ĐTC thăm viếng Cộng Hòa Georgia

của ĐTC- 30 tháng 9-2016

 

Đức Thánh Cha bắt đầu viếng thăm Cộng hòa Georgia

TBILISI. Chiều ngày 30-9-2016, ĐTC cổ võ sống chung hòa bình giữa các dân tộc tại Cộng hòa Georgia đồng thời tôn trọng công pháp quốc tế về chủ quyền của mỗi người.

 Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi gặp gỡ Tổng thống, các giới chức chính quyền, cũng như đại diện các tầng lớp xã hội và văn hóa của cộng hòa Georgia. Đây là hoạt động đầu tiên của ngài trong chuyến viếng thăm thăm Cộng Hòa Georgia và Azerbaigian trong 3 ngày cho đến chiều tối chúa nhật 2-10 tới đây.

 Đây là chuyến viếng thăm thứ 16 của ĐTC tại nước ngoài và là phần thứ 2 trong cuộc viếng thăm miền Caucase. Phần đầu ngài đã thực hiện tại Cộng hòa Armeni từ ngày 24 đến 26-6 năm nay. Cả 3 quốc gia này đều có con số tín hữu Công Giáo ít ỏi, nhưng qua các cuộc viếng thăm này, ĐTC muốn cổ võ những quan hệ đại kết, hòa bình và hòa giải giữa các dân tộc. Nói khác đi ngài muốn thi hành một sứ mạng hòa bình và hiệp nhất, như nhận xét của ĐHY Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh.

 ĐTC đã rời Roma lúc 9 giờ 25 và đến phi trường thủ đô Tbilisi của Georgia lúc 15 giờ chiều (13 giờ giờ Roma). Cùng đi với ngài có đoàn tùy tùng 30 người và 70 ký giả quốc tế.

 Vài nét về Georgia

 Cộng hòa Georgia chỉ rộng 70 ngàn cây số vuông với dân số 4 triệu rưỡi dân cư trong đó gần 84% là tín hữu Chính Thống giáo, khoảng 10% theo Hồi giáo, số tín hữu Công giáo là 112 ngàn người, tương đương với 2,5% dân số toàn quốc. Họ sống tại thủ đô Tbilisi và miền nam của Georgia, đa số thuộc nghi lễ la tinh và Armeni, nhưng cũng có một cộng đoàn nhỏ các tín hữu nghi lễ Canđê. Tổng cộng tại nước này, Công Giáo có 32 giáo xứ, 2 GM, 28 LM triều và dòng (14+14), hai tu huynh và 37 nữ tu. Ngoài ra có 12 đại chủng sinh và 2 tiểu chủng sinh. Giáo Hội Công Giáo ở Georgia chỉ có 2 trường mẫu giáo và một trường cao đẳng.

 Giáo Hội Chính Thống Georgia có khoảng 4 triệu tín hữu. và là một đối tác khó khăn trong quan hệ với Công Giáo và cả đối với các Giáo Hội chính thống khác. Chính Thống Georgia đã từ chối tham dự Công đồng Liên chính thống giáo hồi cuối tháng 6 năm 2016 ở đảo Creta bên Hy Lạp, giống như Giáo Hội Chính Thống Nga.

 Gặp gỡ chính quyền

 Từ trên máy bay bước xuống, ĐTC đã được tổng thống Giorgi Margvelashvili cùng với phu nhân chào đón cùng với Đức Thượng Phụ Ilia II và một số quan chức và chức sắc, đặc biệt là hai vị GM Công Giáo, một thuộc nghi lễ la tinh và một thuộc nghi lễ Armeni. 2 em bé trong y phục cổ truyền của Georgia dâng tặng ĐTC một rổ nho, một sản phẩm nổi bật của nước này. Sau nghi thức chào cờ, duyệt qua hàng quân danh dự và giới thiệu các thành phần hai phái đoàn, ĐTC đã vào phòng khánh tiết hội kiến với Tổng thống, trước khi về phủ tổng thống vào lúc 3 giờ rưỡi để chào thăm chính thức.

 Tổng thống Margvelaschivili của Georgia năm nay 47 tuổi (1969), đậu tiến sĩ triết học, nguyên là viện trưởng Học viện công vụ, rồi làm bộ trưởng giáo dục, tiếp đến làm phó thủ tướng. Sau cùng ông đắc cử tổng thống cách đây 3 năm.

 Sau khi gặp gỡ tổng thống và gia đình ông, ĐTC đã tiến ra khuôn viên danh dự tổng thống để gặp gỡ 400 người gồm các quan chức chính trị và tôn giáo, ngoại giao đoàn, cũng như đại diện các tầng lớp xã hội dân sự và văn hóa.

 Trong lời chào mừng ĐTC, tổng thống cám ơn sự ủng hộ của Tòa Thánh dành cho đất nước Georgia, đặc biệt trong thời kỳ bị Nga tấn công hồi năm 2008. Ông cũng nhắc đến những quan hệ giữa Vatican, Giáo Hội Công Giáo và Georgia qua dòng lịch sử và đề cao vai trò của Georgia không những thuộc về nền văn minh Âu Châu, nhưng còn là một trong những nước kiến tạo nền văn minh này. Sau cùng ông cho biết 20% lãnh thổ của Georgia vẫn còn bị chiếm và 15% dân chúng là người tị nạn. Những vùng bị những người gốc Nga chiếm đóng. Dầu vậy, Georgia không tìm kiếm sự đụng độ, nhưng chị tìm con đường đưa rất nước được giải phóng khỏi sẹ chiếm đóng của ngoại bang và tiến đến hòa bình!

 Diễn văn của ĐTC

 Lên tiếng sau lời chào mừng của tổng thống Cộng hòa Georgia, ĐTC đã đề cao lịch sử ngàn đời và nền văn hóa cổ kính của đất nước này. Georgia như chiếc cầu thiên nhiên giữa Âu và Á châu, một bản lề giúp cho việc giao thông và tương quan giữa các dân tộc được dễ dàng, khiến cho việc thương mại và đối thoại giữa các dân tộc cũng như sự đối chiếu tư tưởng và kinh nghiệm giữa các thế giới khác nhau có thể thực hiện được.

 ĐTC nhắc đến sự kiện Georgia đã tuyên bố độc lập từ 25 năm nay, hoàn toàn tìm lại tự do, nền độc lập này đã xây dựng và củng cố các cơ chế dân chủ và tìm kiếm những con đường để bảo đảm sự phát triển bao gồm mọi người và có đặc tính chân thực. Tất cả những điều đó đã diễn ra với nhiều hy sinh mà nhân dân Georgia đã can đảm đương đầu để đảm bảo cho mình tự do hằng ao ước.

 ĐTC khẳng định rằng: ”Sự tiến bộ chân thực và lâu bền như thế có một điều kiện tiên quyết không thể thiếu được, đó là sự sống chung hòa bình giữa các dân tộc và các quốc gia trong vùng. Điều này phải phải gia tăng tâm tình quí chuộng lẫn nhau, những tâm tình đó không từ bỏ sự tôn trọng chủ quyền của mỗi nước trong khuôn khổ quốc tế công pháp. Để mở ra những con đường đưa tới một nền hòa bình lâu bền và môt sự cộng tác thực sự, cần ý thức rằng những nguyên tắc quan trọng để có tương quan công bằng và vững bền giữa các quốc gia đều nhắm phục vụ cho sự sống chung cụ thể, có trật tự và hòa bình giữa các dân nước. Thực vậy, tại quá nhiều nơi trên thế giới, dường như người ta theo đuổi thứ tiêu chuẩn khiến có khó lòng duy trì những khác biệt hợp pháp và những tranh biện luôn có thể xảy ra trong một bối cảnh đối chiếu và đối thoại trong đó lý trí, sự ôn hòa và tinh thần trách nhiệm được trổi vượt. Đây là điều rất cần thiết trong bối cảnh lịch sử hiện nay, trong đó không thiếu những trào lưu cực đoan bạo lực lèo lái và bóp méo những nguyên tắc dân sự và tôn giáo để dùng chúng phục vụ cho những ý đồ đen tối muốn thống trị và gây chết chóc”.

 ĐTC nhấn mạnh rằng ”Tất cả cần quan tâm trước tiên tới số phận của con người cụ thể và kiên nhẫn hết sức cố gắng tránh để cho những khác biệt biến thành bạo lực, nhắm khơi lên những đổ vỡ lớn lao cho con người và xã hội. Bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, ngôn ngữ, chính trị hoặc tôn giáo, không để bị lạm dụng để biến thành cái cớ biến những khác biệt thành xung đột và biến những xung đột thành những thảm trạng khôn cùng, sự phân biệt ấy có thể và phải là nguồn mạch làm cho mọi người được thêm phong phú và có lợi cho ích chung. Điều này đòi mỗi người phải tận dụng tất cả những đặc điểm của mình, nhất là có thể sống an bình nơi quê hương của mình hoặc được hồi hương tự do, nếu vì lý do nào đó họ đã phải buộc lòng rời bỏ quê hương. Tôi cầu mong rằng các vị hữu trách chính trị tiếp tục quan tâm đến tình cảnh của những người ấy, dấn thân tìm kiếm những giải pháp cụ thể, kể cả ở bên ngoài những vấn đề chính trị chưa được giải quyết. Điều ấy cũng đòi phải có sự nhìn xa trông rộng và can đảm nhìn nhận thiện ích đích thực của các dân tộc và quyết tâm theo đuổi thiện ích ấy một cách khôn ngoan. Điều tối cần thiết là nghĩ đến những đau khổ của con người để quyết tâm theo đuổi hành trình xây dựng hòa bình, con đường kiên nhẫn và vất vả nhưng cũng là con đường có sức thu hút và mang lại tự do”.”

 Giã từ tổng thống và các giới chức chính quyền, ĐTC đã tới tòa Thượng Phụ Chính Thống Georgia để viếng thăm.

 G. Trần Đức Anh OP

 

Đức Thánh Cha kêu gọi Chính Thống Georgia đẩy mạnh đại kết

1 tháng 10-2016

TBILIBI. Trong cuộc gặp gỡ các vị lãnh đạo Chính Thống Georgia chiều ngày 1-10-2016, ĐTC mời gọi Giáo Hội này cùng Công Giáo đẩy mạnh đại kết.

 Hoạt động cuối cùng của ĐTC tại Georgia là cuộc viếng thăm Nhà thờ chính tòa của Tòa Thượng Phụ Chính Thống ở thành Mtshkheta là cố đô của Georgia, cách thủ đô Tbilisi 22 cây số về hướng tây bắc. Phong cảnh tại đây thật là thơ mộng, giữa núi non và hai dòng sông Aragvi và Mktvari.

 Nhà thờ chính tòa Svetyskhoveli (nghĩa đen là ”Cây cột ban sự sống”) là trung tâm tinh thần của Giáo Hội Chính Thống Georgia. Theo lưu truyền ở địa phương, chiếc áo chùng của Chúa Kitô được giữ tại thánh đường này. Tại đây hàng năm vào ngày 1-10 có cử hành lễ đặt áo chùng thánh của Chúa, và tất cả các GM mới được truyền chức tại đây, bất luận các vị thuộc giáo phận nào.

 Thánh đường hiện nay được xât cất hồi thế kỷ thứ 11, trên di tích của nhà thờ chính tòa cũ có từ thế kỷ thứ 4. Qua dòng lịch sử, Nhà thờ này bị phá hủy và tái thiết nhiều lần.

 Khi ĐTC đến nhà thờ chính tòa ngài được chính Đức Thượng Phụ Ilia II đón tiếp và hướng dẫn đến mộ thánh Sidonia, theo truyền thống, thánh nhân đã được an táng với chiếc áo chùng của Đấng Chiu Đóng Đanh. Tại đây ĐTC đã thắp lên ngọn nến sáng để bày tỏ lòng tôn kính.

 Hiện diện trong thánh đường cũng có thủ tướng Georgia, các chức sắc của Giáo Hội Chính Thống Georgia, một số GM Công Giáo và đại diện các Giáo Hội Kitô khác, cùng với chính quyền dân sự và đại diện ngoại giao đoàn, giới trí thức văn hóa.

 Trong lời chào mừng ĐTC, Đức Thượng Phụ Ilia 2, 83 tuổi, Giáo chủ Chính Thống Georgia, giải thích lịch sử thánh Sidonia được an táng tại nhà thờ này và chiếc áo cùng của Chúa Giêsu. Ngài cũng nói lịch sử thăng trầm của Georgia, bao nhiêu đau khổ vì những cuộc xâm lăng, những cuộc tử đạo của hàng trăm tín hữu vì không muốn chà đạp Thánh Giá Chúa.

 Diễn văn của ĐTC

 Tiếp lời Đức Thượng Phụ, ĐTC đi từ hình ảnh chiếc áo chùng không đường khâu của Chúa Giêsu để mời gọi các tín hữu dấn thân trên con đường tìm về hiệp nhất. Ngài nói:

 ”Mầu nhiệm chiếc áo chùng không đường khâu, được dệt từ trên xuống dưới” (Ga 19,23) đã lôi kéo sự chú ý của các tín hữu Kitô ngay từ đầu. Một Giáo Phụ thời xưa, thánh Cipriano thành Cartagine, đã khẳng định rằng trong chiếc áo không bị phân chia của Chúa Giêsu xuất hiện ”mối dây hòa hợp, liên kết không thể tách rời”, sự hiệp nhất đến từ trên cao, nghĩa là từ trời, từ Chúa Cha, và tuyệt đối không thể bị xâu xé” (De catholicae Ecclesiae unitate, 7). Chiếc áo chùng thánh, mầu nhiệm hiệp nhất, nhắn nhủ chúng ta cảm thấy đau đớn sâu xa vì những chia rẽ giữa các tín hữu Kitô qua dòng lịch sử: đó là những xâu xé thực sự gây ra cho thân mình Chúa, nhưng đồng thời, sự hiệp nhất từ trên cao, tình yêu của Chúa Kitô đã tập họp chúng ta và ban cho chúng ta không những chiếc áo của Ngài, nhưng cả chính thân mình Ngài, thúc đẩy chúng ta đừng cam chịu, và Chúa nêu gương cho chúng ta (Xc Rm 12,1): khích lệ chúng ta có lòng bác ái chân thành và cảm thông nhau, hàn gắn những chia rẽ, nhờ một tinh thần huynh Kitô trong sáng. Tất cả những điều đó đòi một con đường kiên nhẫn, cần phải vun trồng sự tín nhiệm nhau và lòng khiêm tốn, không sợ hãi và cũng không nản chí, trái lại trong niềm vui tươi chắc chắn mà niềm hy vọng Kitô cho chúng ta nếm hưởng trước. Niềm hy vọng ấy khích lệ chúng ta tin rằng những đối nghịch có thể chữa lành và những chướng ngại có thể bị loại bỏ, đồng thời mời gọi chúng ta không bao giờ từ bỏ cơ hội gặp gỡ và đối thoại, bảo tồn và cải tiến những gì đã có. Ví dụ tôi nghĩ đến cuộc đối thoại hiện nay trong Ủy ban hỗn hợp quốc tế và những cơ hội trao đổi phúc lợi khác”.

 Giã từ Đức Thượng Phụ Ilia 2 và các chức sắc, ĐTC đã về tòa Sứ Thần Tòa Thánh ở thủ đô Tbilisi để dùng bữa tối và qua đêm.

 Sáng chúa nhật 2-10-2016, ĐTC sẽ giã từ Georgia vào lúc 8 giờ 10, để bay sang thủ đô Baku của Cộng hòa Azerbaigian và viếng thăm đến chiều tối cùng ngày trước khi đáp máy bay về Roma, dự kiến vào lúc 10 giờ đêm.

 G. Trần Đức Anh OP

 

Đức Thánh Cha viếng thăm Trung Tâm Bác Ái Công Giáo Georgia

1 tháng 10-2016

TBILISI. ĐTC đề cao và khích lệ các nhân viên từ thiện Công Giáo tại Georgia và gọi các hoạt động bác ái là đặc tính của các Kitô hữu.

 Chiều thứ bẩy 1-10-2016, ngày thứ hai và cũng là ngày chót trong cuộc viếng thăm tại Cộng hòa Georgia, ĐTC đã gặp gỡ các linh mục, tu sĩ và chủng sinh tại Nhà Thờ Đức Mẹ Mông Triệu ở thủ đô Tbilisi, rồi đến trung tâm từ thiện của dòng thánh Camillo cách đó 12 cây số để viếng thăm và gặp gỡ các bệnh nhân và những người được trợ giúp tại đây, cùng với các nhân viên từ thiện Công Giáo.

 Trung tâm này được các tu sĩ dòng giáo sĩ phục vụ bệnh nhân, quen gọi là các cha dòng Camiliano, kiến thiết từ năm 1998 tại khu vực Temka, ngoại ô thành Tbilisi, sau khi được mời đến hoạt động tại cộng hòa Georgia. Với sự trợ giúp của Caritas Italia, các cha dòng đã tiết lập bệnh viện đa khoa ”Redemptoris Hominis”, Chúa Cứu Nhân, và hiện có 70 nhân viên y tế, trải dài trên khu đất rộng 1 cây số vuông.   Bệnh viện săn sóc miễn phí cho các bệnh nhân thuộc nhiều ngành y khoa và nay trở thành một trong những trung tâm y tế quan trọng của Georgia, được coi như kiểu mẫu về việc trợ giúp y khoa cho các bệnh nhân.

 Ngoài dịch vụ trên đây, Giáo Hội Công Giáo tại Georgia còn có cơ quan bác ái, Caritas, được chính phủ nhìn nhận từ năm 1994, và đảm trách nhiều dịch vụ từ thiện: từ các quán phát chẩn cho người nghèo, các bệnh xá nhỏ, các trường chuyên nghiệp tại những vùng nghèo nàn tại nước này. Ngoài ra có dịch vụ giúp đã các trẻ em bụi đời, những người khuyết tật, người vô gia cư và người già. Gần đây Caritas Georgia mở thêm dịch vụ săn sóc giúp đỡ những người tị nạn từ những vùng có xung đột, đặc biệt từ Siria và Irak. Trong công tác này, có sự can dự đặc biệt của các tín hữu Kitô Assiro Canđê. Từ năm 2007, tại thành phố Batumi, cộng đoàn ĐGH Gioan 23 đã mở một nhà nhà đón tiếp những người trẻ nghiện rượu và những người trẻ gặp khó khăn. Ngoài ra, các nữ tu dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ cũng hoạt động tích cực trong lãnh vực giáo dục người trẻ.

 Đến Trung tâm của dòng Camilliano lúc 5 giờ 15 chiều, ĐTC đã được cha Bề trên và cha giám đốc Caritas Georgia và hàng trăm người đón tiếp. Ngài được hướng dẫn đến khu vực trước khu nhà của Trung Tâm. Trong số những người hiện diện tại đây, cũng có một số bệnh nhân, nhiều người ngồi trên ghế lăn.

 Huấn dụ của ĐTC

 Lên tiếng sau lời chào mừng của Cha Kakachishvili, Giám đốc Caritas Georgia, ĐTC chào mừng các nhân viên từ thiện bác ái và khẳng định rằng:

 ”Tại Georgia này, qua sự ân cần săn sóc, anh chị em biểu lộ tình yêu đối với tha nhân một cách hùng hồn, đây là một đặc điểm của các môn đệ Chúa Kitô!

 ”Hoạt động của anh chị em là một con đường cộng tác giữa các tín hữu Kitô tại đất nước này và giữa các tín hữu thuộc các nghi lễ khác nhau. Sự gặp gỡ như thế trong dấu chỉ bác ái theo tinh thần Tin Mừng là chứng tá về sự hiệp thông và tạo điều kiện cho con đường hiệp nhất. Tôi khuyến khích anh chị em tiếp tục con đường này, nó có nhiều đòi hỏi nhưng thật là phong phú: những người nghèo và người yếu thế chính là thân mình của Chúa Kitô, đang đặt câu hỏi cho các tín hữu Kitô thuộc mọi hệ phái, thúc giục họ hành động, không phải theo tư lợi bản thân, nhưng hoàn toàn theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Linh.

 ĐTC cũng ngỏ lời với những người già, các bệnh nhân và những người đau khổ cùng với tất cả những người được các cơ quan bác ái giúp đỡ. Ngài khuyến khích họ: ”Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi anh chị em, Chúa luôn gần gũi và sẵn sàng lắng nghe anh chị em, ban cho anh chị em sức mạnh trong những lúc khó khăn. Anh chị em là những người được Chúa Giêsu đặc biệt yêu thương, Chúa đã muốn đồng hóa với những người đau khổ, vì chính Ngài cũng đã chịu đau khổ qua cuộc khổ nạn.

 Sau cùng, ĐTC nhận xét rằng ”Những sáng kiến bác ái là hoa quả chín mùi của một Giáo Hội phục vụ, mang lại hy vọng và biểu lộp lòng thương xót của Chúa. Vì thế, anh chị em thân mến, sứ mạng của anh chị em thật lớn lao! Hãy tiếp tục sống trong tình bác ái của Giáo Hội và viểu lộ lòng bác ái ấy trong toàn thể Giáo Hội với niềm hăng sau của tình yêu đến từ Thiện Chúa!

 Sau khi ban phép lành cho mọi người, ĐTC còn đích thân bắt tay chào 20 vị lãnh đạo các tổ chức từ thiện của Giáo Hội Công Giáo tại Georgia, trước khi đến thăm Nhà thờ chính tòa của tòa Thượng Phụ chính thống Georgia.

 G. Trần Đức Anh OP 

 

Ngày thứ hai chuyến viếng thăm Georgia của ĐTC Phanxicô

Thứ bẩy hôm qua là ngày thứ hai ĐTC viếng thăm mục vụ Georgia. Ngài đã có bốn sinh hoạt chính: chủ sự thánh lễ cho tín hữu tại sân vận động Meskhi, gặp gỡ các linh mục, tu sĩ nam nữ và chủng sinh trong nhà thờ Đức Mẹ hồn xác lên trời, gặp gỡ các bệnh nhân và nhân viên của các tổ chức bác ái của Giáo Hội công giáo tại trung tâm của dòng Camilliano, và thăm nhà thờ chính toà thượng phụ Svetyskhoveli. Sau đây là chi tiết các sinh hoạt của ĐTC.

Lúc 9 giờ rưỡi sáng ĐTC đã rời Toà Sứ Thần để đến sân vận động Meskhi để dâng thánh lễ cho tín hữu. Sân vận động này là một trung tâm thể thao đa dụng, mang tên cầu thủ Mikhail Miskhi năm 1988 được bầu làm cầu thủ túc cầu Georiga giỏi nhất của thế kỷ 20. Đuợc xây lại năm 2001 sân vận động có 27.000 chỗ ngồi, và là sân vận động lớn thứ hai trong nước, sau sân vận đông Boris Paichadze.

Tại Georgia các Giáo Hội kitô gồm Latinh, Armeni công giáo, Assiro-canđê, Tin lành baptist và Luther họp gặp gỡ nhau hàng tháng để thảo luận trao đổi ý kiến liên quan tới các vấn đề tôn giáo và tụ hạp nhau trong buổi cầu nguyện đại kết ngày 25 tháng giêng. Cũng có một Hội đồng các tôn giáo bao gồm 20 giáo hội. Đã có nhiều đại điện các giáo hội này hiện diện trong thánh lễ của ĐTC. Hiện diện trong thánh lễ cũng có đại diện chính quyền dân sự, đại diện của Toà Thượng Phụ Georgia, của Đức Thượng Phụ và Công Đồng Canđê, đông đảo đại diện Giáo Hội Armeni công giáo và các Giáo Hội kitô khác.

Giảng trong thánh lễ ĐTC đã quảng diễn ý nghĩa các bài đọc lễ kính thánh Teresa Hài Đồng Giêsu, và mời gọi mọi người hãy mở toang cánh cửa con tim và cuộc sống cho sự ủi an của Chúa, và chia sẻ sứ mệnh cấp thiết của Giáo Hội là là tiếp nhận và cống hiến sự an ủi của Thiên Chúa cho mọi người. Ngài nói:

** Sự an ủi mà chúng ta cần giữa các biến cố giao động của cuộc sống là chính sự hiện diện của Thiên Chúa trong con tim. Bởi vì sự hiện diện của Ngài trong chúng ta là suối nguồn của sự ủi an đích thực, tự do khỏi sự dữ nó đem đến hoà bình và làm cho niềm vui lớn lên. Vì vậy, nếu chúng ta muốn được an ủi cần phải dành chỗ cho Chúa trong cuộc sống. Và để Chúa có thể ở ổn định trong chúng ta, cần mở cửa cho Ngài vào, chứ không để Ngài đứng ở ngoài. Có những cánh cửa của sự ủi an cần phải để rộng mở luôn, bởi vì Chúa Giêsu thích vào qua ngã đó: đó là Phúc Âm đưọc đọc mỗi ngày và đem theo mình, lời cầu nguyện thinh lặng và thờ lậy, Xưng Tội, Thánh Thể. Chính qua các cánh cửa này mà Chúa vào và ban hương vị mới mẻ cho mọi sự. Nhưng khi cánh cửa con tim đóng kín, ánh sáng của Ngài không tới được và chúng ta ở trong bóng tối. Khi đó chúng ta quen với khuynh hướng bi quan, với các điều không chạy, với các thực tại sẽ không bao giờ thay đổi. Và kết cục chúng ta khép kín mình trong buồn sầu, dưới hầm của âu lo, một mình trong chính mình. Nhưng nếu chúng ta mở toanh các cánh cửa của sự ủi an, thì ánh sáng của Chúa vào được!

Tuy nhiên, ngôn sứ Isaia không chỉ nói Thiên Chúa sẽ an ủi chúng ta như một bà mẹ an ủi con thơ, ông còn thêm rằng Chúa sẽ an ủi trong thành Giêrusalem, là thành của Thiên  Chúa, trong cộng đoàn. Sự an ủi được tìm thấy trong Giáo Hội, là nhà của sự ủi an. Chính ở đây Chúa muốn an ủi. Là người sống trong Giáo Hội tôi có là người đem lại sự an ủi của Thiên Chúa không? Tôi có biết tiếp đón tha nhân như khách trọ, và an  ủi người mệt mỏi chán chường không? Cho dù có bị khổ đau khốn khó và khép kín, kitô hữu luôn luôn được mời gọi trao ban hy vọng cho người chịu trận, và hồi sinh người mất tin tưởng, đem ánh sáng của Chúa Giêsu, hơi ấm sự hiện diện của Ngài, sự nghỉ ngơi và tha thứ của Ngài tới cho biết bao người khổ đau, chịu thử thách, bất công và sống trong lo âu. Kitô hữu được mời gọi chia sẻ sứ mệnh của Giáo Hội là tiếp nhận và trao ban an ủi. Vì thế quen khép kín trong một môi trường giáo hội bé nhỏ thì không tốt. Cần phải chia sẻ các chân trời rộng rãi, các chân rộng mở cho niềm hy vọng, can đảm khiêm tốn ra khỏi chính mình.

Nhưng điều kiện để nhận đuợc sự an ủi của Thiên Chúa là trở nên con trẻ (Mt 18,3-4). Để tiếp nhận tình yêu của Thiên Chúa cần có con tim bé nhỏ: chỉ khi còn bé chúng ta mới được ở trên cánh tay của mẹ.

ĐTC nói tiếp trong bài giàng: Chúa Giêsu đã nói: “Ai trở nên như trẻ nhỏ là người lớn nhất Nước Trời” (Mt 18,4) Sự cao cả thực sự của con người là ở chỗ nó trở thành bé nhỏ trước Thiên Chúa. Không phải các tư tưởng cao siêu và học hành nhiều giúp hiểu biết Thiên Chúa, nhưng  là sự bé nhỏ và tin tưởng của con tim. Để là lớn trước Đấng Tối Cao, không cần phải chất chứa danh dự và uy tín, các của cải trần gian, nhưng là dốc đổ chính mình. Trẻ em là người không có gì để cho, và nhận tất cả. Nó giòn mỏng yếu đuối và tuỳ thuộc cha mẹ. Ai trở nên trẻ nhỏ thì nghèo chính mình, nhưng giầu Thiên Chúa.

Thật tốt cho chúng ta, nếu luôn biết nhớ rằng chúng ta luôn luôn và trước hết là con cái Thiên  Chúa: không phải chủ nhân của cuộc sống, nhưng là con cái của Thiên Chúa Cha, không phải là những người tự lập và tự đủ, nhưng là con luôn luôn cần được bồng ẵm trên tay, nhận tình yêu và sự tha thứ. Phúc cho các cộng đoàn kitô sống sự đơn sơ tinh tuyền này của Tin Mừng! Nghèo phương tiện, nhưng giầu Thiên Chúa. Phúc cho các chủ chăn không theo cái luận lý của thành công thế gian, nhưng theo luật của tình yêu: tiếp đón, lắng nghe và phục vụ. Phúc cho Giáo Hội không tín thác nới các tiêu chuẩn của chủ trương chức năng và hiệu quả có tổ chức, và không chú ý tới hình ảnh bề ngoài.

Kết thúc bài giảng ĐTC đã trích lại nhiều tư tưởng của thánh nữ Teresa Hài Đồng liên quan tới con đường thơ ấu thiêng liêng. Mở đwfu bài giảng ngài cũng  ngài đã lấy lại một câu thánh nữ Teresa viết trong các tác phẩm tự thuật: “Số phụ nữ yêu Thiên Chúa nhiều hơn nam giới rất nhiều”, và ĐTC ca tụng giá trị và vai trò của nữ giới tại Georgia gồm các thế hệ biết bao bà nội bà ngoại và người mẹ tiếp tục giữ gìn và thông truyền đức tin, đã được gieo vào lòng đất này bởi Nữ thánh Hài Đồng và đem nước mát sự ủi an của Thiên Chúa vào trong biết bao nhiêu tình trạng sa mạc và xung khắc của xã hội.

Trước khi ban phép lành cho mọi người ĐTC đã cám ơn ĐC Pasotto về lời chào nhân danh cộng đoàn Latinh, Armeni, và Assiro canđê, Đức thượng phụ Sako, các Giám Mục Canđê, ĐC Minassian, và những người từ Armenia tới, cũng như tín hữu đến từ khắp nước Georgia. Ngài cũng cám ơn các giới chức chính quyền, tín hữu Giáo Hội Armeni tông truyền và tín hữu các Giáo Hội khác, đặc biệt là đại diện Giáo Hội chính thống Georgia.

Lúc 12 giờ trưa ĐTC đã trở về Toà Sứ Thần Toà Thánh để dùng bữa trưa và nghỉ ngơi chốc lát trước khi đi gặp các linh mục tu sĩ nam nữ và chủng sinh vào ban chiều.

Lúc 3 giờ rưỡi chiều ĐTC đi xe tới nhà thờ Đức Mẹ hồn xác lên trời cách đó 9 cây số để gặp gỡ các linh mục tu sĩ nam nữ và chủng sinh. Đây là nhà thờ của Giáo Hội công giáo Latinh, do các cha dòng Capucino xây trên nền một hà thờ cũ hồi đầu thế kỷ XX với tài trợ của Bộ Truyền Giáo. Dưới thời cộng sản Liên Xô nhà thờ bị đóng cửa, sau đó bị trưng dụng làm công sở, rồi nhà chơi thể thao. Ngày 15 tháng 8 năm 1999 nhà thờ được tái thánh hiến bởi ĐTGM Giovanni Battista Re, hồi đó là Phụ tá quốc vụ khanh. Trong thư gừi nhân dịp này ĐGH Giaon Phaolô II viết: “Nhà thờ nhắc nhớ nỗi khổ đau của đất nước Georgia và các hy sinh của dân tộc công giáo… Tuy nhiên nhà thờ Đức Mẹ hồn xác lên trời giờ đây lại vươn lên như biểu tượng của niềm hy vọng mới cho Georgia”. Đức Gioan Phaolô II cũng đã viếng thăm nhà thờ trong chuyến công du Georgia trong hai ngày 8-9 tháng 11 năm 1999.

Giáo Hội công giáo Latinh hồi sinh sau thời kỳ bị bách hại khốc liệt. Tuy bé nhỏ nhưng có ảnh hưởng lớn vì các dấn thân trong lãnh vực giáo dục, y tế và bác ái xã hội. Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ Giáo Hội đã bắt tay vào việc xây dựng các cơ sở hạ tầng và tái tổ chức cuộc sống. Đa số các linh mục là người nước ngoài. Linh mục bản xứ đầu tiên đưọc thụ phong năm 1998, sau đó có thêm 4 tân linh mục nữa. Hiện đang có 9 phó tế vĩnh viễn đang được đào tạo. Các nữ tu Thừa Sai bác ái của Mẹ Têresa là dòng đầu tiên đến hoạt động tại Georgia sau khi chế độ cộng sản sụp đổ. Tiếp đến có các cha dòng Camilliano, và từ năm 1994 có các cha Dòng Năm Dấu Thánh và từ vài năm nay có thêm các cha dòng Capucino.

ĐTC đã được ĐC Pasotto Giám quản tông toà tiếp đón, rồi ngài vào viếng Mình Thánh Chúa. Bên trong nhà thờ có 250 linh mục, tu sĩ và chủng sinh.

Buổi gặp gỡ đã diễn ra dưới hình thức chia sẻ chứng từ. Sau khi lắng nghe 4 chứng từ chia sẻ và ghi chép một số điểm được nêu lên ĐTC đã trả lời buông và khích lệ các linh mục tu sĩ nam nữ chủng sinh và giáo dân biết duy trì vững mạnh đức tin đã nhận được từ ông bà cha mẹ, sống và thông truyền nó. Duy trì ký ức để nó giúp lớn lên và sinh hoa trái. Ngài kể cho mọi người nghe chuyện một bà cụ già 80 tuổi người Armeni nhưng sống tại Georgia vẫy tay chào ngài. Khi nói chuyện bà cho biết bà đã đi xe bus 6-7 giờ để cố ý đến gặp ĐGH là người kế vị Thánh Phêrô. Hôm sau ngài lại gặp cùng bà cụ đó lại vẫy ngài. Ngài hỏi: “Ủa hôm qua tôi đã gặp bà rồi mà!”, bà nói : “Hôm nay con đi xe bus hai giờ tới để gặp ĐTC, người dại diện Chúa Giêsu. Ngài hỏi tại sao, bà cụ trả lời: “đức tin mà thưa cha”. Phụ nữ Georgia nổi tiếng là mạnh mẽ và có đức tin vững vàng đó là gia tài quý báu mà họ thông truyền cho con cháu. Gốc rễ đức tin của từng người là bà nội bà ngoại và mẹ chúng ta. Vì vậy cần nhớ lại quá khứ, có ký ức, can đảm sống trong hiện tại và hy vọng nơi tương lai.

ĐTC đã đặc biệt nhắn nhủ các linh muc tu sĩ nam nữ và chủng sinh hãy nhớ lại ơn gọi đời thánh hiến của mình, khi được Chúa Thánh Thần đánh động, như một linh mục trẻ đã chia sẻ. Cha kể lại rằng hồi còn bé có lần trông thây một linh mục cha nói với mẹ “Mai mốt con muốn trở thành như cái ông kia kià mẹ” Và khi lớn lên cha đã làm linh mục như lòng mong ước khi còn bé.

Ký ức ơn gọi giúp chúng ta vượt thắng các khó khăn cám dỗ trong cuộc sống và kiên trì trong ơn gọi. ĐTC khuyên các người sống đời thánh hiến đừng bao giờ quay lại đàng sau, nhưng kiên trì vững vàng tiến bước với các yêu đuối và tội lỗi của mình, với các khó khăn và chưóng ngại có thể gặp trong cuộc sống, các hiểu lầm, các thất bại, chán nản ngã lòng. Và nhất là phải xác tín rằng lòng thương xót Chúa lớn hơn tội lỗi của chúng ta.

Liên quan tới các khó khăn của cuộc sống hôn nhân, mà hàng giáo sĩ và tu sĩ thường gặp phải trong việc mục vụ gia đình, ĐTC khuyến khích các linh mục tu sĩ và toàn cộng đoàn phải tiếp đón, đồng hành và tìm mọi cách giúp các cặp vợ chồng gặp khó khăn cứu vãn hôn nhân của họ. Khi cha mẹ lục đục và muốn ly dị ly thân, Thiên Chúa và con cái đau khổ biết bao, vì như thế là làm nhọ hình ảnh của Thiên Chúa và gây thiệt hại cho con cái. Khi bị cám dỗ thấy một người đàn bà hay đàn ông khác trổi vượt hơn vợ hay chồng mình, cần phải xin Chúa giúp đỡ ngay để thắng vượt cám dỗ đó. Để duy trì hạnh phúc các cặp vợ chồng phải biết tiếp đón nhau, đồng hành với nhau, cùng nhau phân định và cùng nhau hội nhập. Có ba từ cần sử dụng liên tục là: xin phép, cám ơn và xin lỗi. Chúng cho phép cuộc sống gia đình tiến tới. Và ĐTC khuyên các cặp vợ chồng đừng bao giờ kết thúc ngày sống mà không làm hoà với nhau, với các cử chỉ hay lời nói đơn sơ, kể cả một cái vuốt ve trìu mến không lời. Các lục đục, khó khăn, bất hoà, hiểu lầm, cãi cọ là những điều bình thường có thể xảy ra trong gia đình. Dù có cãi nhau, đĩa bay chén bay, hay cái gì đi nữa, đừng bao giờ kết thúc ngày sống mà không làm hoà với nhau.

Gia đình ngày nay bị tấn công bởi biết bao nhiêu tư tưởng thực dân như ý niệm về giống. Phải bảo vệ gia đình chống lại các ý thức hệ thực dân đó, và chạy đến với hai bà Mẹ: Mẹ Maria là Mẹ Chúa Giêsu và là Mẹ chúng ta và Mẹ Giáo Hội. ĐTC nói:

Chúa Giêsu thích làm cho Giáo Hội tiến tới với hai phụ nữ: đó là Mẹ của Ngài, Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ chúng ta và Hiền Thê của ngài là  Giáo Hội. Với hài bà mẹ này Giáo Hội tiến tới vững vàng. Chúa yêu thích làm cho Giáo Hội tiến tới như thế và phụ nữ là những người thông truyền đức tin và bảo vệ đức tin. Các đan sĩ Georgia thường nói: khi gặp các tấn công hay khổ đau khốn khó, tín hữu cần chạy đến trú ẩn đưới áo choàng của Mẹ Maria. Đức Maria là mẹ, Giáo Hội là mẹ. Với hai bà mẹ này chúng ta tiến bước vững vàng trong cuộc sống đức tin.

Vấn đề sau cùng được ĐTC nhắc đến là vấn đề đại kết. Hãy để các khó khăn thần học cho các thần học gia thảo luận. Chúng ta hãy sống cởi mở, sống tình bạn, cộng tác với nhau trong các việc bác ái. Đừng muốn hoán cải người khác, không được chiêu dụ các tín đồ chính thống. Họ là anh em của chúng ta. Vì các lý do lịch sử và nhiều lý do phức tạp khác chúng ta rơi vào tỉnh trạng hiện nay, nhưng hãy biết chấp nhận nhau, sống thân hữu với nhau, đồng hành với nhau, cầu nguyện cho nhau và cùng nhau hoạt động bác ái, không lên án. Đó là sống đại kết.

ĐTC đặc biệt cảnh cáo các linh mục tu sĩ chủng sinh và tín hữu chống lại tinh thần trần tục. Chúa Giêsu đã là người cương quyết và mạnh mẽ chống lại tinh thần thế tục này, và trong bữa Tiệc Ly đã xin Thiên  Chúa Cha bảo vệ các môn đệ khởi tình thần trần tục. Tóm lại cần phài duy trì vững mạnh đức tin đã nhận lãnh được từ thế hệ ông bà cha mẹ, giữ gìn, sống, và thông truyền nó cho những người khác, và biết chạy đến ẩn náu dước bóng áo choàng của Mẹ Maria.

ĐTC đã cùng mọi người đọc một kinh Kính Mừng. Tiếp đến cộng đoàn hát kinh Lậy Cha và ĐTC lãnh phép lành toà thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải

 

Ngày thứ ba ĐTC viếng thăm Georgia và Azerbaigian

Tường thuật ngày thứ 3 ĐTC viếng thăm mục vụ Georgia và Azerbaigian

Chúa Nhật 2-10 là ngày chót trong chuyến công du mục vụ ba ngày của ĐTC Phanxicô tại hai nước Georgia và Azerbaigian. Từ thủ đô Tbilisi Georgia ĐTC bay sang thủ đô Baku của Azerbaigian. Azerbaigian rộng 86.600 cây số vuông, có gần 10 triệu dân, gồm 92,2% gốc Azeri, 3,5% gốc Nga, 2,2% gốc Lesghi, và 2% gốc Armeni. Trên bình diện tôn giáo 88% theo Hồi giáo, trong đó 62% là người Sciít, và 26% là người Sunnít. Chính thống giáo chiếm 12%, trong khi công giáo chiếm 0,01%.

Lịch sử Azerbaigian rất cổ xưa, nó gắn liền với các nền văn hóa nở hoa trong vùng Lưỡng Hà, tức Iran Iraq ngày nay. Nó là vùng đất nằm giữa đế quốc Roma rồi Bisanzio, và Ba Tư Sasanít. Bị người A rập chiếm đóng hồi thế kỷ thứ VII Azerbaigian bị phân chia giữa các triều đại Iran và Thổ Nhĩ Kỳ. Từ thế kỷ XVI nó thuộc Ba Tư Safawít. Từ thế kỷ XVIII nó chịu áp lực của Nga cho tới khi bị chia đôi: phía tây thuộc Nga rồi Liên Xô, phiá đông thuộc Ba Tư. Năm 1991 Azerbaigian được độc lập khỏi Liên Xô. Từ năm 2001 là thành viên Hội Đồng Âu châu. Năm 1988 chiến tranh bùng nổ giữa Azerbaigian và Armenia trong vùng Nagorno Karabakh có đa số dân người Armeni, đã bị Staline sát nhập vào Azerbaigian năm 1921. Chiến tranh bùng nổ vì phong trào quốc gia muốn hiệp nhất trở lại với Armenia đã khiến cho 30.000 người chết và hàng chục ngàn người tỵ nạn. Năm 1994 hai bên đình chiến, nhưng quân đội Armeni vẫn hiện diện. Năm 1997 vùng này được tự trị nhiều hơn và có môt hành lang thông thương với Armenia. Tháng 4 năm 2016 thoả hiệp ngưng chiến bị vi phạm, và chiến tranh tái bùng nổ khiến cho hơn 100 người thiệt mạng và hàng trăm người bị thương. Ngày mùng 2 tháng 6 năm nay qua trung gian của Nga và Hoa Kỳ  một thoả hiệp ngưng bắn mới được ký kết tại Vienne. Hiện nay dầu lửa là nguồn lợi kinh tế chính của Azerbaigian.

Kitô giáo có lịch sử cổ xưa. Theo truyền thống thánh Bartolomeo đã sang truyền giáo tại Ấn Độ  và chết tử đạo tại Azerbaigian hồi hậu bán thế kỷ thứ I. Công việc rao truyền Tin Mừng được thánh Eliseo, môn đệ của tông đồ Tađêo tiếp tục. Thánh Eliseo cũng là người đầu tiên xây nhà thờ trong xứ, và xác ngài được chôn cất tại làng Kish, gần thành phố Sheki được gọi là “Mẹ của các Giáo Hội dông phương” . Tuy nhiên Gregorio Đấng đuợc soi sáng mới là ngưởi rao giảng Tin Mừng tại Armenia và thành công trong việc hoán cải vua Urmayr vua người Albani năm 313. Nhà vua chọn Kitô giáo làm quốc giáo.

Giáo Hội tông truyền Albania tách rời khỏi Giáo Hội  Roma sau công đồng Calcedonia năm 451 và độc lập cho tới khi nhập chung với Giáo Hội tông truyền Armeni trước khi ngưòi A rập xâm nhập vùng Caucaso hồi thế kỷ thứ VIII, và làm thành một Catholicato tự trị, sau đó rời về đan viện Gandzasar trong vùng Nagorno Karabakh cho tới năm 1836 thì bị Nga hoàng bãi bỏ và giảm xuống hàng tổng giám mục của Giáo Hội tông truyền Armeni. Vào thế kỷ XIV Công giáo được du nhập vào đây nhờ các tu sĩ dòng Đa Minh, Cát Minh và Agostino, và đạt sự phát triển tột đỉnh vào thế kỷ XVIII với sự trợ giúp của các tu sĩ dòng Tên. Giáo Hội có các nhà thờ, trường học và đan viện tại nhiều thành phố khác nhau.

Các sinh hoạt của Giáo Hội công giáo bị gián đoạn sau khi Azerbaigian bị đế quốc Nga xâm lăng vào đầu thế kỷ XIX, và danh ưu tiên cho Giáo Hội chính thống. Giáo xứ đầu tiên được thành lập năm 1882, nhưng tới năm 1900 mới được thừa nhận, và năm 1912 mới có nhà thờ đầu tiên là nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Giữa các năm 1917-1991 Giáo Hội công giáo bị chế độ cộng sản Liên Xô bách hại khốc liệt. Năm 1930 nhà thờ bị phá hủy. Linh mục cuối cùng là cha Stefan Demurow bị giết. Kể từ đó trong vòng 60 năm đã không có linh mục công giáo nào được phép đặt chân tới đây. Sau khi Azerbaigian được độc lập năm 1991 Giáo Hội công giáo chỉ có khoảng  30 giáo dân, không có nhà thờ và linh mục. Năm 1997 linh mục đầu tiên tới Baku theo lời xin của tín hữu là cha Jerzy Pilus, người Ba Lan. Kể từ đó trở đi Giáo Hội Azerbaigian bắt đầu hồi sinh. 

Chúa Nhật hôm qua ĐTC đã có bốn sinh hoạt chính: Sau lễ nghi tiếp đón ngài đã đến nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm của dòng Salesien để dâng thánh lễ. Tiếp đến vào ban chiều có lễ nghi chào đón tại dinh tổng thống, thăm xã giao tổng thống và đài kỷ niệm các chiến sĩ trận vong. Lúc 5 giờ chiều ĐTC gặp gỡ các giới chức chính quyền, đại điện các cơ quan và ngoại giao đoàn tại trung tâm Heydar Aliyev. Tiếp đến ĐTC gặp gỡ Sceico của người Hồi vùng Caucaso và đại diện các tôn giáo khác tại phòng chính của đền thờ Hồi giáo Heydar Aliyev, trước khi từ giã Azerbaigian lấy máy bay trở về Roma. Sau đây là chi tiết các sinh hoạt của ĐTC.

Sáng Chúa Nhật lúc sau 7 giờ ĐTC từ giã toà Sứ Thần Toà Thánh để đi xe ra phi trương Tbilisi cách đó 26 cây số. ĐTC đã được tổng thống Cộng hoà Georgia và Đức Thượng Phụ tiếp đón. Lễ nghi tiễn biệt đã diễn ra long trọng. Máy bay chở  ĐTC và đoàn tuỳ tùng đã cất cánh rời phi trường Tbilisi để trực chỉ Baku cách đó 448 cây số. Sau 1 giờ 20 phút bay chiếc A321 của hãng hàng không Alitalia đã hạ cánh tại phi trường quốc tế Heydar Aliyev của thủ đô Baku. Tiếp đón ĐTC tại phi trường có phó thủ tướng Azerbaigian, và linh mục Vladimir Fekete, giảm quản giáo phận. ĐTGM Marek Solczýnski Sứ Thần Toà Thánh ở trong đoàn tuỳ tùng vì ngài cũng là Sứ Thần tại Georgia.

Thủ đô Baku có gần 2 triệu dân nằm trên bờ phía tây của biển Caspio, trên bán đảo Asheron, là điểm nối liền Đông Tây. Tên gọi phát xuất từ tiếng Ba Tư cổ Badu-Kube” là “thành phố gió” có hải cảng thương mại trong một vùng có nhiều mỏ dầu hoả và nhà máy lọc dầu.  Năm 2005 có một ống dẫn dầu dài 1770 cây số đi qua Georgia và Thổ Nhĩ Kỳ đến thành phố Ceyhan trên bờ biển Địa Trung Hải. Thủ đô tân tiến là trung tâm chính trị, văn hóa và kỹ nghệ. Trong số nhiều viện bảo tàng nổi tiếng nhất là viện bảo tàng trưng bầy các thảm dệt, các tác phẩm nghệ thuật áp dụng như đồ trang sức, thêu, và các vật dụng bằng kim loại và gỗ khắc. Trung tâm thành cổ nằm bên trong một pháo đài có chiếc tháp Trinh Nữ cao 29 mét, được Liên Hiêp Quốc tuyên bố là gia tài của nhân loại năm 2000; dinh thự của vua Shirvan thuộc thế kỷ XV, và đền thờ hồi giáo Taza Pir xây đầu thế kỷ XX. Ngoài ra còn có dinh chính quyền theo kiểu liên xô. Ba Ku đã do Alách xăng đại đế thành lập. Từ thế kỷ thứ VII nó nằm trong tay người A Rập, từ 1583 tới 1606 nó thuộc đế quốc Ottoman. Nga hoàng Phêrô Cả đánh chiếm thành phố năm 1723. Trong thế kỷ XVIII nó là vùng tranh chấp giữa Nga và Ba Tư, cho tới khi bị Nga tái chiếm  năm 1806. Năm 1991 Azerbaigian được độc lập.

Giáo quận tông toà Baku được thành lập năm 2000, gồm 9,5 triệu dân, nhưng chỉ cơ 560 tín hữu công giáo, 1 giáo xứ, một cứ điểm truyền giáo. Nhân lực của giáo quận gồm 7 linh mục dòng, 10 tuy huynh, và 5 nữ tu và 1 đại chủng sinh. Giáo Hội điều khiển 1 trung tâm giáo dục và 1 trung tâm bác ái.

Sau lễ nghi tiếp đón tại phi trường ĐTC đã đi xe về nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm cách đó 23 cây số để dâng thánh lễ cho tín hữu.

 Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm được xây năm 1909, năm 1931 bị người Bônxêvích phá huỷ. Cộng đoàn tín hữu nảy sinh năm 1992. Họ viết thư về Toà Thánh để xin một linh mục. Năm 2002 sau chuyến viếng thăm mục vụ của Đức Gioan Phaolô II tổng thống Heydar Aliyev tặng Giáo Hội một mảnh đất để xây nhà thờ. Nhà thờ đã được khánh thành năm 2007 với sự tham dự của ĐHY Bertone, hồi đó là Quốc Vụ Khanh Toà Thánh. Nhà thờ thuộc trung tâm Salesien, gồm 6 linh mục, 3 tu huynh và một thanh niên Azero đang theo học để làm Phó tế. Đây là trung tâm giáo dục trẻ em và người trẻ, và cung cấp thực phẩm cho người nghèo và người tỵ nạn. Bên cạnh đó cũng có các nữ tu thừa sai bác ái của Mẹ Têrêxa Calcutta hoạt động cho người già và dân nghèo, và từ năm 2015 cũng có thêm các nữ tu Salesien nữa.

Thánh lễ đã được cử hành bằng tiéng latinh, Các bài đọc và thânh ca gồm nhièu thứ tiếng khác nhau. Hàng trăm tin hữu khác đã theo dõi thành lễ ở bên ngoài nhà thờ.

Giảng trong thánh lễ ĐTC nêu bật hai khía canh của cuộc sống kitô là đức tin phục vụ.

Bài đọc thứ nhất kể lại lời ngôn sứ Khabacúc khẩn nài Thiên Chúa can thiệp để tái lập công lý và hoà bình, bị con người dùng bạo lực đập tan. Khi trả lời Thiên Chúa trả không can thiệp và giải quyết vấn đề một cách đột ngột và với sức mạnh. Trái lại Ngài mời gọi kiên nhẫn chờ đợi và không đánh mất đi niềm hy vọng và nhất là nhấn mạnh tới lòng tin, vì chính nhờ đức tin mà con người sẽ sống (Kbc 2,4). Thiên Chúa cũng làm như thế đối với chúng ta: Ngài muốn chữa lành con tim của tôi, của bạn, của từng người. Và ĐTC giải thích kiểu Thiên Chúa làm như sau:

Ngài thay đổi thế giới bằng cách thay đổi con tim chúng ta, và Ngài không thể làm điều này mà không có sự cộng tác chúng ta. Thật thế, Thiên Chúa muốn chúng ta mở cửa con tim cho Ngài để có thể bước vào cuộc sống chúng ta. Bởi vì khi Thiên Chúa tìm thấy một con tim rộng mở và tin tưởng, ở đó Ngài có thể làm các điều kỳ diệu.

Nhưng có đức tin, một đức tin sống động, không phải là điều dễ dàng. Chính vì thế chúng ta hiểu tại sao các tông đồ lại xin Chúa gia tăng lòng tin cho các ngài. Đây là một lời xin đẹp, một lời cầu mà chúng ta có thể hướng lên Chúa mỗi ngày. Đức tin là một ơn của Chúa, nhưng luôn luôn phải được chúng ta xin và vun trồng mỗi ngày. Nó không phải là một sức mạnh ma thuật từ trời xuống, nó không phải là một “của hồi môn” nhận một lần cho luôn mãi, lại càng không phải là một quyền lực siêu phàm giúp giải quyết các vấn đề của cuôc sống.

Tiếp tục bài giảng ĐTC nói: Không được lẫn lộn đức tin với sự thoải mái, với việc đuợc an ủi trong tâm hồn, vì chúng ta có được một chút bình an. Đức tin là sợi chỉ vàng nối liền chúng ta với Chúa, là niềm vui tinh tuyền được ở với Ngài, đuợc hiệp nhất trong Ngài. Nó là món quà đáng giá toàn cuộc sống, nhưng chi sinh hoa trái nếu chúng ta làm phần mình. Và phần của chúng ta là việc phục vụ. Không thể tách rời Đức tin và sự phục vụ, chúng gắn liền với nhau và được cột buộc vào nhau, y như các tấm thảm, là các tác phẩm nghệ thuật có một lịch sử rất xa xưa của anh chị em. Đức tin của chúng ta cũng thế nó đến từ xa xưa, là môt món qua, mà chúng ta nhận được trong Giáo Hội, phát xuất tử con tim của Thiên Chúa Cha, là Đấng muốn biến từng người trong chúng ta thành một tác phẩm của thụ tạo và của lịch sử. Cuộc sống kitô của chúng ta cũng thế: nó được dệt từng ngày một cách kiên nhẫn: sợi ngang sợi dọc đan nhau một cách chính xác, sợi dọc của đức tin sợi ngang của phục vụ. Khi đức tin giao thoa với phục vụ nó trở thành quyền năng và làm những điều kỳ diệu.

Phục vụ không phải chỉ là thực thi nhiệm vụ của mình, và làm một vài việc thiện. Đối với Chúa Giêsu nó còn hơn thế rẩt nhiều. Nó là một sự sẵn sàng hoàn toàn trong suốt cuộc đời, không tính toán và không lợi lộc. Trao ban tận hiến hoàn toàn như Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Như thế, chúng ta không chỉ được mời gọi phục vụ để được một phần thưởng, nhưng noi gương Chúa trở thành người phục vụ vì yêu thương. ĐTC giải thích thêm như sau:

Khi đó phục là một kiểu sống, còn hơn thế nữa nó tóm gọn kiếu sống kitô: phục vụ Thiên Chúa trong thờ lậy và cầu nguyện, rộng mở và sẵn sàng, yêu thương tha nhân một cách cụ thể, hăng hái lo cho công ích.

Tuy nhiên, trong cuộc sống đức tin cũng có các cám dỗ: truớc hết là một con tim nguội lạnh khiến cho tín hữu sống uơn lười và bóp nghẹt tình yêu, chỉ sống để thoả mãn các thoải mái riêng không bao giờ đủ, và không bao giờ hài lòng, và rốt cuộc sống tầm thường xoàng xĩnh. Họ dành phần trăm cho Chúa và cho tha nhân, và luôn luôn tiết kiệm. Anh chị em đừng để cho con tim mình nguội lạnh đi. Toàn Giáo Hội nhìn anh chị em và khích lệ anh chị em: anh chị em là một đoàn chiên nhỏ bé nhưng quý báu đối với Thiên Chúa.

Cám dỗ thứ hai là “quá hoạt động” nghĩ rằng mình là chủ nhân ông, cho đi chỉ để có điểm, để trở thành nhân vật quan trọng. Khi đó phục vụ trở thành phương tiện chứ không phải là mục đích, bởi vì mục đích đã trở thành uy tín, rồi quyền lực, muốn làm lớn.

Lấy lại hình ảnh các sợi chỉ của tấm thảm ĐTC khích lệ từng người hãy là sợi tơ đan chặt vào nhau giao thoa nhau hiệp nhất với nhau, sống tươi vui khiêm tốn, bác ái, tạo dựng hoà hợp, và họ sẽ là một tác phẩm tuyệt đẹp của Chúa. ĐTC xin Mẹ Maria và thánh Terexa Calcutta bầu cử cho họ và xin họ ghi nhớ sứ điệp của Mẹ: “Hoa trái của đức tin là tình yêu, hoa trái của tình yêu là phục vụ, hoa trái của phục vụ và hoà bình” (Il cammino semplice, Introduzione)

Cuối thánh lễ Linh Mục Vladimir Fekete, giám quận tông toà Baku, đã cám ơn ĐTC vì món quà lớn là chuyến viếng thăm của ngài. Là người yêu thương dân nghèo và những nguởi bị bỏ rơi, và hiểu ý nghĩa các từ kỳ thị, gạt bỏ ngoài lề xã hội và nghèo túng là gì, ĐTC đang nỗ lực chỉ cho mọi người thấy có thể thay đổi các thực tại này thành thương xót, lòng tốt, sự khoan nhượng và tất cả mọi từ khác diễn tả tình bác ái.

ĐTC đã đọc kinh truyền tin và ban phép lành toà thánh cho mọi người.

Vào cuối thành lễ ĐTC dã ứng khẩu nói: Có ngưòi nghĩ là GGH mất thời giờ đi biết bao cây sổ để thăm một cộng đoàn 700 người trong một vùng có 2 triệu tín hữu. Một cộng đoàn không đồng nhất vì nói tiếng Azero, Ý, Anh, Tây ban Nha… Một cộng đoàn ở ngoại biên thế giới. Nhưng ĐGH bắt chước Chúa Thánh Thần, là Đấng đã ngự xuống trên một cộng đoàn bé nhỏ ở ngoại biên đóng kín trong Nhà Tiệc Ly. Một cộng đoàn cảm thấy mình sợ hãi nghèo nàn và có lẽ bị bách hại và bị bỏ ra ngoài. Chúa Thánh Thần ban lòng can đảm, sức mạnh và sự “tự do nói tất cả” để tiến lên rao giảng danh Chúa Giêsu. Và các cửa của cộng đoàn Giêrusalem đóng vì sợ hãi hay xấu hổ, đã mở toang ra, và sức mạnh của Chúa Thánh Thần đi ra. ĐGH mất thời giờ như Chúa Thánh Thần mất thời giờ hồi đó.

Chỉ có hai điều cần thiết. Trong cộng đoàn đó đã có Mẹ. Anh chị em đừng quên Mẹ! Trong cộng đoàn đó có tình bác ái, tình yêu huynh đệ mà Chúa Thánh Thần đã đổ tràn đầy xuống cho họ. Hãy can đảm lên, Hãy tiến lên. Không sợ hãi. Hãy tiến lên!

Sau thánh lễ ĐTC và đoàn tuỳ tùng đã dùng bữa trưa với cộng đoàn các cha Salesien.

Lúc 3 giờ chiều ĐTC từ giã nhân viên và các cộng sự viên của trung tâm, rồi đi xe tới Dinh tổng thống để thăm xã giao tổng thống Hham Heydar Aliyev, và gặp các giới chức chính trị, ngoại giao đoàn và giới chức xã hội dân sự. Tổng thống sinh năm 1961, theo học ngành tương giao quốc tế và làm chủ doanh nghiệp tư, sau đó làm phó chủ tịch hãng dầu hoả quốc gia SOCAR từ năm 1994-2003, dân biểu, dẫn đầu đảng Tân Azerbaigian, thủ tướng, rồi được bầu làm tổng thống năm 2003.

Tổng thống đã tiếp đón ĐTC tại cửa dinh nơi diễn ra lễ nghi tiếp đón. Sau khi chụp hình lưu niệm tổng thống và ĐTC đã lên thư phòng ở lầu một để đàm đạo với nhau. Tiếp đến tổng thống giới thiệu gia đình, vợ ba con, ba cháu với ĐTC, hai bên trao đổi quà tặng.

Khoảng 4 giờ rưỡi chiều ĐTC đi thăm đài tưởng niệm các chiến sĩ trận vong cho nền độc lập quốc gia, cách đó 8 cây số. Đài kỷ niệm này được xây năm 1998 trên vùng đất gọi là “Đại lộ các vị tử đạo” biểu tượng cho cuộc chiến đấu cho tự do và sự vẹn toàn của lãnh thổ quốc gia. Năm 1918 các binh sĩ Azeri và Thổ Nhĩ Kỳ tử trận trong cuộc bảo vệ thành phố đuợc chôn cất tại đây. Đây cũng là nơi người dân Azeri biểu  tình chống quân đội liên xô hồi năm 1990. Những người đã bị tàn sát trong dịp đó cũng được chôn cất nơi đây. Các binh sĩ tử trận trong chiến tranh Nagorno-Karraback năm 1992-1994 cũng được chôn cất ở đây.

Xe chở ĐTC dừng trước đài kỷ niệm. ĐTC đã đặt một vòng hoa tại đài kỷ niệm trước sự hiện diện của ông thị trưởng thành phố.

Tiếp đến ĐTC đến Trung tâm Heydar Eliyev cách đó 8 cấy số để găp gỡ 1000 quan khách thuộc giới lãnh đạo chính trị ngoại giao đoàn và đại diện xã hội dân sự và các cơ cấu khác.

Đáp lởi chào của tổng thống ĐTC đã nhắc tới ngày 10 tháng 10 Azerbaigian kỷ niệm 25 năm độc lập. Đây là dịp nhìn vào những gì đã thực hiện được trong các thập niên qua, các tiến bộ  cũng như các vấn đề trước mắt. Lịch sử vùng đất này đã cho thấy phần đóng góp của biết bao nhiêu dân tộc và các cố gắng củng cố cơ cấu, phát triển kinh tế và dân sự đã đạt được là nhờ sự chú ý tới thực tại đa văn hóa và đa tôn giáo và thừa nhận sự bổ túc cho nhau giữa mọi nhóm xã hội. Ngoài ra cũng nhờ các tương quan tôn trọng và cộng tác với nhau giữa các nhóm dân sự và tôn giáo khác nhau. Mọi tuỳ thuộc chủng tộc hay ý thức hệ cũng như mọi lộ trình tôn giáo đích thật chỉ có thể loại trừ các thái độ và quan niệm lạm dụng các xác tín, căn tính riêng hay nhân danh Thiên Chúa để hợp thức hóa các ý đồ đàn áp hay thống trị. ĐTC cầu chúc dân nước Azerbaigian như sau:

Tôi nhiệt liệt cầu chúc dân nước Azerbaigian tiếp tục trên con đường cộng tác giữa các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau. Ước chi sự hoà hợp và chung sống hoà bình ngày càng dưỡng nuôi cuộc sống xã hội và dân sự của đất nước, trong các diễn tả đa diện  của nó, bằng cách bảo đảm cho tất cả mọi người khả thể đóng góp phần mình cho công ích.

Thế giới đang sống thảm cảnh của biết bao nhiêu cuộc xung đột được dưỡng nuôi bởi sự bất khoan nhượng, bởi các ý thức hệ bạo lực và khước bỏ các quyền của những người yếu đuối nhất. Để đương đầu với các lệch lạc này cần phải làm cho nền văn hóa của hoà bình lớn lên, một nền văn hóa được dưỡng nuôi bằng việc luôn luôn sẵn sàng đối thoại, và ý thức rằng không có sự lựa chọn hữu lý nào khác ngoài việc kiên nhẫn và kiên trì liên lỉ thương thuyết để tìm ra các giải pháp. Khi xảy ra các xung đột bên trong quốc gia, cần thăng tiến hoà hợp giữa các thành phần khác nhau, cũng như giữa các quốc gia cần can đảm khôn ngoan theo đuổi con đường dẫn đến tiến bộ và tự do của các dân tộc, mở ra các lộ trình độc đáo nhắm tới các thoả hiệp lâu dài và hoà bình. Như thế cũng là để tránh cho các dân tộc khỏi bị các khổ đau và xé nát thương tâm khó hàn gắn.

ĐTC đặc biệt nghĩ tới các người tỵ nạn và khổ đau vì các xung đột đẫm máu, và ngài cầu mong cộng đồng quốc tế biết trợ giúp họ đồng thời cho phép một khởi đầu mới cho hoà bình ổn định trong vùng. ĐTC kêu gọi dùng mọi phương thế để đạt tới một giải pháp thỏa đáng. Ngài xác tín rằng với sự trợ giúp của Thiên Chúa và với thiện chí của mọi phiá vùng Caucaso sẽ có thể trở thành nơi, qua việc đối thoại và thương thuyết, các tranh chấp và khác biệt sẽ được thắng vượt để cho vùng đất là cánh cửa giữa Đông Tây này cũng trở thành một cửa rộng mở cho hoà bình và là một thí dụ giúp giải quyết các xung khắc cũ và mới.

Tuy là một thực thể bé nhỏ nhưng Giáo Hội công giáo được tháp nhập vào cuộc sống dân sự xã hội Azerbaigian, tham dự vào mọi buồn vui của đất nước, và liên đới trong việc đương đầu với các khó khăn. Việc thừa nhận pháp lý được ký kết trong thoả hiệp với Toà Thánh năm 2011 khiến cho cộng đoàn công giáo có khung cảnh ổn định cho cuộc sống. ĐTC đặc biệt vui mừng vì các tương quan tích cực của cộng đoàn công giáo với các cộng đoàn hồi giáo, chính thống và do thái giáo. Việc gắn bó với các giá trị tôn giáo không thể hoà hợp với sự áp đặt bằng bạo lực các quan điểm của mình trên người khác, bằng cách dùng danh Thiên  Chúa làm thuẫn đỡ. Trái lại niềm tin nơi Thiên Chúa là suối nguồn và linh hứng cho sự cảm thông và tôn trọng lẫn nhau vì công ích của xã hội. Xin Thiên Chúa chúc lành cho Azerbaigian với sự hoà hợp, hòa bình và thịnh vượng.

Vào lúc 5 giờ ruỡi chiều ĐTC đã đến đền thờ Heydar Aliyev để gặp gỡ  Sceico của người Hồi vùng Caucaso là ông Allashukur Pashazadeh. Ông đã từng theo học bên Uzbekistan, rồi tại Học viện Imam Albukhari Tashkent. Sau đó ông trở thành thư ký điều hành Hội đồng Hồi vùng Caucaso, rồi được bầu làm chủ tịch. Ông cũng đã là thành viên Quốc hội đầu tiên của Azerbaigian và là thành viên ban cố vấn tôn giáo của tổ chức UNESCO và của Ủy ban đối thoại liên tôn và được ĐGH Gioan Phaolô II trao tặng Huy chương “Thánh Giorgio” của Vaticăng.

Đáp lời chào của Sceico, ĐTC nói thật là ý nghĩa cuộc vặp gỡ thân hữu huynh đệ giữa các tôn giáo trong nơi cầu nguyện này. Nó là dấu chỉ cho thấy các tôn giáo có thể cùng nhau xây dựng sự hoà hợp, từ các tương quan cá nhân và từ thiện chí của hàng lãnh đạo. Dân nước Azerbaigian ước muốn duy trì gia tài lớn lao của các tôn giáo, và tìm kiếm một sự rộng mở lớn và phong phú hơn, trong đó Công giáo có chỗ đứng hoà hợp với các tôn giáo khác đông đảo hơn và có thể cộng tác chung xây các xã hội tốt đẹp và hoà bình hơn. Ước chi vùng đất cánh cửa giữa Đông Tây này ngày càng vun trồng ơn gọi rộng mở và gặp gỡ, là các điều kiện cần thiết giúp xây dựng các cây cầu hoà bình và một tương lai xứng đáng với con người. Rộng mở cho tha nhân không làm cho nghèo nàn đi, nhưng làm giầu, vì giúp con người là người hơn, nhận biết mình là thành phần tích cực của một tổng thể lớn hơn, và giải thích cuộc sống như là một món quà cho tất cả mọi người khsc, nhìn đích tới không phải với các lợi lộc riêng, nhưng như ích lợi của nhân loại, hành động không với các chủ thuyết lý tưởng và các chủ trương can thiệp, không xen mình một cách nguy hiểm, và không có các hành động áp đặt.

 

Chính các tôn giáo có một nhiệm vụ lớn là đồng hành với con người trong việc kiếm tìm ý nghĩa cuộc sống, giúp nó hiểu rằng các khả năng hạn hẹp của con người và các của cải trần gian này không được trở thành các điều tuyệt đối. Trích lời thi sĩ Nizami của Azerbaigian, khuyên con người biết rằng các hoa trái của thế giới này không vĩnh cửu, và đừng tôn thờ cái hư mất, rằng “tình yêu là điều bất biến, là điều không có tận cùng”, ĐTC nói: Các tôn giáo được mời gọi giúp hiểu rằng trung tâm của con người ở ngoài mình, rằng chúng ta hướng tới Đấng Cao cả vô tận, và hướng tới tha nhân. Tôn giáo là một sự cần thiết cho con người, để nó hiện thực đích điểm của nó, một địa bàn định hướng nó cho sự thiện, và khiến cho nó xa sự dữ, luôn rình rập ngoài cửa con tim nó. Trong nghĩa đó các tôn giáo có một nhiệm vụ giáo dục: giúp rút tiả ra từ con người điều tốt lành nhất. Và như là các người lãnh đạo chúng ta có trách nhiệm lớn là cống hiến các câu trả lời đích thực cho sự tìm kiếm của con người, thường lạc lõng trong các lốc xoáy mâu thuẫn của thời dại chúng ta. Một đàng có người theo chủ thuyết hư vô, không tin vào cái gì hết nếu không phải là các lợi lộc riêng tư, hay vứt bỏ đời minh và sống theo châm ngôn “Nếu Thiên Chúa không hiện hữu, thì tất cả đều được phép”. Đàng khác ngày càng có các người phản ứng cứng nhắc  và cuồng tín, có các lời nói và cử chỉ bạo lực, muốn áp đặt các thái độ quá khích triệt để, xa cách Thiên Chúa hằng sống nhất. Trái lại các tôn giáo giúp phân định sự thiện sự và thực hành với các công việc làm, lời cầu nguyện và sư mệt nhọc của nội tâm, chúng được mời gọi xây dựng nền văn hoá gặp gỡ và hoà bình, được làm với sự kiên nhẫn, cảm thông, với các bước đi khiêm tốn và cụ thể. Không bao giờ được phép lèo lái tôn giáo, và tôn giáo không bao giờ được cho vay mượn và trợ giúp các xung đột và các đối kháng.

ĐTC đã dùng hình ảnh nghệ thuật làm kính mầu bằng gỗ và kính Shekele, đã có từ nhiều thế kỷ tại Azerbaigian, để diễn tả sự gắn bó giữa xã hội và tôn giáo. Người ta không dùng keo dính, không dùng đinh, nhưng chỉ dùng gỗ bọc kính với nhau để cho ánh sáng lùa vào. Cũng thế, mỗi xã hội dân sự đều phải nâng đỡ tôn giáo để cho ánh sáng cần thiết cho sự sống tràn vào. Vì thế cần bảo đảm cho tôn giáo được tự do thực sự. Không dùng keo dán giả tạo bắt buộc con người tin, không áp đặt một niềm tin xác định, đánh mất sự tự do lựa chọn, không có các đinh đóng từ bên ngoài của các lợi lộc trần thế, của các tham vọng quyền bính và tiền bạc. Bởi vì Thiên  Chúa không thể được khẩn nài cho các lợi nhuận riêng tư, hay cho các mục đích ích kỷ, không thể biện minh cho bất cứ hình thức nào của chủ thuyết cuồng tín, đế quốc hay thực dân. Một lần nữa, từ nơi ý nghĩa này vang lên tiếng kêu mời: đừng bao giờ bạo lực nhân danh Thiên  Chúa nữa! Ước chi danh thánh của Ngài được tôn thờ, không bị phạm thánh và buôn bán bởi các thù hận và các đối nghịch của con người. Chúng ta hãy tôn vinh Thiên  Chúa bằng lời cầu nguyện kiên trì và bằng việc đối thoại cụ thể. Câu nguyện và đối thoại mở rộng con tim hướng tới thiện ích của tha nhân và tương ứng sâu xa với nhau.

Theo tinh thần Công Đồng Chung Vaticăng II Giáo Hội công giáo khích lệ con cái mình nhận ra các giá trị tinh thần, luân lý, xã hội, văn hóa nơi tín hữu các tôn giáo khác, giữ gìn chúng và làm cho chúng tiến triển. Không có khuynh hướng trộn lẫn tôn giáo, cũng không có sự cởi mở ngoại giao, nhưng là đối thoại với người khác và cầu nguyện cho họ Đó là các phương thế để biến giáo mác thành liềm, dấy lên tình yêu nơi có thù hận và tha thứ nơi có xúc phạm, để không mệt mỏi khẩn nài đi trên các con đường hoà bình.

Một nền hoà bình đích thực được xây dựng trên sự tôn trọng lẫn nhau, trên ý chí vượt qua các thành kiến và các lầm lỗi quá khứ, trên việc từ bỏ các thái độ hai lòng và các lợi lộc phe phái; một nền hoà bình lâu bền đuợc linh hoạt bởi lòng can đảm vượt qua các hàng rào, triệt hạ nghèo túng và các bất công, tố cáo và ngăn chặn việc gia tăng phổ biến các vũ khí và các lợi nhuận gian ác trên da thịt người khác. Tiếng của quá nhiều máu đổ ra từ trái đất căn nhà chung kêu lên tới Thiên Chúa. Giờ đây chúng ta đuợc gọi hỏi đưa ra một câu trả lời không thể chần chừ được nữa cho việc cùng nhau xây dựng một tương lai hoà bình: không phải với những giải pháp bạo lực và bất thình lình, nhưng đã đến lúc cấp thiết sử dụng các tiến trình kiên nhẫn của hoà giải. Vấn đề thực sự của thời đại chúng ta không phải là làm thế nào tiếp tục các lợi lộc của chúng ta, nhưng đâu là viễn tượng cuôc sống cống hiến cho các thế hệ tương lai, làm sao để lại cho họ một thế giới tốt đẹp hơn thế giới chúng ta đã nhận được. Thiên  Chúa và lịch sử sẽ hỏi chúng ta có tạo dựng hoà bình không, và   các thế hệ trẻ mơ một tương lai khác đang hỏi chúng ta rồi.

Ước chi trong đêm đen của các xung khắc mà chúng ta đang trải qua, các tôn giáo  là các bình mình của hoà bình, hạt giống của tái sinh giữa các tàn phá chết chóc, các tiếng vọng của đối thoại vang lên không mệt mỏi, các con đường của gặp gỡ và hoà giải để đến nơi mà các cố gắng làm trung gian chính thức xem ra không đem lại kết quả. Nhất là trong vùng Caucaso thân yêu này, mà tôi đã ước ao đến thăm như người hành hương hoà bình, ước chi các tôn giáo là các phương thế tích cực giúp thắng vượt các thảm kịch của quá khứ và các căng thẳng hiện tại

Sau khi từ giã đại diện các tôn giáo ĐTC đã đi xe ra phi trường từ giã Azerbaigian để về Roma. Lễ nghi từ biệt đã diễn ra đơn sơ. Phó thủ tương đã tiễn ĐTC tới chân thang máy bay. Máy bay chở ĐTC và đoàn tuỳ tùng đã cất cánh lúc 7 giờ tối giờ đia phương và về tới Ciampino lúc 10 giờ tối giờ Roma, kết thúc chuyến công du thứ 16 của ĐTC tại nước ngoài.

Linh Tiến Khải

 

Đức Thánh Cha nhìn lại cuộc viếng thăm Georgia và Azerbaigian

VATICAN. Trong buổi kiếp kiến chung sáng thứ tư, 5-10-2016, dành cho hơn 40 ngàn tín hữu hành hương, ĐTC đã thuật lại cuộc viếng thăm ngài mới thực hiện tại hai nước Georgia và Azerbaigian từ 30-9 đến 2-10-2016.

 Hiện diện tại buổi tiếp kiến còn có hơn 20 GM và gần 10 LM thông dịch viên.

 Trong bài huấn giáo, ĐTC tạm giác lại loạt bài về lòng thương xót, để đề cập đến cuộc viếng thăm mục vụ ngài mới thực hiện hồi cuối tuần qua tại Cộng hòa Georgia và Azerbaigian, với chủ đích củng cố các tín hữu Công Giáo, thăng tiến đại kết và hòa bình, hòa giải.

 Huấn dụ của ĐTC

 ”Cuối tuần qua, tôi đã thực hiện cuộc viếng thăm tại Georgia và Azerbaigian. Tôi cảm tạ Chúa đã ban cho tôi tiến hành cuộc viếng thăm này và tôi tái bày tỏ lòng biết ơn đối với các chính quyền dân sự và tôn giáo của hai nước, đặc biệt Đức Thượng Phụ toàn Georgia Ilia II và Sheik thủ lãnh của người Hồi giáo miền Caucase. Một lời cám ơn huynh đệ được gửi đến các GM, LM, tu sĩ và toàn thể tín hữu đã làm cho tôi cảm thấy lòng quí mến nồng nhiệt của họ.

 ”Cuộc viếng thăm này nối tiếp và bổ túc cuộc viếng thăm tôi đã thực hiện tại Armeni hồi tháng 6 năm nay. Vậy là nhờ ơn Chúa, tôi đã có thể thực hiện một dự án viếng thăm tất cả 3 nước vùng Caucase, để củng cố Giáo Hội Công Giáo sống tại đó và để khích lệ hành trình của các dân tộc ấy tiến về hòa bình và huynh đệ. Hai khẩu hiệu của cuộc viếng thăm vừa qua nêu bật điều đó: khẩu hiệu ”Pax vobis” (Bình an cho các con), đối với Georgia, và ”Tất cả chúng ta đều là anh em” đối với Azerbaigian.

 Cả hai nước có những căn cội lịch sử, văn hóa và tôn giáo rất cổ kính, nhưng đồng thời đang sống một giai đoạn mới: thực vậy, tất cả hai nước đều đang mừng kỷ niệm 25 năm độc lập, vì phần lớn thế kỷ 20 họ đã ở dưới chế độ Xô Viết. Và trong giai đoạn này họ gặp nhiều khó khăn trong xã lãnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Giáo Hội Công Giáo được kêu gọi hiện diện, gần gũi, đặc biệt qua dấu chỉ bác ái và thăng tiến nhân bản; và Giáo Hội tìm cách thực hiện điều đó trong niềm hiệp thông với các Giáo Hội và cộng đồng Kitô khác, và trong sự đối thoại với các cộng đồng tôn giáo khác, với xác tín rằng Thiên Chúa là Cha của tất cả mọi người và chúng ta là anh chị em với nhau.

 Tại Cộng hòa Georgia

 Tại Georgia, sứ mạnh này dĩ nhiên được thực hiện trong sự cộng tác với các anh em Chính Thống, chiếm đa số dân tại nước này. Vì thế, thật là một dấu chỉ quan trọng sự kiện khi tôi đến thủ đô Tbilisi, tôi đã thấy ra đón tiếp tôi tại phi trường cùng với Tổng thống và cả Đức Thượng Phụ đáng kính Ilia II nữa. Cuộc gặp gỡ với ngài ban chiều cùng ngày thật là cảm động, cũng như cuộc gặp gỡ ngày hôm sau trong cuộc viếng thăm Nhà thờ chính tòa Thượng Phụ, nơi có tôn kính thánh tích chiếc áo chùng của Chúa Kitô, biểu tượng sự hiệp nhất của Giáo Hội. Sự hiệp nhất này được củng bố bằng máu của bao nhiêu vị tử đạo thuộc các hệ phái Kitô khác nhau. Trong số các cộng đoàn bị thử thách nhất có Cộng đoàn Assiro Canđê mà tôi đã trải qua với họ một buổi cầu nguyện sốt sắng cho hòa bình tại Siria, Irak, và toàn vùng Trung Đông.

 Thánh lễ với các tín hữu Công Giáo Georgia - latinh, Armeni và Assiro Canđê - được cử hành trong ngày lễ kính nhớ thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, bổn mạng các xứ truyền giáo: Thánh nữ nhắc nhở chúng ta rằng việc truyền giáo đích thực không bao giờ là chiêu dụ tín đồ, nhưng là sự thu hút về Chúa Kitô từ sức mạnh hiệp thông với Chúa trong kinh nguyện, trong sự thờ lạy và bác ái cụ thể, là phụng sự Chúa Giêsu hiện diện nơi những người bé nhỏ nhất trong các anh em chúng ta. Đó là điều các tu sĩ nam nữ mà tôi gặp ỡ Tbilisi đang làm, và cũng như tại Baku: họ thực hiện điều với trong kinh nguyện và với những công việc bác ái, thăng tiến con người. Tôi đã khích lệ họ hãy kiên vững trong đức tin, trong ký ức, can đảm và hy vọng. Rồi có những gia đình Kitô: sự hiện diện đón tiếp, đồng hành, phân định và hội nhập của họ trong cộng đoàn thật là quí giá dường nào!

 Tại Azerbaigian

 Cách thức hiện diện theo tinh thần Tin Mừng như thế như hạt giống Nước Thiên Chúa, nếu có thể, càng là điều cần thiết hơn nữa tại Azerbaigian, nơi có đa số dân theo Hồi giáo và các tín hữu Công Giáo chỉ có vài trăm người, nhưng nhờ ơn Chúa, họ có những quan hệ tốt với tất cả mọi người, đặc biệt họ duy trì những mối dây huynh đệ với các tín hữu Chính Thống. Vì thế, tại Baku, thủ đô Azerbaigian, chúng tôi đã trải qua hai biến cố mà đức tin đã biết duy trì trong quan hệ đúng đắn: Thánh Thể và cuộc gặp gỡ liên tôn. Thánh Thể với cộng đoàn Công Giáo nhỏ bé, nơi mà Chúa Thánh Linh hòa hợp các ngôn ngữ khác nhau và ban sức mạnh làm chứng ta; và sự hiệp thông này trong Chúa Kitô chẳng những không cản trở, nhưng còn thúc đẩy tìm kliếm gặp gỡ và đối thoại với tất cả những người tin nơi Thiện Chúa, để cùng nhau xây dựng một thế giới công bằng và huynh đệ hơn. Trong viễn tượng ấy, khi ngỏ lời với chính quyền nước Azerbaigian, tôi đã cầu mong rằng những vấn đề còn bỏ ngỏ có thể tìm được những giải pháp tốt đẹp và tất cả các dân miền Caucase được sống trong an bình và trong niềm tôn trọng lẫn nhau.

 Và ĐTC kết luận rằng: Xin Chúa chúc lành cho Armeni, Georgia và Azerbaigian và đồng hành với dân Thánh của ngài lữ hành tại các nước ấy.

 Chào thăm

 Sau bài huấn giáo, các LM tại Tòa Thánh lần lượt tóm lược bài của ĐTC bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ đào nha, Ba Lan, cùng với những lời chào của ĐTC dành cho các nhóm hành hương.

 Trong số các tín hữu nói tiếp Pháp có nhiều người đến từ Pháp, Bỉ và Thụy Sĩ, các LM thuộc giáo phận Nevers bên Pháp do Đức Cha Brac de la Perrière hướng dẫn. ĐTC nói: ”Tôi phó thác anh chị em cho sự chuyển cầu của thánh Phanxicô Assisi và Thánh nữ Têrêsa thành Lisieux, để can đảm tiến bước trên con đường thánh thiện, tìm kiếm tình huynh đệ đích thực giữa chúng ta với nhau. Xin Chúa chúc lành cho anh chị em!

 Khi chào các tín hữu bằng tiếng Anh, ĐTC nhắc đến những người đến từ Anh Quốc, Ecosse, Ai Len, Na Uy, Úc, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines và Hoa Kỳ. Ngài cầu Chúa ban lòng thương xót và an bình trên các gia đình.

 Khi chào bằng tiếng Bồ đào nha, ĐTC đặc biệt nhắc đến các tín hữu đến từ những nước xa xăm: Angola, Brazil và cả Bồ đào nha nữa. Bằng tiếng Arập ngài nhắc mọi người rằng sự loan báo và chứng tá của chúng ta càng đáng tin khi chúng ta là những ngừơi đầu tiên có khả năng sống trong hiệp thông và yêu thương nhau.

 Trong số các tín hữu hành hương người Ba Lan hiện diện tại buổi tiếp kiến, có nhiều cựu tù nhân trại tập trung Auschwitz. Ngài nhắc đến họ đồng thời nói rằng: ”Hôm nay chúng ta kính nhớ thánh nữ Faustina Kowalska. Thánh nữ nhắc nhớ cho thế giới rằng Thiên Chúa giàu lòng xót thương và tình yêu của Chúa mạnh hơn sự chết, tội lỗi và mọi sự ác. Ước gì sứ điệp này của Chúa Giêsu Từ Bi được ủy thác cho thánh nữ được sinh nhiều hoa trái trong đời sống chúng ta, nhờ sự đào sâu tình hiệp thôgn với Thiên Chúa và qua các công việc từ bi bác ái.

 Sau cùng khi chào bằng tiếng Ý, ĐTC đặc biệt nhắc đến các linh mục mới đến học tại Giáo Hoàng Học Viện thánh Phaolô ở Roma, trong đó này cũng có một số linh mục Việt Nam. Ngài không quên chào thăm các bạn trẻ, các bệnh nhân và các cặp tân hôn. Ngài nói: Tháng 10 là tháng truyền giáo, trong đó chúng ta được mời gọi sốt sắng cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria, Nữ Vương các xứ truyền giáo. Các bạn trẻ thân mến, các con hãy trở thành thừa sai Tin Mừng nơi môi trường của các con, với lòng thương xót và sự dịu dàng của Chúa Giêsu; hỡi anh chị em bệnh nhân, anh chị em hãy dâng đau khổ để cầu nguyện cho những người xa lạ và dửng dưng được ơn hoán cải. Và hỡi anh chị em tân hôn, hẫy trở thành những thừa sai trong gia đình của anh chị em, loan báo Tin Mừng cứu độ bằng lời nói và gương lành.”

 G. Trần Đức Anh OP

 

Đức Thánh Cha viếng thăm các nạn nhân động đất ở Trung Italia

AMATRICE. Sáng 4-10-2016, ĐTC đã đến viếng thăm các nạn nhân động đất ở miền trung Italia ngày 24-8-2016.

 Trận động đất ở độ 6 theo thước Richter đã làm cho 297 người thiệt mạng trong số ngày có 229 người thuộc làng Amatrice. Ngoài ra hàng trăm người khác bị thương và 4 ngàn người còn trạm trú trong các căn lều, các nhà tạm thời, hoặc tại các khách sạn ở các nơi khác.

 Trên chuyến bay chiều tối ngày 2-10-2016, từ Azerbagian về Roma, ”ĐTC cho biết về dự án viếng thăm này: ”Người ta đã đề nghị 3 ngày, đề nghị thứ 3 là chúa nhật thứ I mùa vọng, nhưng tôi sẽ đi riêng, một mình, như một LM, Giám Mục, tôi sẽ đi riêng, một mình, như một LM, Giám Mục, Giáo Hoàng, nhưng đi một mình. Tôi muốn gần gũi dân chúng.”

 Khoảng 9 giờ 10 sáng, ĐTC đi trên chiếc xe nhỏ, kính sậm, cùng với Đức Cha Domenico Pompili, GM giáo phận Rieti sở tại, và bất ngờ đến làng Amatrice, trung tâm vùng bị động đất. Cả xã trưởng lẫn cha sở đều ngạc nhiên. Ngài tiến vào ngôi trường tạm thời do sở Bảo vệ dân chúng thiết lập. Tại đây ngài gặp gỡ các em học sinh và giáo viên, thăm hỏi họ trong vòng 20 phút.

 Sau đó, được các nhân viên cứu hỏa tháp tùng, ĐTC tiến vào khu vực ”đỏ” nơi có nhiều đổ vỡ, sau khi vùng này đã được các viên chức kiểm soát tình trạng an toàn. Vùng này bị phong tỏa, không cho dân chúng đi vào vì lý an ninh. ĐTC đã cầu nguyện trước những đống hoang tàn đổ vỡ của các căn nhà dân chúng.

 Ngỏ lời với dân chúng, ĐTC nói: ”Trong những ngày đầu tiên của cuộc động đất đau thương này, tôi nghĩ rằng cuộc viếng thăm của tôi lúc ấy sẽ gây phiền toái nhiều hơn là một sự giúp đỡ, một lời chào thăm. Tôi không muốn gây phiền phức như thế, nên đã để thời gian trôi qua ít lâu, để các giới chức hữu trách thu xếp một số công việc, như trường học này. Nhưng ngay từ lúc đầu tiên, tôi đã muốn đến thăm anh chị em.. Tôi đến đây chỉ muốn gần gũi anh chị em, và tôi cầu nguyện cho anh chị em. Đây là món quà của tôi cho anh chị em. Xin Chúa chúc lành cho tất cả, và xin Đức Mẹ gìn giữ anh chị em trong lúc đau buồn và thử thách này”.

 Ban trưa ngài dành gần 2 tiếng đồng hồ để thăm những người già ở nhà dưỡng lão San Raffaelle Borbona” thuộc tỉnh Rieti, chào thăm từng người, trong số 60 người trú ngụ tại nhà dưỡng lão này, trong đó có 30 người từ vùng bị động đất. Sau đó, ĐTC ghé lại sở cứu hỏa ở Cittàreale, thăm hỏi và cám ơn họ, rồi đến Accumoli, một vùng cũng bị động đất. Ngài chào thăm nhiều người, kể cả thị trưởng ở quảng trường thánh Phêrô, cũng như cầu nguyện trước Nhà thờ thánh Phanxicô đã bị động đất phá hủy.

 Từ đây, ĐTC tiếp tục hành trình tới Pescara del Tronto lúc gần 2 giờ chiều để viếng thăm người tị nạn. Đông đảo dân chúng đã đón tiếp ngài tại đây.

 Cuộc viếng thăm của ĐTC đã gây phấn khởi và mang lại hy vọng cho các nạn nhân, đặc biệt là các trẻ em tại các trường học.

 G. Trần Đức Anh OP

 

 

 

 

vietvatican.net