Đức Thánh Cha suy niệm tại Nhà nguyện Marta

 

Bách hại - cái giá của việc làm chứng cho Chúa

VATICAN. 2 tháng 5-2016 Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta sức mạnh để trở nên những chứng nhân của Đức Giêsu ngay giữa những bách hại. Có những bách hại lớn đòi chúng ta phải hy sinh mạng sống mình, nhưng cũng có những bách hại nho nhỏ là những lời đàm tiếu, phê bình và chỉ trích. Đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng thứ Hai, 02.05, tại nguyện đường Thánh Marta.

Chúng ta đã đến gần Lễ Ngũ Tuần và các bài đọc trình bày cho chúng ta nhiều hơn về Chúa Thánh Thần. Sách Công vụ Tông Đồ thuật lại rằng có một bà tên là Ly-đi-a, quê ở Thy-a-ti-ra, chuyên buôn bán vải điều. Thiên Chúa đã mở lòng cho bà để bà chú ý đến những lời ông Phao-lô nói.

Người phụ nữ này đã cảm nhận được điều gì đó trong tâm hồn khiến bà cất tiếng nói: ‘Điều này thật đúng đắn! tôi đồng ý với những gì mà người ấy (Thánh Phao-lô) nói. Ông ấy đã làm chứng về Đức Giêsu Phục Sinh. Và những lời ông nói đều chân thật.’ Nhưng ai đã đụng chạm lay động trái tim của người phụ nữ này? Ai đã nói với bà: ‘Hãy lắng nghe, vì đó là sự thật’? Chính Chúa Thánh Thần đã làm cho người phụ nữ này nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa; giúp bà khám phá ra ơn cứu độ ngang qua những lời mà Thánh Phao-lô rao giảng; và giúp bà lắng nghe được những lời chứng ấy. Chúa Thánh Thần đã làm chứng về Đức Giêsu. Mỗi lần chúng ta cảm thấy có điều gì kéo chúng ta lại gần với Giêsu, thì đó chính là Chúa Thánh Thần đang làm việc trong tâm hồn chúng ta.

Tin Mừng nói về một chứng tá kép: một là của Chúa Thánh Thần, Đấng làm chứng về Đức Giêsu; và hai là chính những lời chứng của chúng ta. Chúng ta là những chứng nhân của Thiên Chúa với sức mạnh của Thánh Thần. Đức Giêsu mời gọi các môn đệ đừng để mình bị vấp ngã, vì làm chứng sẽ dẫn đến những bách hại. Từ những bách hại nho nhỏ của những lời dèm pha, chỉ trích đến những bách hại lớn - đã xảy ra nhiều trong lịch sử Giáo hội - khiến các Kitô hữu phải chịu cách lao tù hay thậm chí phải hy sinh cả mạng sống của mình.

Đó chính là cái giá của việc làm chứng cho Đức Giêsu: ‘Họ sẽ khai trừ anh em khỏi hội đường. Hơn nữa, sẽ đến giờ kẻ nào giết anh em cũng tưởng mình phụng thờ Thiên Chúa.’ Kitô hữu, với sức mạnh của Thần Khí, can đảm làm chứng rằng Đức Giêsu vẫn sống, Ngài đã phục sinh và luôn ở giữa chúng ta. Đức Giêsu sẽ cùng với chúng ta cử hành việc Ngài chịu chết và phục sinh mỗi khi chúng ta quây quần với nhau bên cạnh bàn thờ. Với sự giúp sức của Thần Khí, các Kitô hữu biết làm chứng tá cho Chúa ngay cả trong cuộc sống thường ngày ngang qua cách hành xử và làm việc của mình. Những lời chứng của các Kitô hữu vẫn còn tiếp tục. Nhưng chúng cũng gặp phải nhiều công kích, bách hại, khủng bố.

Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta nhận biết Đức Giêsu. Ngài thôi thúc chúng ta nhận biết Giêsu không chỉ bằng những lời nói nhưng bằng chính chứng tá đời sống.

Như vậy, sẽ thật tốt đẹp nếu chúng ta biết nài xin Chúa Thánh Thần đến ngự trong tâm hồn chúng ta để giúp chúng ta làm chứng về Đức Giêsu. Chúng ta hãy thân thưa với Ngài: ‘Lạy Chúa, xin kéo con đến gần với Giêsu. Xin soi sáng cho con hiểu những gì mà Đức Giêsu đã dạy. Nhắc nhớ cho con tất cả những gì mà Đức Giêsu đã làm và giúp con dám can đảm làm chứng về tất cả những điều này. Xin gìn giữ con, để tinh thần thế gian, những việc dễ dàng thoải mái đến từ cha của sự dối trá, thủ lãnh thế gian này, là tội lỗi, không làm con xa lìa việc làm chứng cho Chúa.’”

Vũ Đức Anh Phương SJ

 

Kitô hữu đừng sống hai mặt

VATICAN. 30-4-2016 Trong bài giảng thánh lễ sáng thứ Sáu, 29.04, tại nguyện đường Thánh Marta, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cảnh giác các Kitô hữu trước một lối sống hai mặt, phô diễn ra cho người khác thấy vẻ bên ngoài sáng láng, thánh thiện nhưng trong tâm hồn lại vô cùng đen tối. Đức Thánh Cha cũng khuyến khích các tín hữu biết bước đi trong ánh sáng chứ đừng lún sâu vào con đường tối tăm, vì chân lý của Thiên Chúa không thể được tìm thấy nơi đó.

Khởi đi từ bài đọc được trích từ thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ, Đức Thánh Cha đã trình bày những suy tư của mình về trận chiến bất tận với tội lỗi. Ngài nói rằng chúng ta phải trở nên tinh tuyền như Chúa Cha, nhưng nếu chúng ta phạm tội chúng ta vẫn có thể cậy dựa vào sự tha thứ và lòng xót thương của Chúa. Tiếp đến, Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh đến sự khuyến cáo của các Tông đồ với các tín hữu: phải nói sự thật và đừng sống hai mặt, đừng nói một đường mà lại làm một nẻo.

Nếu bạn nói bạn kết hiệp với Chúa, thì phải bước đi trong ánh sáng, không sống hai mặt. Chúng ta thấy quen với những lời dối trá và cũng có cám dỗ nói dối nữa đúng không? Nói điều này nhưng lại làm điều khác đúng không? Cám dỗ sẽ không bao giờ ngừng. Chúng ta đã biết sự dối trá đến từ đâu. Trong Phúc Âm, Đức Giêsu gọi ma quỷ là ‘cha của sự dối trá’; là kẻ lừa dối, xảo quyệt. Chính vì điều này mà các giáo phụ khuyên nhủ Giáo hội thời sơ khai với sự yêu mến và đầy tình thương là: ‘Đừng dối trá! Anh chị em kết hợp với Chúa, thì hãy bước đi trong ánh sáng. Làm việc ngay chính, đừng nói một đường mà lại  làm một nẻo. Đừng sống hai mặt.’

Hãy để ý Thánh Gioan bắt đầu lá thư với lời chào ‘các con’. Đây cũng chính là lời của các giáo phụ nói với con cái mình trong thời Giáo hội sơ khai vời tràn đầy tình yêu, sự an ủi và vỗ về. Lời này cũng nhắc nhớ lại lời hứa của Đức Giêsu là sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng những ai đang vất vả mang gánh nặng nề. Cũng vậy, Thánh Gioan khuyến cáo các tín hữu đừng phạm tội, nhưng nếu ai có lỡ phạm tội thì cũng đừng thất vọng nản chí.

Chúng ta có Đấng Bào Chữa luôn chuyển cầu cho chúng ta bên cạnh Chúa Cha, đó là Đức Giêsu, Đấng Công Chính. Ngài thánh hóa chúng ta nên thánh thiện, tinh tuyền. Chính Ngài đã tha thứ cho chúng ta. Các giáo phụ đã khuyên chúng ta như thế này: ‘Còn điều gì xấu xa hơn là phạm tội nữa không? Xin thưa là không. Tội lỗi là thứ xấu xa nhất. Nhưng nếu phạm tội, hãy nhìn lên Đấng đang chờ đợi để tha thứ cho anh chị em. Thiên Chúa cao cả hơn tội lỗi của chúng ta.’”

Cuối cùng, Đức Thánh Cha kết luận rằng: “Chính nhờ lòng thương xót và sự cao cả của Thiên Chúa mà chúng ta có được sức mạnh. Chúng ta phải bước đi trong ánh sáng vì Chúa là sự sáng. Đừng bước một chân trong ánh sáng còn chân kia lại trong bóng tối. Đừng là kẻ dối trá. Chúng ta nên biết rằng tất cả chúng ta đều tội lỗi. Bởi vậy, không ai có thể nói người khác rằng: ‘Ông này có tội hay cô kia có tội. Còn tôi, tạ ơn Chúa, tôi công chính, thánh thiện.’ Không. Chỉ có một Đấng Công Chính mà thôi. Ngài đã chuộc tội cho chúng ta. Và nếu có ai trong chúng ta phạm tội, Ngài sẽ chờ đợi và sẵn sàng tha thứ, vì Thiên Chúa đầy lòng xót thương và biết rõ rằng chúng ta được tạo dựng nên bằng gì và chúng ta chỉ là thân phận cát bụi mà thôi. Ước mong rằng niềm vui từ bài đọc một ngày hôm nay giúp chúng ta luôn biết sống một đời Kitô đơn sơ và trong sáng, trên hết là khi chúng ta hướng về Thiên Chúa với tất cả sự thật.”

Vũ Đức Anh Phương, SJ

 

Luôn có đối kháng trong Giáo hội chống lại Thánh Thần

VATICAN. 29-4-2016 “Ngày hôm nay trong Giáo hội cũng như xưa kia, luôn có những đối kháng chống lại Thánh Thần. Có những người không chấp nhận những đổi mới mà Thánh Thần mang đến. Nhưng Thánh Thần giúp chúng ta chiến thắng, tiến về phía trước và luôn kiên vững trên con đường của Đức Giêsu.” Đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng thứ Năm, 28.04, tại nguyện đường Thánh Marta.

Khởi đi từ bài đọc một trích sách Công vụ Tông đồ thuật lại các cuộc tranh luận đang diễn ra ở ‘Công đồng’ Giê-ru-sa-lem, Đức Thánh Cha nhận xét rằng: “Nhân vật chính hoạt động trong Giáo hội chính là Chúa Thánh Thần. Ngay từ buổi đầu, Ngài đã ban sức mạnh cho các Tông đồ để loan truyền Tin Mừng. Chính Chúa Thánh Thần là Đấng thực hiện tất cả và khiến cho Giáo hội không ngừng tiến lên phía trước, cho dù có gặp phải những khó khăn và ngay cả khi những cuộc bách hại bùng nổ dữ dội. Chính Chúa Thánh Thần ban sức mạnh và lòng can đảm cho các tín hữu để họ kiên vững trong đức tin cho dù có gặp phải chống đối và sự giận dữ điên cuồng của những kinh sư, luật sĩ. Có một sự đối kháng kép chống lại hoạt đông của Thần Khí: Một là từ những người xác tín rằng Đức Giêsu chỉ đến với dân được tuyển chọn, chứ dân ngoại không có phần; hai là từ những người muốn áp đặt luật Mô-sê, gồm cả việc cắt bì, lên những người gốc dân ngoại trở lại với Thiên Chúa. Hai sự đối kháng này ẩn chứa những nhầm lẫn lớn.

Thánh Thần đặt những tâm hồn bước đi trên một con đường mới. Đó là việc kỳ diệu của Thần Khí. Các Tông đồ đã bắt gặp những tình huống mà họ chưa nghĩ đến bao giờ. Đó là những hoàn cảnh hoàn toàn mới lạ. Và họ đã đương đầu với những hoàn cảnh này như thế nào? Bài đọc một ngày hôm nay bắt đầu như thế này: ‘Trong những ngày ấy, đã diễn ra một cuộc tranh luận sôi nổi’, một cuộc tranh luận nảy lửa, vì họ đang thảo luận với nhau về vấn đề những người gốc dân ngoại quay trở lại với Thiên Chúa. Họ có sức mạnh của Thần Khí – nhân vật chính – Đấng thúc đẩy họ tiến lên. Nhưng Thần Khí cũng mang đến những điều mới mẻ, những điều chưa hề được ai thực hiện trước đây bao giờ và cũng chưa có ai nghĩ đến. Đó là việc người gốc dân ngoại cũng được lãnh nhận Thánh Thần.

Các môn đệ nắm trong tay ‘ngọn lửa nhiệt huyết cháy bỏng’ nhưng không biết phải làm gì. Bởi thế họ mới triệu tập một công nghị ở Giê-ru-sa-lem để mỗi người có thể thuật lại những kinh nghiệm của họ về việc dân ngoại đã được lãnh nhận Thánh Thần như thế nào. Và cuối cùng, họ đã đi đến sự đồng thuận. Nhưng trước đó, cả công nghị đã chìm trong thinh lặng và chăm chú lắng nghe khi Phao-lô và Ba-na-ba thuật lại những dấu lạ điềm thiêng mà Thiên Chúa đã thực hiện giữa dân ngoại ngang qua các môn đệ. Chúng ta đừng sợ hãi khi lắng nghe với lòng khiêm tốn. Khi sợ hãi không dám lắng nghe, chúng ta không có Thánh Thần trong tâm hồn. Khi các Tông đồ lắng nghe, họ đã quyết định sai nhiều môn đệ tới Hy Lạp, các cộng đoàn dân ngoại, là những người đã trở lại với Chúa để củng cố họ.

Những người dân ngoại trở lại với Thiên Chúa không buộc phải cắt bì. Điều này đã được thông truyền đến với họ ngang qua lá thư, trong đó các Tông đồ nói rằng: ‘Chúa Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định rằng....’ Đây chính là cách thức mà Giáo hội đối mặt với những điều mới mẻ. Không phải những điều mới lạ thuộc kiểu thế trần nhưng là sự đổi mới của Thần Khí, Đấng luôn khiến chúng ta phải ngỡ ngàng vui sướng. Giáo hội đã giải quyết những vấn đề này như thế nào? Giáo hội giải quyết bằng cách ngang qua những buổi gặp gỡ và thảo luận, lắng nghe và cầu nguyện, trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Đây chính là cách thức của Giáo hội khi Thánh Thần khiến chúng ta ngạc nhiên bởi những điều mới mẻ. Và chúng ta cũng nhớ lại những chống đối đã phát sinh trong thời gian diễn ra công đồng Vaticano 2.

Những chống đối ấy vẫn tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay bằng cách này cách khác. Nhưng Thánh Thần vẫn đi tiên phong. Và cách thức Giáo hội diễn tả sự đồng thuận của mình là ngang qua công nghị với những cuộc gặp gỡ, lắng nghe, trao đổi, cầu nguyện và đưa ra quyết định. Chúa Thánh Thần luôn là nhân vật chính và Thiên Chúa mời gọi chúng ta đừng sợ hãi khi Thánh Thần lên tiếng với chúng ta. Như khi xưa Thánh Thần đã dừng Thánh Phao-lô lại và dẫn ngài đi trên đường ngay nẻo chính, thì Thánh Thần cũng ban cho chúng ta sự can đảm và lòng kiên nhẫn để chúng ta vượt qua những đa dạng, khác biệt và kiên vững trong ơn phúc tử đạo. Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn để hiểu Giáo hội đã hành xử như thế nào trước những đổi mới, ngỡ ngàng mà Thần Khí mang đến. Chúng ta cũng xin ơn được trở nên ngoan ngoãn và đi theo con đường mà Đức Kitô đã mời gọi chúng ta cũng như toàn thể Giáo hội.”

Vũ Đức Anh Phương, SJ

 

Ba chiều kích trong đời sống Kitô hữu

VATICAN. 23-4-2016 “Kitô hữu là người của hy vọng, nhận biết và làm chứng rằng Đức Giêsu đang sống và ở giữa chúng ta, rằng Ngài luôn chuyển cầu với Chúa Cha cho mỗi người chúng ta và Ngài sẽ lại đến trong vinh quang.” Đây là trọng tâm bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng thứ 6, 22.04, tại nguyện đường Thánh Marta. Những chia sẻ của Đức Thánh Cha chủ yếu xoay quanh mối tương quan giữa Kitô hữu với Đức Giêsu Phục Sinh.

Khởi đi từ những bài đọc trong thánh lễ, Đức Thánh Cha đã đúc kết ba từ ngữ nền tảng cho đời sống Kitô hữu: thông điệp, chuyển cầu và hy vọng.

Trước hết, Đức Thánh Cha đề cập đến thông điệp: “Trong bài đọc một trích sách Công vụ Tông Đồ (13, 26-33), thông điệp nền tảng đó là lời chứng của các Tông Đồ về sự phục sinh của Đức Giêsu. Thánh Phao-lô đã khẳng khái tuyên bố trong hội đường: ‘Sau khi thực hiện tất cả mọi điều Kinh Thánh chép về Người, họ đã hạ Người từ trên cây gỗ xuống và mai táng trong mồ. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho người trỗi dậy từ cõi chết. Trong nhiều ngày, Đức Giêsu đã hiện ra với những kẻ từng theo người từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem. Giờ đây chính họ làm chứng cho Người trước mặt dân.’ Thông điệp đó chính là: Đức Giêsu đã chết và đã trỗi dậy vì chúng ta và để cứu chuộc chúng ta. Giờ đây, Ngài vẫn sống. Đây chính là thông điệp mà những môn đệ đầu tiên đã loan báo cho người Do-thái cũng như các dân ngoại trong thời đại ấy. Các môn đệ cũng sẵn sàng làm chứng bằng chính đời sống và máu của mình.

Khi bị cấm không được rao giảng danh Đức Giêsu hay nói về sự phục sinh của Người, Gioan và Phê-rô đã khẳng khái trả lời với lòng can đảm và hết sức mạch lạc rằng: ‘Chúng tôi không thể không nói về những điều chúng tôi đã thấy và đã nghe’. Phần chúng ta, là những Kitô hữu, với đức tin, chúng ta mang nơi mình Chúa Thánh Thần, Đấng giúp chúng ta thấy và nghe sự thật về Đức Giêsu, Đấng đã chết vì tội lỗi chúng ta mà nay đã sống lại. Như vậy, thông điệp trong đời sống của Kitô hữu chính là: Đức Kitô đang sống! Đức Kitô đã phục sinh! Đức Kitô đang ở giữa chúng ta và Ngài vẫn luôn đồng hành với chúng ta trên khắp mọi nẻo đường. Như vậy, một trong những khía cạnh của đời sống Kitô hữu chính là thông điệp phục sinh. Thánh Gioan cũng khẳng định rằng: ‘Điều mà chúng tôi đã được mắt thấy, tai nghe và đã được đụng chạm chính là Đức Giêsu Phục Sinh. Tôi xin làm chứng về điều này.’

Từ ngữ quan trọng thứ hai là sự chuyển cầu. Điều này được gợi hứng từ bài Tin Mừng theo Thánh Gioan (14, 1-6). Trong Bữa Tiệc Ly ngày Thứ Năm Tuần Thánh, khi các Tông Đồ ngã lòng, nản chí; Đức Giêsu đã khích lệ các ông: ‘Anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở. Thầy đi dọn chỗ cho anh em.’ Đức Giêsu nói như thế nghĩa là gì? Đức Giêsu đi dọn chỗ cho các ông như thế nào? Xin thưa là: Ngài dọn chỗ bằng cách chuyển cầu cho mỗi người chúng ta trước mặt Chúa Cha. Đức Giêsu cầu nguyện cho chúng ta. Chúng ta cần phải biết điều này: Ngay bây giờ đây, Đức Giêsu vẫn không ngừng làm việc bằng cách luôn chuyển cầu cho chúng ta. Trước khi chịu khổ hình, Đức Giêsu cũng nói: ‘Phê-rô, Thầy cầu nguyện cho con.’ Cũng vậy, giờ đây Đức Giêsu là Đấng Trung Gian chuyển cầu cho chúng ta trước tôn nhan Chúa Cha.

Nhưng Đức Giêsu chuyển cầu như thế nào? Tôi xin chia sẻ với anh chị em suy nghĩ cá nhân tôi, chứ không phải là một tín lý của Giáo hội buộc phải tin. Tôi nghĩ rằng Đức Giêsu sẽ cho Chúa Cha xem những thương tích mà Ngài đã chịu, vì những thương tích ấy vẫn in hằn trên thân thể sau khi phục sinh. Đức Giêsu vừa cho Chúa Cha xem vừa thủ thỉ với Cha từng tên của mỗi người chúng ta. Tôi tin rằng Đức Giêsu chuyển cầu cho chúng ta như thế đó.

Khía cạnh thứ ba là trông cậy. Đây cũng là điều mà Tin Mừng ngày hôm nay nhắc đến. Đức Giêsu nói: ‘Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi và dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.’ Đây chính niềm hy vọng Kitô giáo. Đức Giêsu đã hứa: ‘Thầy sẽ đến!’ Như vậy, Kitô hữu là những người hy vọng. Họ hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ ngự đến. Từ điểm này, chúng ta nhận thấy Kinh Thánh có khởi đầu và kết thúc rất đẹp. Với Sách Sáng Thế, chúng ta đọc thấy rằng lúc khởi đầu hay sự khởi đầu của mọi. Và sách Khải Huyền lại kết thúc với lời nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến.’ Như thế, tất cả Giáo hội đang chờ đợi sự ngự đến trong vinh quang của Đức Giêsu. Đó chính là niềm hy vọng Kitô giáo.”

Kết thúc bài giảng, Đức Thánh Cha mời gọi mỗi người hãy tự tra vấn chính mình: “Thông điệp trong cuộc sống của tôi như thế nào? Tương quan của tôi với Giêsu, Đấng không ngừng chuyển cầu cho tôi trước tòa Thiên Chúa, ra sao? Niềm hy vọng của tôi như thế nào? Tôi có thật sự tin rằng Đức Giêsu đã phục sinh không? Tôi có tin là Ngài luôn chuyển cầu cho tôi trước ngai tòa Chúa Cha không?”

Vũ Đức Anh Phương, SJ

https://www.youtube.com/watch?v=BX8xwsqRRcQ

 

Hãy nhớ đến Thầy

VATICAN. 21-4-2016 “Kitô hữu là người, trong đời sống của mình, luôn ghi nhớ những cách thức và hoàn cảnh mà Thiên Chúa đã tỏ lộ ra. Chính việc ghi nhớ ấy sẽ củng cố hành trình đức tin của mỗi Kitô hữu.” Đây là suy tư chính yếu của Đức Thánh Cha Phanxicô trong bài giảng thánh lễ sáng thứ 5, 21.04, tại nguyện đường Thánh Marta.

Đức tin là một hành trình mà khi hoàn tất cuộc hành trình ấy, người ta phải luôn ghi nhớ những giai đoạn đã từng trải qua. Ghi nhớ những điều tốt lành mà Thiên Chúa đã thực hiện trong suốt cuộc hành trình cũng như những thách đố, khó khăn, vì Thiên Chúa luôn đồng hành với chúng ta và không hề e sợ trước những tội lỗi xấu xa của chúng ta.

Hãy ghi nhớ Thiên Chúa đã cứu chuộc

Bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô xoay quanh bài đọc một, thuật lại việc ông Phao-lô vào hội đường ở An-ti-ô-khi-a trong ngày sa-bát và bắt đầu rao giảng Tin Mừng. Ồng đã khởi đi từ khi một dân được tuyển chọn ngang qua Áp-ra-ham và Mô-sê, từ Ai-cập và Miền Đất Hứa cho đến khi Đức Giêsu xuất hiện. Lời rao giảng mang đậm tính lịch sử này của Phao-lô có một ý nghĩa nền tảng hết sức quan trọng, vì nó gợi nhắc lại những thời khắc nổi bật và những dấu chỉ về sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống của nhân loại.

Đức Thánh Cha nói: “Hãy nhìn lại quá khứ để thấy Thiên Chúa đã cứu chuộc chúng ta như thế nào. Chúng ta hãy bước đi với trọn cả tâm trí trên con đường đong đầy những kỷ niệm và đến với Giêsu. Chính Đức Giêsu, trong thời khắc quan trọng nhất của cuộc đời – tối thứ 5 và thứ 6 Tuần Thánh – đã trao ban cho chúng ta Mình và Máu của Ngài. Đức Giêsu nói: ‘Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.’ Tưởng nhớ Đức Giêsu. Hãy nhớ rằng Thiên Chúa đã cứu chuộc chúng ta như thế nào.

Thiên Chúa tôn trọng chúng ta

Giáo hội gọi Bí Tích Thánh Thể là ‘tưởng niệm’, cũng như trong Kinh Thánh, sách Đệ Nhị Luật được gọi là ‘sách tưởng nhớ của dân tộc Ít-ra-en’. Phần chúng ta, chúng ta cũng làm như thế trong đời sống cá nhân của mình, vì mỗi người chúng ta đã bước đi trên một con đường được Thiên Chúa đồng hành, có lúc gần gũi Thiên Chúa hoặc có những khi lại cách xa Ngài.

Thật là tốt cho tâm hồn Kitô hữu, nếu tôi biết ghi nhớ con đường của tôi, con đường của chính tôi: Thiên Chúa đã dẫn tôi đến đây như thế nào, Thiên Chúa đã cầm tay tôi mà dẫn dắt ra sao. Nhưng có nhiều lần tôi đã nói với Chúa: ‘Không, tránh xa con đi! Con không muốn!’ Thiên Chúa tôn trọng. Ngài trân trọng chọn lựa của ta. Nhưng để ghi nhớ, chúng ta phải nhớ về chính cuộc sống, chính chặng đường hành trình của chúng ta. Chúng ra phải tiếp tục điều này và hãy làm thường xuyên. Chính trong thời khắc đó, Thiên Chúa đã ban cho ta ân sủng và chúng ta thưa rằng: ‘Trong chặng đường vừa qua, con đã làm điều này, đã làm điều kia… Chúa đã đồng hành với con….’ Và như thế chúng ta sẽ tiến tới một cuộc gặp gỡ mới, một cuộc gặp gỡ đong đầy lòng biết ơn.

Nhớ về những điều tốt đẹp

Từ chính trái tim, phải nảy sinh một lời cảm tạ với Giêsu, Đấng đã không bao giờ mệt mỏi khi đồng hành với chúng ta trong suốt chiều dài của lịch sử cuộc đời. Có nhiều lần chúng ta đã đóng sập cánh cửa trước mặt Ngài. Đã bao nhiêu lần chúng ta giả vờ không trông thấy Ngài, không tin rằng Ngài đang ở với chúng ta. Đã bao nhiêu lần chúng ta từ chối ơn cứu chuộc mà Ngài mang đến … Nhưng Ngài vẫn ở đó chờ đợi chúng ta.

Những ký ức sẽ mang chúng ta đến gần Thiên Chúa. Nhớ về những việc tốt lành mà Thiên Chúa đã làm cho chúng ta. Qua hành động tái tạo dựng, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta điều còn cao vượt hơn tình trạng huy hoàng xưa kia mà A-đam đã có trong lần tạo dựng thứ nhất. Bởi vậy, tôi khuyên anh chị em điều này, rất đơn giản: Hãy ghi nhớ! Hãy nhớ lại xem cuộc đời của tôi đã như thế nào, một ngày sống hôm nay của tôi ra sao và một năm vừa qua của tôi như thế nào? Hãy nhớ lại tương quan của tôi với Chúa. Hãy nhớ lại những điều tốt đẹp, cao cả mà Thiên Chúa đã thực hiện trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.”

Vũ Đức Anh Phương, SJ

https://www.youtube.com/watch?v=dXgs38WZB3M

 

Những Kitô hữu "mồ côi"

VATICAN. 20-4-2016 “Một Kitô hữu không để Thiên Chúa Cha kéo mình đến gần với Giêsu là một Kitô hữu sống trong cảnh mồ côi.” Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh như trên trong bài giảng thánh lễ sáng thứ ba, 19.04, tại nguyện đường Thánh Marta. Một trái tim rộng mở với Thiên Chúa chính là khả năng biết chấp nhận những điều mới mẻ mà Thần Khí mang đến.

Khi thấy những phép lạ, điềm thiêng và những lời nói chưa được nghe đến bao giờ, người Do-thái đã nghi ngờ: ‘Ông có phải là Đấng Kitô không?’ Như thế, Đức Thánh Cha đã bắt đầu bài giảng khởi đi từ sự hoài nghi không có gì lay chuyển được của người Do-thái đối với Đức Giêsu.

Thiên Chúa Cha lôi cuốn những tâm hồn

 ‘Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết.’ Đây là câu hỏi mà các kinh sư và người Pha-ri-sêu đặt ra nhiều lần và trong những cách thức khác nhau, vì họ có con tim mù tối. Một sự mù tối của đức tin là điều mà Đức Giêsu sẽ cắt nghĩa cho những kẻ đang lắng nghe: ‘Các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi.’ Thuộc về đoàn chiên của Thiên Chúa là một ơn huệ trọng đại, nhưng điều ấy cần một trái tim luôn biết sẵn sàng và ứng trực.

‘Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi.’ Phải chăng những con chiên này đã học biết cách theo Đức Giêsu và sau đó chúng đã tin vào Ngài? Xin thưa là không. Nhưng ‘Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả.’ Như vậy, không phải tự sức những con chiên nhưng chính Thiên Chúa Cha đã ban đàn chiên cho Vị Mục Tử. Và chính Chúa Cha đã thu hút, lôi cuốn con tim của những con chiên ấy đến với Đức Giêsu.

Trẻ mồ côi

Sự chai đá nơi tâm hồn của các kinh sư và người Pha-ri-sêu, những người đã xem thấy những việc Đức Giêsu đã làm nhưng lại từ chối nhận Ngài là Đấng Mesia, là một tấn kịch kéo dài cho đến tận đồi Canve. Nhưng chuyện còn tiếp tục tiếp diễn cho đến khi Chúa phục sinh, lúc những người lính canh mồ bị ép buộc phải thừa nhận rằng các môn đệ đã đến trộm xác Chúa trong khi họ ngủ thiếp đi. Lời chứng của những người đã được xem thấy Chúa Phục Sinh không làm lay chuyển được tâm hồn những người khăng khăng chối từ tin tưởng. Và điều này dẫn đến hệ quả là: họ giống như những trẻ mồ côi vì họ đã chối từ chính Cha của họ.

Những vị tiến sĩ luật và người Pha-ri-sêu có một trái tim khép kín. Họ nhận thấy rằng họ là Cha của chính mình. Nhưng nếu như vậy, hóa ra họ là những trẻ mồ côi, vì đã chối từ và không có bất kỳ một tương quan nào với Chúa Cha. Mặc dù họ có nhắc tới những người cha: Áp-ra-ham và các tổ phụ, nhưng chỉ như là những hình ảnh thuộc quá khứ xa xôi; còn thực tế tự đáy lòng, họ là những trẻ mồ côi, sống trong tình trạng côi cút và không để tâm hồn mình được lôi cuốn bởi Chúa Cha. Đây chính là nỗi bi kịch của những người có tâm hồn khép kín.

Hãy để mình được lôi cuốn đến với Giêsu

Tin tức đã lan đến Giê-ru-sa-lem là có rất nhiều người ngoại đã mở lòng mình ra với đức tin nhờ lời rao giảng của các môn đệ, ở tận những nơi xa xôi như miền Phê-ni-xi, đảo Sýp và thành An-ti-ô-khi-a. Tin ấy đã khiến các môn đệ lo lắng, nhưng điều ấy cũng có nghĩa là người ta đã có một trái tim rộng mở với Thiên Chúa. Trái tim rộng mở ấy giống như của Ba-na-ba khi ông được sai đến An-ti-ô-khi-a để chứng thực những tin đồn đại. Ông đã mừng rỡ vì có nhiều người đã tin và trở lại cùng Chúa, trong số đó có rất nhiều dân ngoại. Với con tim rộng mở, Ba-na-ba đã dám chấp nhận những điều mới mẻ, đã biết mở lòng ra để Thiên Chúa Cha kéo mình đến gần với Đức Giêsu.

Đức Giêsu mời gọi chúng ra trở nên những môn đệ của Ngài. Nhưng để được như thế, chúng ta phải để cho Thiên Chúa hấp dẫn và lôi cuốn mình.  Lời nguyện xin khiêm tốn của một người con mà chúng ta có thể thân thưa với Chúa: ‘Lạy Cha, xin kéo con đến gần với Giêsu. Xin giúp con hiểu biết về Đức Giêsu hơn.’ Và như thế, Thiên Chúa Cha sẽ gởi Thần Khí đến giúp mở rộng tâm hồn chúng ta và mang chúng ta đến với Giêsu. Một Kitô hữu không để cho Thiên Chúa Cha kéo mình đến gần với Giêsu là một Kitô hữu sống trong tình cảnh mồ côi. Phần chúng ta, chúng ta có một Người Cha, nên chúng ta không hề côi cút.”

Vũ Đức Anh Phương, SJ

https://www.youtube.com/watch?v=jq9_8P5_v-M

 

Ai theo Đức Giêsu sẽ không lầm đường lạc lối

VATICAN. 19-4-2016 “Nếu chúng ta lắng nghe lời của Đức Giêsu và bước theo Ngài, chúng ta sẽ không bị lạc đường.” Đây là trọng tâm bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng thứ hai, 18.04, tại nguyện đường Thánh Marta. Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng Đức Giêsu, vị mục tử nhân lành, là cánh cửa duy nhất mà chúng ta có thể bước vào để có được sự sống đời đời. Từ đó, Đức Thánh Cha cảnh giác rằng đừng nên tin thầy bói hay những người cho rằng mình là tiên tri. Những người ấy sẽ khiến chúng ta đi lầm đường lạc lối.

Đức Thánh Cha đã triển khai bài giảng dựa trên bài Tin Mừng ngày hôm nay về người Mục Tử Nhân Lành để từ đó dừng lại trên ba thực tại có tính chất quyết định trong cuộc sống Kitô hữu: cánh cửa, con đường, tiếng gọi.

“Trước hết, Đức Giêsu cảnh giác rằng ai không qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. Đức Giêsu chính là cửa chiên. Ngoài Ngài ra, không còn cửa nào khác.

Chúng ta phải luôn tra vấn mình: liệu chúng ta có thực hiện những quyết định nhân danh Đức Giêsu không

Đức Giêsu luôn nói với dân chúng bằng những hình ảnh đơn sơ, gần gũi. Tất cả mọi người đều biết cuộc sống của một mục tử là như thế nào, vì họ bắt gặp hình ảnh ấy mọi ngày trong cuộc sống. Vì thế họ hiểu ngay rằng chỉ có người mục tử mới đi qua cửa mà vào ràn chiên. Còn những ai muốn trèo lối khác mà vào, chẳng hạn như leo cửa sổ, đều là phường trộm cướp.

Đức Giêsu đã nói rõ ràng như thế. Chúng ta không thể tiến vào sự sống trường sinh bằng cách trèo qua lối khác mà không đi qua cửa, cửa đó chính là Đức Giêsu. Ngài chính là cánh cửa cuộc đời chúng ta, và không chỉ là cánh cửa của đời sống vĩnh cửu mà còn là cánh cửa của cuộc sống thường ngày. Tôi thực hiện một quyết định nào đó nhân danh Giêsu, bằng cách đi qua cửa là Đức Giêsu hay tôi thực hiện quyết định đó với một chút – nói theo ngôn ngữ bình dân là – lén lút? Chúng ta phải đi qua cửa Giêsu mà vào ràn chiên.

Hãy theo Giêsu, đừng tin vào những thầy bói và những kẻ cho rằng mình biết trước tương lai

Tiếp đến, Đức Giêsu nói về con đường. Mục tử biết chiên của mình và dẫn chúng ra ngoài, đến đồng cỏ xanh rì. Anh sẽ đi trước đàn chiên và chiên đi theo sau. Và đây cũng chính là việc bước theo Đức Giêsu trong hành trình cuộc sống. Không thể lạc đường vì chính Đức Giêsu đi trước chúng ta và chỉ cho chúng ta thấy lối nẻo để bước theo.

Ai bước theo Giêsu sẽ không lầm đường lạc lối. Nhưng có người nói rằng: ‘Cha ơi, điều này khó lắm... Trong đời sống, có rất nhiều lần con không biết rõ mình phải làm gì. Người ta nói với con, ở đó có thầy bói, có người biết được trước tương lai và con đã đến đó. Con đến gặp thầy bói để họ biến hóa, phù phép với con qua những tấm thẻ bài.’ Nhưng nếu anh chị em làm như thế, anh chị em đã không bước theo Đức Giêsu. Theo người khác, họ cho anh chị em một con đường khác, hoàn toàn khác biệt. Nhưng chỉ có một con đường thôi. Đức Giêsu đã đi trước và chỉ ra cho chúng ta. Không ai có thể chỉ cho chúng ta con đường ấy được. Đức Giêsu đã khuyến cáo chúng ta rằng: ‘Sẽ đến thời người ta nói rằng: Đấng Mesia ở đây này hay ở kia kìa. Đừng nghe và cũng đừng tin họ.’ Đức Giêsu chính là cửa và cũng là con đường. Nếu chúng ta bước theo Ngài, chúng ta sẽ không lầm đường lạc lối.

Chúng ta có thể nghe thấy tiếng gọi của Đức Giêsu trong Tám Mối Phúc

Đàn chiên đi theo vị mục tử, vì chúng nhận biết tiếng của anh. Nhưng chúng ta có thể nhận biết tiếng của Đức Giêsu như thế nào và làm sao chúng ta có thể phân biệt tiếng của những kẻ khác, không phải là Đức Giêsu, đang leo cửa sổ mà vào? Đó là những kẻ trộm cướp, phá hoại và chuyên nghề lừa dối.

Tôi chia sẻ với anh chị em một phương thế rất đơn giản gồm ba điều. Trước hết, Anh chị em có thể nghe thấy tiếng của Đức Giêsu nơi Tám Mối Phúc. Nếu ai dạy anh chị em con đường nào ngược lại với Tám Mối Phúc thì đó là kẻ leo cửa sổ mà vào ràn chiên, không phải là Đức Giêsu. Kế đến, Anh chị em sẽ nhận ra tiếng của Đức Giêsu khi Ngài nói với anh chị em những công việc bái ái yêu thương của lòng thương xót. Thứ ba, anh chị em sẽ nhận biết tiếng của Đức Giêsu khi Ngài dạy chúng ta biết thưa ‘Lạy Cha’, có nghĩa là khi Ngài dạy chúng ta cầu nguyện với Kinh Lạy Cha.

Đời sống Kitô hữu sẽ dễ dàng êm ái khi có Đức Giêsu là cửa. Ngài sẽ hướng dẫn chúng ta bước đi. Chúng ta nhận biết tiếng của Ngài trong Tám Mối Phúc, qua các công việc của lòng thương xót và khi Ngài dạy chúng ta biết thân thưa ‘Lạy Cha’. Anh chị em hãy nhớ ba điều này: cánh cửa, con đường và tiếng gọi. Xin Chúa cho chúng ta có thể thấu hiểu những hình ảnh của Đức Giêsu: Vị Mục Tử Nhân Lành, là cửa chuồng chiên, chỉ cho chúng ta con đường để bước đi và dạy cho chúng ta biết lắng nghe tiếng của Người."

Vũ Đức Anh Phương, SJ

https://www.youtube.com/watch?v=u6FHl_UmZpk

 

Một con người đã té xuống đất

VATICAN. 16-4-2016 “Khi một tâm hồn chai đá biết để mở ra với Thần Khí, Thiên Chúa sẽ luôn ban ơn sủng dồi dào và một phẩm giá được phục hồi. Điều này cần được diễn ra ngang qua sự khiêm nhường, tự hạ. Đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng thứ Sáu, 15.04, tại nguyện đường Nhà Trọ Thánh Marta.” Bài đọc một hôm nay thuật lại cuộc hoán cải của Thánh Phao-lô.

“Có lòng nhiệt thành với những điều thánh thiêng thì không có nghĩa là sẽ có một con tim rộng mở với Thiên Chúa.” Đức Thánh Cha đã minh họa điều này bằng gương của Sao-lô (Phao-lô), quê ở Tác-xô, một người đầy sốt sắng trong niềm tin tưởng và nghiêm chỉnh tuân giữ những quy tắc mà đức tin truyền dạy, nhưng lại có một con tim khép kín, hoàn toàn câm điếc trước Đức Kitô, thậm chí ông còn đồng ý tiêu diệt và bỏ tù những Kitô đang sống ở Đa-mát.

Sự khiêm nhường làm tan chảy con tim

“Ngay trên con đường thực hiện mục tiêu đã đặt ra, tất cả mọi sự đã đảo ngược so với dự định của Phao-lô. Cuộc hành trình trên con đường Đa-mát ấy đã trở thành khúc tình sử về một con người dám để cho Thiên Chúa biến đổi trái tim mình: Một luồng ánh sáng từ trới chiếu xuống bao phủ lấy Phao-lô. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông. Trong phút chốc, mắt ông hóa mù lòa, không còn thấy gì nữa. Một Phao-lô đầy mạnh mẽ và xác tín, giờ đây đã ngã xuống đất. Nhưng chính trong hoàn cảnh đó, ông thấu hiểu sự thật về mình: Ông đã không là một người như Thiên Chúa mong muốn, vì Thiên Chúa tạo dựng tất cả chúng ta là những con người hiên ngang, đầu đội trời chân đạp đất. Vì thế, tiếng nói bởi trời không chỉ tra vấn Phao-lô: ‘Tại sao ngươi bắt bớ ta?’ nhưng còn mời gọi ông đứng dậy.

‘Hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì.’ Nhưng khi bắt đầu đứng dậy, Phao-lô nhận ra mình đã mù, không còn thấy gì cả. Ông để cho người ta dẫn ông đi. Và từ đó, con tim của ông bắt đầu mở ra. Như vậy, Phao-lô đã được những người bạn đồng hành cầm tay dẫn tới Đa-mát. Ông ở trong tình trạng mù lòa suốt ba ngày và cũng chẳng ăn, chẳng uống gì cả. Con người này đã bị té xuống đất và ngày lập tức nhận ra rằng cần phải chấp nhận sự nhục nhã, bẽ mặt này trong khiêm hạ. Như vậy, chính con đường tiến về Đa-mát ấy đã mở toang con tim của Phao-lô và giúp ông biết khiêm tốn hơn. Cũng thế, khi Thiên Chúa mời gọi chúng ta khiêm tốn và cho phép những nhục nhã, bẽ mặt xảy xa với chúng ta, chỉ với mục đích là giúp chúng ta trở nên ngoan ngoãn, giúp mở rộng con tim chúng ta ra với Đức Giêsu. Đó là một con tim đã hoán cải.

Chúa Thánh Thần là nhân vật chính

Con tim của Phao-lô đã tan chảy. Trong những ngày cô đơn và bị mù lòa ấy, cái nhìn nội tâm của Phao-lô đã biến đổi. Thiên Chúa sai Kha-na-ni-a đến đặt tay trên Phao-lô để cho mắt ông lại thấy được. Có một khía cạnh quan trọng trong tiến trình năng động này cần được để ý.

Chúng ta nhớ rằng nhân vật chính của câu chuyện không phải các thượng tế, kinh sư; cũng không phải Tê-pha-nô, cũng không phải Phi-líp-phê hay viên thái giám, và cũng không phải là Phao-lô… nhưng là chính Chúa Thánh Thần. Nhân vật chính trong Giáo hội là Chúa Thánh Thần, Đấng không ngừng hướng dẫn Đoàn Dân Chúa. Khi Kha-na-ni-a đặt tay trên Phao-lô, ngay lập tức có những cái gì như vảy bong ra khỏi mắt ông và ông lại thấy được. Ông đứng dậy và chịu phép rửa. Con tim chai đá của Phao-lô đã tan chảy và trở nên ngoan ngoãn trước Thần Khí.

Phẩm giá được phục hồi

Thật là đẹp khi chúng ta chiêm ngắm cách thức Thiên Chúa biến đổi tâm hồn con người, cho dù đó là những tâm hồn trai đá, ngang bướng, để trở nên mềm mại và ngoan ngoãn trước Thần Khí. Cách nào đó, tất cả chúng ta đều có lòng chai dạ đá. Nếu ai trong anh chị em không có, xin vui lòng giơ tay lên xem. Ít nhiều, tất cả chúng ta đều có lòng chai đá. Bởi vậy, chúng ta hãy nài xin để được nhìn thấy những chai đá đó quật ngã chúng ta xuống đất. Nhưng đồng thời, chúng ta cũng khiêm tốn xin ơn để đừng nằm mãi dưới đất nhưng biết đứng dậy, đứng dậy với phẩm giá cao quý mà Thiên Chúa đã tác tạo nên ta. Đó chính là ơn sủng của một con tim rộng mở và ngoan ngoãn trước Thần Khí.”

Vũ Đức Anh Phương, SJ

 

Kitô hữu sống sự hòa hợp của Thần Khí chứ không phải sự yên ổn do thỏa hiệp

VATICAN. 6-4-16 “Không thể lẫn lộn sự hòa hợp ngự trị trong cộng đoàn Kitô hữu, là hoa trái của Thần Khí, với sự ‘yên ổn’ có được do dàn xếp, thương lượng thường che đậy đi những xung đột và chia rẽ bên trong. Một cộng đoàn được hợp nhất trong Đức Kitô cũng là một cộng đoàn tràn đầy sức mạnh và can đảm.” Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh như trên trong bài giảng thánh lễ sáng thứ ba, ngày 05.04, tại nguyện đường thánh Marta.

Một lòng một ý, không ai phải thiếu thốn, mỗi người được phân phát tùy theo nhu cầu. Đó là bức tranh mà sách Công vụ Tông Đồ miêu tả lại. Từ bức tranh ấy, xuất hiện một từ có thể tổng hợp tất cả những tình cảm và lối sống của cộng đoàn Kitô hữu sơ khai, đó là: hòa hợp.

Tiền bạc – kẻ thù gây chia rẽ

Chúng ta có thể đồng thuận với nhau một tình trạng hòa bình nhất định nào đó. Nhưng sự hòa hợp là một ân sủng nội tâm chỉ có Chúa Thánh Thần mới thực hiện được. Và những cộng đoàn Kitô hữu sơ khai đã sống trong sự hòa hợp đó chứ không phải tình trạng yên ổn do thỏa hiệp. Có hai dấu hiệu của sự hòa hợp: không ai phải thiếu thốn và mọi sự đều là của chung. Điều ấy có nghĩa là gì? Họ sống với nhau chỉ có một lòng một ý, không ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung. Thật sự không ai trong số họ phải thiếu thốn. Sự hòa hợp đích thực của Chúa Thánh Thần lại có một sự liên hệ trái ngược rất mạnh mẽ với tiền bạc: tiền chính là kẻ thù của sự hòa hợp, tiền là sự quy kỷ. Vì thế, dấu hiệu của sự hòa hợp là mọi người biết cho đi tất cả những gì mình có, vì họ không còn thiếu thốn nữa.

Sự yên ổn do thỏa hiệp – một tình trạng mong manh

Sách Công vụ Tông Đồ kể lại rằng ông Banaba đã bán tất cả vườn tược của mình, lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Nhưng ngay sau đó, câu chuyện thuật lại một chi tiết khác có phần trái ngược với lúc đầu. Chi tiết này không được nhắc đến trong bài đọc một hôm nay: Có một người tên là Khanania cùng với vợ là Xaphira bán một thửa đất. Hai ông bà giả vờ đã đưa tất cả số tiền cho các Tông Đồ, nhưng thật ra là giữ lại một phần tiền. Chọn lựa này đã khiến họ phải trả một giá rất cay đắng là cái chết. Thiên Chúa và tiền bạc là hai ông chủ mà những người tôi tớ phục vụ không được lẫn lộn. Và như thế, cũng rất có nguy cơ, người ta sẽ nhầm lẫn hòa hợp với sự yên ổn chóng qua do thỏa hiệp.

Một cộng đoàn có thể rất yên ổn, tốt đẹp; mọi sự đều suôn sẻ nhưng không hề có hòa hợp. Thật vậy, có lần tôi đã nghe được từ một vị Giám mục một điều khá lý thú: ‘Trong giáo phận, tình hình rất yên ắng. Nhưng nếu bạn chỉ cần đụng vào vấn đề này; vâng, chỉ cần đụng vào vấn đề này thôi, thì ngay lập tức chiến tranh sẽ bùng nổ.’ Đúng là một sự hòa hợp do thỏa hiệp! Và đó không phải là sự hòa hợp của Chúa Thánh Thần. Chúng ta gọi đó là sự hòa hợp giả tạo, giống như trường hợp của ông Khanania và vợ là bà Xaphira với tất cả những gì mà họ đã làm.

Thần Khí và ơn can đảm

Đức Thánh Cha kết thúc bài giảng bằng việc mời gọi mọi người cùng đọc lại sách Công vụ Tông Đồ về những Kitô hữu sơ khai và đời sống chung của họ: “Sẽ thật tốt nếu chúng ta biết cách để làm chứng tá trong những môi trường mà chúng ta đang sống. Sự hòa hợp của Chúa Thánh Thần mang lại cho chúng ta lòng quảng đại để không giữ bất cứ gì làm của riêng, cho dù có thiếu thốn. Sự hòa hợp ấy ban cho chúng ta một thái độ thứ hai: ‘Nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban, các Tông Đồ làm chứng Chúa Giêsu đã sống lại. Và Thiên Chúa ban cho tất cả các ông dồi dào ân sủng’. Điều này có nghĩa là các ông được ơn can đảm. Khi có sự hòa hợp trong Giáo hội, trong cộng đoàn thì sẽ có sự can đảm, can đảm để làm chứng về Thiên Chúa Phục Sinh.”

Vũ Đức Anh Phương, SJ

https://www.youtube.com/watch?v=ZT7kyqZUtQA

 

Kitô hữu là người biết thưa tiếng ‘xin vâng’

VATICAN. 4-4-16 “Hãy tự hỏi mình xem liệu tôi có phải là người biết thưa tiếng ‘xin vâng’ hay là người luôn quay mặt giả điếc làm không thèm trả lời.” Đây là một trong những thông điệp mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã chia sẻ trong bài giảng thánh lễ sáng hôm nay, thứ 2, ngày 04.04, tại nguyện đường Thánh Marta. Đây là thánh lễ đầu tiên của Đức Thánh Cha tại nguyện đường này sau thời gian nghỉ lễ Phục Sinh. Khởi đi từ Lễ Truyền Tin hôm nay, Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh rằng: “Chính tiếng ‘xin vâng’ của Mẹ Maria đã mở ra cách cửa dẫn đến tiếng ‘xin vâng’ của Đức Giêsu.”

Áp-ra-ham đã vâng phục Thiên Chúa, đã thưa tiếng ‘vâng’ trước lời mời gọi của Chúa và sẵn sàng rời bỏ vùng đất bấy lâu nay đã sống để lên đường đi đến nơi ông không hề biết. Đức Thánh Cha Phanxicô đã tập trung bài giảng của mình vào ‘chuỗi dây của những tiếng xin vâng’, được bắt đầu với Áp-ra-ham. Khi đề cập trến biến cố Truyền Tin, Đức Thánh Cha chia sẻ rằng căn tính của con người, ngay cả của những người thời cổ xưa như Áp-ra-ham và Mô-sê, chính là biết đáp tiếng ‘xin vâng’ trước sự kỳ vọng của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta cũng nghĩ đến Isaia, khi Thiên Chúa sai ông đi nói chuyện với dân chúng, dường như ông đã do dự và trả lời rằng ‘môi miệng ông ô uế’.

Tiếng ‘xin vâng’ của Mẹ Maria mở ra cánh cửa để dẫn tới tiếng ‘xin vâng’ của Đức Giêsu

Thiên Chúa thanh tẩy môi miệng của Isaia và ông đã thưa ‘xin vâng’. Điều này cũng xảy ra với tiên tri Giê-rê-mia khi ông nhận thấy mình không biết ăn nói, nhưng sau đó ông đã đáp ‘‘xin vâng’’ với Thiên Chúa. Ngày hôm nay, tin Mừng nói với chúng ta điểm cuối cùng của chuỗi dây ‘xin vâng’ ấy, được bắt đầu từ một tiếng ‘xin vâng’ khác: đó chính là tiếng ‘xin vâng’ của Mẹ Maria. Với tiếng ‘xin vâng’ này, Thiên Chúa không chỉ còn là ghé mắt nhìn đến Dân Người, hay bước đi đồng hành với Dân Người nữa, nhưng Thiên Chúa đã thực sự trở nên một người trong chúng ta và mang lấy thân xác phàm nhân. Tiếng ‘xin vâng’ của Mẹ Maria đã mở ra cánh cửa dẫn tới tiếng ‘xin vâng’ của Đức Giêsu: ‘Con đến để thực thi ý Chúa.’ Đức Giêsu đã cùng với tiếng ‘xin vâng’ này bước trọn cuộc hành trình dương thế, đến tận cây Thánh Giá. Trong giây phút sắp phải chịu khổ hình, Đức Giêsu đã xin Cha cất chén đắng đi. Nhưng ngay lập tức, Ngài cũng thưa tiếng ‘xin vâng’, ‘một theo ý Cha, đừng theo ý con. Như vậy, nơi Đức Giêsu, có tiếng ‘‘xin vâng’’ của Thiên Chúa. Chính Ngài là hiện thân của sự vâng phục.

Trong tiếng 'xin vâng' của Mẹ Maria, có tiếng 'xin vâng' của tất cả lịch sử cứu độ

Hôm nay là một ngày tuyệt đẹp để chúng ra cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài đã hướng dẫn chúng ta bước đi trên con đường ‘xin vâng’, và cũng là dịp thuận tiện để chúng ta suy nghĩ, phản tỉnh về đời sống của mình. Tất cả chúng ta, trong những ngày sống, cần phải nói ‘xin vâng’ hoặc ‘từ chối’, và đôi khi chúng ta nói ‘vâng’ hoặc nhiều lần chúng ta cúi thấp đầu xuống lẩn trốn như Adam và Eva, để không nói ‘từ chối’ khi phải làm điều gì đó ta không hiểu được. Điều chúng ta không hiểu là điều mà Thiên Chúa đòi hỏi. Hôm nay là ngày lễ ‘xin vâng’. Trong tiếng ‘xin vâng’ của Mẹ Maria, có tiếng ‘xin vâng’ của tất cả lịch sử cứu độ, và từ đó, tiếng ‘xin vâng’ cuối cùng của con người và của Thiên Chúa đã bắt đầu.

Chúng ta có là những người ‘xin vâng’

Với tiếng ‘vâng’ từ thủa ban đầu, Thiên Chúa đã tác tạo vũ trụ và con người. Đó là một công trình tạo dựng tuyệt đẹp. Và ngày hôm nay, cũng với tiếng ‘xin vâng’, Thiên Chúa đã tái tạo vũ trụ và tất cả chúng ta thành những thụ đạo đẹp đẽ nhất. Tiếng ‘xin vâng’ của Thiên Chúa, Đấng đã thánh hóa chúng ta, giúp chúng ta không ngừng tiến lên phía trước trong Đức Giêsu Kitô. Hôm nay là ngày để chúng ta tạ ơn Thiên Chúa và cũng để tự tra vấn mình: Tôi có phải là người biết thưa tiếng ‘xin vâng’ hay chỉ biết nói ‘từ chối’, hay  tôi là người giả điếc làm ngơ không thèm trả lời? Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ân sủng để bước đi trên con đường của những người biết thưa tiếng ‘xin vâng’.

Sau bài giảng, các nữ tu Dòng Thánh Vinh Sơn đã lặp lại lời khấn. Các sơ cũng là những người phục vụ tại Nhà trọ Thánh Marta. Đức Thánh Cha chia sẻ rằng: “Các sơ thực hiện việc nhắc lại lời khấn đều đặn mỗi năm. Thánh Vinh Sơn rất khôn ngoan khi ngài biết bằng sứ vụ mà các sơ đảm nhận khó khăn vất vả. Bởi vậy, ngài muốn con cái của mình phải nhắc lại nhữnglời khấn hứa ấy hằng năm.

Vũ Đức Anh Phương, SJ

 

SỢI DÂY HY VỌNG

VATICAN. 18-3-16 Niềm hy vọng của Kitô hữu là một nhân đức khiêm tốn nhưng mạnh mẽ. Nhân đức ấy gìn giữ chúng ta để chúng ta không chết đuối giữa những khó khăn của cuộc sống. Đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng thứ 5, ngày 17.03, tại nguyện đường Thánh Marta. Đức Thánh Cha khẳng định rằng trông cậy nơi Thiên Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ phải thất vọng. Đó chính là nguồn mạch hoan lạc, đem lại an bình cho tâm hồn chúng ta.

Đức Thánh Cha đã triển khai bài giảng dựa trên bài Tin Mừng theo Thánh Gioan (8, 51-59) và nhấn mạnh rằng: "Niềm hy vọng là nền tảng đời sống của người Kitô hữu. Trên bước đường hy vọng, ông Áp-ra-ham đã gặp phải nhiều cám dỗ, nhưng ông vẫn tin tưởng và vâng phục Thiên Chúa. Nhờ đó ông đã bắt đầu tiến vào cuộc hành trình đi về Đất Hứa. Đức Giêsu nói với người Do Thái rằng ông Áp-ra-ham đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của Đức Giêsu.

Hy vọng giúp chúng ta tiến lên phía trước và mang lại cho chúng ta niềm vui

Ngày hôm nay Giáo hội nói với chúng ta về sự hoan lạc của niềm hy vọng. Trong Lời nguyện Nhập lễ, chúng ta đã nài xin Thiên Chúa ơn gìn giữ niềm hy vọng của Giáo hội để niềm hy vọng ấy không bao giờ lịm tắt đi. Thánh Phaolo đã nói về ông Áp-ra-ham và với chúng ta rằng: Tin tưởng dựa trên niềm hy vọng. Hy vọng chính là một nhân đức giúp ta tiến về phía trước. Đó là một nhân đức khiêm tốn, đơn sơ nhưng mang lại cho chúng ta niềm vui, đôi khi là những niềm vui thật to lớn, nhưng đôi khi chỉ là niềm an bình giản dị. Chúng ta có thể chắc chắn rằng đặt hy vọng nơi Thiên Chúa, chúng ta sẽ không phải thất vọng bao giờ.

Đây là niềm vui mừng hy vọng của ông Áp-ra-ham. Niềm hy vọng ấy đã triển nở trong suốt chiều dài lịch sử. Nhiều khi Thiên Chúa che dấu đi khiến ông không nhìn thấy; nhưng rất nhiều lần Thiên Chúa đã bày tỏ cách rõ ràng cho ông biết. Niềm vui ấy cũng diễn ra với Mẹ Maria. Khi Mẹ đến nhà chị họ, bà Elisabet nói với Mẹ: ‘Này đây khi tôi vừa nghe tiếng em chào thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng.’ Trong cuộc gặp mặt đó, có niềm vui mừng hoan lạc của việc Thiên Chúa cư ngụ giữa Dân Người. Và một khi đã có niềm vui, thì bình an cũng xuất hiện. Đây chính là đặc tính của nhân đức cậy (hy vọng): từ vui mừng dẫn tới bình an, và không bao giờ thất vọng. Khi con cái Ít-ra-en phải trải qua những ngày tháng nô lệ, tù đày trên vùng đất dân ngoại, với niềm hy vọng trông cậy, họ chẳng hề thất vọng, chán chường.

Niềm hy vọng củng cố chúng ta và không để chúng ta chết chìm trong khó khăn, đau khổ

Sợi dây hy vọng bắt đầu với Áp-ra-ham khi Thiên Chúa ngỏ lời với ông, và đã được hoàn thành nơi Đức Giêsu trên thập giá. Chúng ta có thể nói mình có đức tin và lòng bác ái, nhưng lại rất khó để trả lời có niềm hy vọng hay không. Nói thì có vẻ dễ, nhưng khi người ta hỏi: ‘Bạn có hy vọng không? Bạn có thấy vui mừng khi hy vọng không?’; chúng ta hay trả lời là: ‘Tôi không biết. Tôi không giải thích được.’ Hy vọng, nhân đức khiêm tốn đó chảy âm ỉ dưới mạch nước cuộc sống nâng đỡ chúng ta để chúng ta không chết chìm trong những khó khăn, thách đố; giúp chúng ta không đánh mất khao khát tìm gặp Thiên Chúa, khao khát được diện kiến dung nhan rạng ngời của Ngài. Dung nhan ấy một ngày kia tất cả chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng.

Niềm hy vọng không làm thất vọng: âm ỉ, khiêm tốn nhưng mạnh mẽ

Ngày hôm nay thật thuận tiện để suy nghĩ về điều này: Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi Áp-ra-ham dám rời bỏ vùng đất của ông trong khi ông lại không hề biết phải đi về đâu; thì chính Vị Thiên Chúa ấy lại bước lên cây thập giá để kiện toàn lời đoan hứa đó. Và đến thời kỳ viên mãn, Vị Thiên Chúa ấy cũng làm cho lời hứa trở thành hiện thực với mỗi người chúng ta. Điều nối kết thời điểm ban đầu của Áp-ra-ham và thời đại cánh chung chính là sợi dây hy vọng. Chính sợi dây đó cũng nối kết đời sống Kitô hữu của tôi và của chúng ta lại với nhau, từ thời đại này đến thời đại khác, để chúng ta cùng nhau tiến lên phía trước. Mặc dù tội lỗi bất toàn, nhưng chúng ta cứ tiến lên. Đó chính là niềm hy vọng. Niềm hy vọng mang lại cho chúng ta an bình trong những lúc tồi tệ. Trong những thời khắc đen tối nhất của cuộc sống, vẫn có niềm hy vọng le lói phía chân trời. Niềm hy vọng không khiến chúng ta phải thất vọng. Nó luôn có đó: khiêm tốn, âm ỉ nhưng hết sức mãnh liệt."

Vũ Đức Anh Phương, SJ

https://www.youtube.com/watch?v=nKj2zV_MntQ

 

THÁNH GIÁ - CÂU CHUYỆN TÌNH CỦA THIÊN CHÚA

VATICAN. 15-3-16 Nếu muốn biết ‘câu chuyện tình’ mà Thiên Chúa dành cho nhân loại, chúng ta phải ngắm nhìn Thánh Giá, nơi ấy có một vị Thiên Chúa đã hoàn toàn ‘trút bỏ vinh quang’, sẵn sàng bị ‘vấy bẩn’ bởi tội lỗi con người để cứu con người khỏi chết. Đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng nay, thứ ba ngày 15.03, tại nguyện đường Thánh Marta.

Lịch sử cứu độ được Kinh Thánh thuật lại có nói về một con vật. Con vật ấy được nhắc đến lần đâu tiên trong Sách Sáng Thế và lần cuối cùng là trong Sách Khải Huyền: con rắn. Rắn là loài vật mà theo Kinh Thánh mang một biểu tượng mạnh mẽ của sự nguyền rủa, của tội lỗi và một cách mầu nhiệm cũng là biểu tượng của sự cứu chuộc.

Để giải thích điều này, Đức Thánh Cha Phanxicô trưng dẫn bài đọc một trích sách Dân số và Tin Mừng theo Thánh Gioan: "Bài đọc một tường thuật lại sự kiện khá nổi bật về dân tộc It-ra-en khi họ thực hiện chuyến hành trình trong sa mạc. Họ không muốn đi trong cảnh lương thực ít ỏi như thế nữa. Họ kêu trách Thiên Chúa và ông Mô-sê. Và ở đây, nhân vật chính là con rắn. Trước hết, nó được Thiên Chúa cho đến để làm hại những kẻ cứng lòng không tin, để gieo rắc sự sợ hãi và cái chết cho đến khi dân chúng biết chạy đến nài xin Mô-sê sự tha thứ. Và sau đó là hình ảnh con rắn đồng. Thiên Chúa nói với Mô-sê: ‘Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống.’ Điều nhiệm mầu nằm ở chỗ này: Khi dân hối hận, Thiên Chúa không giết chết các con rắn, nhưng Ngài để chúng đó. Nếu có con rắn nào làm hại dân chúng, chỉ cần họ nhìn lên con rắn đồng thì sẽ được cứu. Giương cao con rắn lên.

Động từ ‘giương cao’ (innalzare) là trung tâm điểm trong cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu và người Pha-ri-sêu như đã được mô tả trong Tin Mừng. Đức Giêsu nói với người Do-thái rằng: ‘Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu.’ ‘Tôi Hằng Hữu’ là tước hiệu mà chính Thiên Chúa đã truyền cho Mô-sê để ông nói lại cho dân Ít-ra-en. Sau này, cụm từ diễn đạt ấy cũng quay trở lại trong dạng thức: ‘giương cao Con Người lên’.

Con rắn tượng trưng cho tội lỗi. Con rắn giết hại người ta nhưng nó cũng chữa lành. Và đó chính là mầu nhiệm của Đức Kitô. Thánh Phao-lô đã nói về mầu nhiệm này như sau: ‘Đức Giêsu đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, đã hạ mình xuống, đã tự hủy mình đi để cứu chúng ta.’ Mạnh mẽ hơn, Thánh Phao-lô còn nói: ‘Đức Giêsu là Đấng chẳng biết tội là gì, thì Thiên Chúa lại biến Người thành hiện thân của tội.’ Như vậy cách nào đó, Đức Giêsu chính là con rắn được giương cao lên. Bài đọc một ngày hôm chất chứa cái nhìn có tính tiên tri: Con Người như là hình ảnh con rắn, ‘hiện thân của tội lỗi’, đã được giương cao lên để cứu độ con người.

Đây chính là câu chuyện về ơn cứu độ của chúng ta. Đây cũng là chuyện tình của Thiên Chúa. Nếu muốn biết câu chuyện tình ấy, chúng ta hãy ngước nhìn lên cây Thánh Giá: một con người bị tra tấn dã man, một Thiên Chúa đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, sẵn sàng bị ‘vấy bẩn vì tội lỗi con người’. Vị Thiên Chúa ấy sẽ hủy diệt vĩnh viễn cái tên xấu xa đích thực của sự dữ mà Sách Khải huyền gọi là ‘con rắn xưa’. Tội lỗi là việc làm của Satan. Nhưng Đức Giêsu đã chiến thắng Satan. Ngài đã tự hạ mình xuống, trở thành hiện thân của tội để nâng con người lên.

Thánh Giá không phải là đồ trang sức, không phải là một công trình nghệ thuật được đính nhiều đá quý và kim cương lấp lánh. Nhưng như chúng ta thấy, Thánh Giá là mầu nhiệm tự hủy của Thiên Chúa vì yêu thương. Con rắn đồng trong sa mặc có ý nghĩa tiền trưng về ơn cứu độ: Nó được giương cao lên và bất cứ ai bị cắn mà nhìn nó, sẽ được chữa lành. Sự chữa lành ấy không được thực hiện bởi một cây đũa thần từ tay của một vị thiên chúa ma thuật, nhưng bởi chính sự đớn đau của Con Người, bởi chính khổ hình của Đức Giêsu Kitô.”

Vũ Đức Anh Phương, SJ

Video: https://www.youtube.com/watch?v=2jbUw49aDr4

 

 

 

May 2, 2016