẻ là đang tốt đẹp, nhưng phải phân định và xem chúng đến từ đâu, gốc rễ của chúng là gì.
Ma quỷ sẽ làm tê liệt lương tâm
Không chỉ có phân định nhưng phải luôn cảnh giác; vì trong hành trình đức tin, cám dỗ luôn quay trở lại và thần dữ không bao giờ biết mệt mỏi. Khi thần dữ xuất ra khỏi một người, nó vẫn kiên nhẫn chờ đợi để quay trở lại. Nếu để nó quay trở lại, tình trạng của người ấy sẽ còn thê thảm hơn trước. Đức Thánh Cha giải thích: “Chúng ta đã biết rằng ma quỷ trước hết sẽ quấy rối và giày vò một người. Nhưng sau đó, hắn sẽ ẩn núp và cùng với bè lũ của hắn từ từ gõ cửa và xin phép cách rất lịch sự. Rồi hắn sẽ đi vào và sống với người đó trong mọi hoạt động của đời sống hằng ngày. Dần dần, hắn mới đưa ra những chỉ dẫn. Với cách thức như thế, ma quỷ từ từ thuyết phục người đó làm mọi sự với một tâm thức hoài nghi và khiến lương tâm trở nên dửng dưng, không còn biết phân biệt tốt-xấu.
Đức Thánh Cha nói: “Làm tê liệt lương tâm là một sự dữ khủng khiếp. Bởi vì khi thần ô uế thành công trong việc làm tê liệt lương tâm con người, hắn đã thực sự chiến thắng. Hắn đã trở thành ông chủ của lương tâm ấy rồi. Và như thế, người đó đang sống trong một cách thức giống như là con cái của thần dữ.”
Hãy luôn thực hành việc xét mình
Đức Thánh Cha nhắc lại hai từ: cảnh giác và phân định. Cảnh giác tức là làm việc xét mình hằng ngày. Quả thế, Giáo hội khuyên chúng ta luôn thực hành việc xét mình: Điều gì đã xảy ra trong tâm hồn tôi ngày hôm nay và bởi lý do gì? Tiếp đến là phân định. Chúng ta hãy tự hỏi mình xem: những bàn luận, lời nói, sự giảng dạy đến từ đâu? Ai nói những điều này? Nói tóm lại, hãy biết phân định trong mọi sự và hết sức cảnh giác. Đừng để bị quyến rũ, lừa dối và mê hoặc. Cuối cùng, Đức Thánh Cha kết luận: “Chúng ta hãy xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ân sủng này. Đó là ơn luôn biết phân định và cảnh giác.” (SD 09-10-15)
Vũ Đức Anh Phương
Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi những người công chính
"Chúa hằng che chở nẻo đường người công chính, còn đường lối ác nhân đưa tới chỗ diệt vong." - OSS_ROM
Thiên Chúa chẳng hề bỏ rơi những người công chính; còn kẻ gian ác giống như người xa lạ, tên của chúng sẽ không bao giờ được nhắc đến trên Thiên Quốc. Đây là giáo huấn mà Đức Thánh Cha đã đúc kết từ những bài đọc trong thánh lễ sáng hôm qua, thứ năm ngày 08.10, tại nhà nguyện thánh Marta.
Đức Thánh Cha đặt vấn đề: “Có một người mẹ dũng cảm sống với chồng và ba đứa con. Chị chưa tròn 40 tuổi nhưng lại mang trên mình một cục bướu. Căn bệnh quái ác ấy buộc chị suốt ngày phải ở trên giường, chẳng thể đi đâu. Tại sao chuyện này lại xảy ra? Một cụ bà đạo đức, hằng ngày cầu nguyện liên lỉ trước nhan Thiên Chúa với những lời chân thật xuất phát từ con tim, nhưng con trai của cụ lại bị mafia giết chết. Tại sao chuyện này lại xảy ra với cụ?”
Tại sao những điều tốt lành lại đến với những kẻ độc ác, xấu xa?
Lời của Đức Thánh Cha trong nhà nguyện Marta hôm ấy làm vang vọng một câu hỏi nhức nhối, tựa như lưỡi dao sắc cắt vào những suy tư của rất nhiều người, đặc biệt là những người có sự xác tín và niềm tin được bén rễ sâu xa, nhưng lại bị lung lay bởi những bi kịch xảy ra trong cuộc sống. Vấn nạn đặt ra là: Tại sao phải sống công chính? Việc phụng thờ Thiên Chúa và tuân giữ các lệnh truyền của Ngài, có ích lợi chi không? Trong khi kẻ kiêu ngạo và làm điều gian ác lại được thịnh đạt. Họ thử thách Thiên Chúa mà chẳng hề hấn gì.
Đức Thánh Cha nói: “Nhiều lần chúng ra đã nhận thấy rằng những kẻ gian ác, chuyên làm điều xấu xa, nhưng cuộc sống của họ lại rất phát đạt: Họ hạnh phúc và có tất cả những gì họ muốn, chẳng hề thiếu thốn chi. Tại sao Thiên Chúa lại để điều này xảy ra? Tại sao một kẻ hỗn láo, xấc xược chẳng hề màng tới Thiên Chúa và người khác, nói khác đi là một kẻ bất chính và xấu xa, nhưng mọi sự trong cuộc sống của hắn ta đều thuận lợi? Tại sao hắn có tất cả những gì hắn muốn; còn chúng ta là những người muốn làm điều tốt, lại toàn gặp những đau khổ, bất hạnh trong cuộc sống?”
Thiên Chúa săn sóc những người công chính
Đức Thánh Cha trích Thánh Vịnh nhằm đưa ra một câu trả lời cho vấn nạn nêu trên. Thánh Vịnh nói: “Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày” (TV 1, 1-2).
Đức Thánh Cha giải thích: “Ngay bây giờ, có thể chúng ta không nhìn thấy hoa trái của những người công chính đang gặp đau khổ, bất hạnh; không thấy được hoa trái của những người đang trung kiên vác thập giá. Cũng vậy, trong ngày thứ Sáu và thứ Bảy Tuần Thánh, hoa trái của việc Con Thiên Chúa chịu khổ hình, vác thập giá cũng đâu có thấy được. Những đau khổ mà Đức Giêsu phải chịu cũng đâu được nhận ra. Nhưng tất cả những gì Ngài thực hiện đều trở nên tốt đẹp. Chúng ta có biết Thánh Vịnh nói gì về những kẻ gian ác, kẻ mà chúng ta nghĩ rằng luôn gặp những điều may mắn, tốt lành không? Thật ra, kết cục của những ai gian ác chẳng hề tốt đẹp: ‘Ác nhân đâu được vậy: chúng khác nào vỏ trấu gió thổi bay. Vì Chúa hằng che chở nẻo đường người công chính, còn đường lối ác nhân đưa tới chỗ diệt vong’ (Tv 1, 4.6).”
Chỉ duy nhất một tính từ
Đức Thánh Cha lấy ý tưởng từ dụ ngôn anh Lazzaro nghèo khó trong Tin Mừng để nhấn mạnh rằng sự diệt vong là kết cục của những kẻ gian ác. Dụ ngôn ấy là một biểu tượng về sự đau khổ mà người gặp phải không hề kêu la, trốn chạy. Ông phú hộ giàu có, yến tiệc say xưa đã từ chối bố thí cho anh Lazzaro ngay cả những mẩu vụn bánh rớt xuống bàn của ông.
Thật đáng tò mò là ông phú hộ ấy không hề được nhắc đến tên. Nhưng chỉ có một tính từ nói về ông: giàu có. Trong Cuốn Sổ Ghi Nhớ được viết trước nhan Thiên Chúa, không hề có tên của những kẻ gian ác. Kẻ gian ác không có tên, nhưng chỉ có những tính từ để chỉ đặc điểm. Trái lại, tất cả những ai đang cố gắng đi trên đường ngay nẻo chính của Thiên Chúa, sẽ được ở cùng với Chúa Con, Đấng có tước hiệu là: Giêsu – Đấng Cứu Độ. Đây là một tước hiệu thật khó để có thể hiểu thấu và giải thích rõ ràng khi đứng trước những thánh đố của thập giá và tất cả những đau khổ mà Đức Giêsu đã chịu vì chúng ta. (SD 08-10-2015)
Vũ Đức Anh Phương
December 18, 2015