Mùa chay 2009
MÙA CHAY 2009: Đọc Sứ điệp Mùa Chay của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI dưới ánh sáng Kinh Thánh và trong truyền thống Kitô giáo (phần 1)
Ngày 4-2-2009, Báo l’Osservatore Romano đã công bố Sứ điệp Mùa Chay năm 2009 của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI cho toàn thể Giáo Hội. Năm nay Sứ điệp này trình bày cách đặc biệt về việc Ăn Chay. Nội dung của Sứ điệp rất súc tích và phong phú. Mỗi người tìm đọc chính bản văn của Sứ điệp để thấu hiểu được giáo huấn của Đức Thánh Cha và sống Mùa Chay cách cụ thể nhất là trong việc thực hành ăn chay trong thời gian thánh này.
Trong bài này tôi ghi thêm một số những bản văn Kinh Thánh cũng như của các Giáo phụ, của phụng vụ, của Giáo quyền tuyên huấn, - nghĩa là theo truyền thống Kinh thánh, Giáo phụ, và truyền thống Kitô giáo - liên hệ tới những đề mục chính của Sứ điệp để giúp đào sâu giáo huấn của vị Cha chung.
Với mỗi đề mục, tôi ghi lại bản văn của Sứ điệp – tuy phân chia rải rác, nhưng tất cả Sứ điệp được đọc lại ở đây – và ghi thêm một vài bản văn khác liên hệ như vừa nói trên đây. Các bản văn của Sứ điệp thường được ghi chữ đậm.
I MỞ ĐẦU
Ý NGHĨA MÙA CHAY THÁNH
Mùa Chay là thời gian thao luyện một cách dấn thân hơn trong đời sống siêu nhiên:
“Anh Chị Em thân mến,
Vào lúc bắt đầu Mùa Chay, là thời gian thiết lập một cuộc hành trình đi vào một cuộc thao luyện thiêng liêng một cách dấn thân hơn. ..”
Câu mở đầu này nói tới Mùa Chay với một kiểu nói truyền thống vẫn có trong phụng vụ và trong văn chương của các Giáo phụ: Mùa Chay là “một cuộc thao luyện thiêng liêng một cách dấn thân hơn. ..” Mùa chay là một thời gian tập dượt, huấn luyện, làm đi làm lại một cử điệu, một bộ môn thể thao, trước khi người lực sĩ đi ra thao trường để tranh giải. Đây là một kiểu nói, một hình ảnh lấy từ môi trường thể thao, thể dục, của các sinh hoạt trong thế vận hội, và cả trong môi trường chiến tranh bên ngoài.
Trong Phụng vụ chúng ta có những chỗ chứa đựng kiểu nói này. Lời nguyện nhập lễ, Thứ tư Lễ Tro đã gợi ý tới điểm này. Bản văn đọc lên như sau:
[Bản văn latinh]: “Concede nobis, Domine, praesidia militiae christianae, sanctis inchoare iuieniis, ut contra spiritales nequitias pugnaturi, continentiae muniamur auxiliis. Per Dominum”
Bản văn tiếng Việt đọc như sau: “Lạy Chúa, ngày hôm nay, tất cả chúng con ăn chay hãm mình, để bước vào mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng. Xin giúp chúng con hằng biết sống khắc khổ, để ngày thêm vững mạnh mà chiến thắng ác thần. Chúng con cầu xin”.
Trong bản văn latinh của Lời nguyện này, chúng ta có các từ liên hệ tới thao trường, cuộc chiến đấu, một cách rõ ràng hơn: như “praesidia”(= sự trợ lực), “militiae christianae” (= cuộc chiến đấu Kitô giáo), “pugnaturi” (= chiến đấu trong một cuộc chiến), “auxiliis” (= viện binh, trợ giúp).
Chúng ta biết, kiểu nói “thao trường” được gợi ý từ lời của Thánh Phaolô nói trong thư thứ I gửi tín hữu tại Corintô: “Anh em không biết sao: trong cuộc chạy đua tại thao trường, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải. Anh em hãy chạy làm sao để chiếm được phần thưởng. Phàm là tay đua, thì phải kiêng kỵ đủ điều, nhưng họ làm như vậy để đoạt phần thưởng chóng qua; còn chúng ta nhằm phần thưởng không bao giờ hư nát. Vậy tôi đây cũng chạy như thế, chứ không chạy mà không xác tín; tôi đánh như thế, chứ không phải đánh vào không khí. Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” (1Cr 9, 24-27).
Nhưng cuộc tập dượt, thao luyện này nằm trong lãnh vực siêu nhiên và phải mang tính cách dấn thân hơn, dành nhiều thời giờ hơn, làm một cách tận lực, với chú ý nhiều hơn là trong các Mùa phụng vụ khác. Văn kiện Những Quy Luật tổng quát về Năm Phụng vụ và Niên Lịch nói như sau: “Vào các Mùa khác nhau của Năm Phụng vụ, theo những tập tục cổ truyền, Hội Thánh thực hiện việc huấn luyện các tín hữu những hoạt động thiêng liêng và thể xác, nhờ việc giáo huấn, sự cầu nguyện, các việc hãm mình đền tội và bác ái” (s. 1). Điều này áp dụng cho các Mùa của Năm Phụng vụ, thì đặc biệt áp dụng cho Mùa Chay thánh. Vì thế Mùa Chay được phụng vụ gọi là một trong những Mùa Lớn, Mùa Quan Trọng trong Năm phụng vụ.
Trong phần mở đầu Sứ Điệp, Đức Thánh Cha nói: Phụng vụ giới thiệu 3 hoạt động để tín hữu thực hành công việc thống hối theo truyền thống kinh thánh và Kitô giáo, đó là: cầu nguyện, bố thí, ăn chay.
Sứ điệp Mùa Chay năm 2009 nói như sau:
“Phụng vụ đề nghị lại cho chúng ta ba việc thực hành đền tội luôn được truyền thống Kinh thánh và Kitô giáo trân trọng – cầu nguyện, bố thí và ăn chay – để chuẩn bị chúng ta sẵn sàng cử hành Lễ Phục Sinh cách tốt đẹp xứng đáng hơn và làm cho ta có được cảm nghiệm về quyền năng của Thiên Chúa như chúng ta sẽ nghe hát lên trong Đêm Vọng Phục Sinh, ‘sẽ khử trừ muôn tội vạ, đêm vạn năng thanh tẩy mọi lỗi lầm, biến tội nhân thành con người công chính, đem vui mừng cho hồn nặng đau thương. Đêm tiêu diệt hận thù. Đêm giải hòa bất thuận, khuất phục mọi quyền uy” (SLRM, Bài công bố Tin mừng Phục sinh).
Từ lời kinh phụng vu, Sứ điệp Mùa Chay 2009 nhắc lại và giải thích các yếu tố của Mùa Chay thánh. Trong bài giảng thứ 43, thánh Phêrô Crisologo nói: “Anh Chị Em thân mến, có ba việc mà nhờ đó đức tin đứng vững, nhờ đó lòng đạo đức được thành hình, và nhân đức còn tồn tại. Đó là Cầu nguyện, ăn chay, lòng thương xót. Điều mà lời cầu nguyện gõ cửa xin, thì việc ăn chay khẩn nài, thì lòng từ bi làm cho nhận được. Cầu nguyện, ăn chay, lòng thương xót, ba điều này là một thôi, ba điều này làm cho nhau có được sự sống”.
Chúng ta có thể tóm tắt mục đích khi tín hữu sống Mùa Chay và thực hành các việc đạo đức trong Mùa phụng vụ này này như sau: chuẩn bị tín hữu cử hành Đại Lễ Phục Sinh một cách tốt đẹp, xứng đáng hơn để họ có được cảm nghiệm về quyền năng của Thiên Chúa có sức đánh bại sự dữ, rửa sạch tội nhơ, đem lại sự trong trắng nguyên thủy cho tội nhân đem lại niềm vui cho những ai sầu khổ xóa tan ghen ghét bẻ gẫy sự cứng cỏi của những người quyền thế cổ võ sự hòa thuận và bình an phụng vụ thêm một mục đích nữa, đó là chuẩn bị các dự tòng lãnh nhận ba bí tích khai tâm Kitô giáo vào Đêm Vọng Phục Sinh.
Về ba hành động mà phụng vụ đề nghị tín hữu phải làm trong Mùa Chay: cầu nguyện, bố thí và ăn chay, chúng ta có nhiều chứng cớ trong các bản văn phụng vụ trong Mùa Chay, nhất là từ Thánh Lễ. Tôi chỉ ghi lại một vài bản văn mà thôi.
CẦU NGUYỆN: Mùa Chay là mùa tăng cường việc cầu nguyện. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhắc nhở lại cho tín hữu trong Sứ Điệp Mùa Chay năm 2009:
“Phụng vụ đề nghị lại cho chúng ta ba việc thực hành đền tội luôn được truyền thống Kinh thánh và Kitô giáo trân trọng – cầu nguyện, bố thí và ăn chay. . .”
Trong Sứ điệp Mùa Chay năm nay tuy nói đặc biệt về việc ăn chay, nhưng Đức Thánh Cha cũng gợi ý một đôi tư tưởng về việc cầu nguyện. Trước tiên cầu nguyện và ăn chay phải đi đôi với nhau. Ngài nhắc lại lời Thánh Phêrô Crisologo:
“Việc ăn chay là linh hồn của việc cầu nguyện và việc biểu lộ lòng từ bi là sự sống của việc ăn chay, vì thế ai cầu nguyện thì cũng phải ăn chay. Ai ăn chay thì phải có lòng từ bi. Ai trong khi cầu xin mà ước muốn được lắng nghe, thì hãy lắng nghe kẻ nói lên với mình lời cầu xin. Ai muốn con tim Thiên Chúa mở rộng ra với mình, thì không được đóng lòng mình lại với ai cầu xin mình” (Bài giảng 43: PL 52, 320. 332).
Chỗ khác Sứ điệp nói về ý nghĩa của việc cầu nguyện, đó là:
“Cùng với việc ăn chay và cầu nguyện chúng ta để cho Thiên Chúa đến mà làm thỏa mãn cơn đói sâu xa nhất mà chúng ta cảm nghiệm thấy trong chỗ thâm sâu nhất của con người ta: đó là cơn đói và khát chính Thiên Chúa”.
Đức Thánh Cha khuyến khích chúng ta cầu nguyện nhiều trong Mùa Chay thánh này, Ngài nói:
“...đồng thời Tôi cũng khuyến khích vun trồng việc lắng nghe Lời Chúa, việc cầu nguyện và bố thí”.
Đi chung với việc ăn chay, các tín hữu cũng phải tăng cường việc cầu nguyện trong Mùa Chay thánh này, nhất là trong các gia đình. Ngài nói:
“Vì thế Mùa Chay cần được đánh giá lại trong mỗi gia đình và trong mỗi cộng đoàn Kitô hữu. .. Tôi đặc biệt nghĩ tới một cố gắng dấn thân hơn trong việc cầu nguyện, trong việc đọc lời Chúa với việc cầu nguyện (lectio divina). ..”
Như vậy mấy việc thực hành thiêng liêng này quyện lấy nhau và được củng cố nhắc nhở nhiều trong Mùa Chay thánh. Chính Đức Thánh Cha cũng tăng cường việc cầu nguyện cho tín hữu trong Mùa Chay thánh này, vào cuôi Sứ điệp Ngài nói:
“Cùng với lời cầu chúc này, trong khi Tôi bảo đảm với Anh Chị Em là Tôi sẽ cầu nguyện cho Anh Chị Em, để mỗi tín hữu, mỗi cộng đoàn trong Giáo Hội trải qua hành trình của Mùa Chay này với nhiều ích lợi, Tôi vui lòng ban Phép Lành Tông Tòa cho tất cả mọi người “.
Đó là gương cầu nguyện trong Mùa Chay, lời cầu nguyện của vị Cha chung cho từng người chúng ta, bao gồm tất cả chúng ta. Chúng ta hợp lời cầu nguyện của chúng ta theo những chỉ dẫn trên đây và cho anh chị em khác, nhất là những anh chị em dự tòng, được nhiều ơn thánh trong Mùa Chay này.
Lời nguyện nhập lễ Chúa nhật thứ III Mùa Chay nói tới việc cầu nguyện cùng với viêc ăn chay và bố thí. Bản văn đọc như sau: “Lạy Chúa là Đấng rất từ bi nhân hậu, Chúa đã từng chỉ dạy chúng con cách chữa lành những vết thương tội lỗi: là ăn chay hãm mình, siêng năng cầu nguyện, và chia sẻ cơm áo cho kẻ khó nghèo. Này chúng con nhận biết mình yếu hèn lầm lỗi, và hết lòng sám hối ăn năn; xin Chúa thương đoái nhìn chúng con và đưa tay nâng đỡ. Chúng con cầu xin”. Việc cầu nguyện này cũng nhắm một điều phải xin đó là được tha thứ tội lỗi, như Lời nguyện tiến lễ Chúa Nhật thứ III Mùa Chay đọc lên: “Lạy Chúa nhờ những của lễ này, xin tha thứ tội lỗi chúng con đã phạm, và giúp chúng con biết thật tình tha thứ mọi lỗi lầm cho anh chị em chúng con. Chúng con cầu xin”.
Việc cầu nguyện của Giáo Hội được thể hiện nhất là qua việc cử hành Phụng Vụ Các Giờ Kinh (Liturgia Horarum). Đây là một lời cầu nguyện của Giáo Hội, do Giáo Hội thực hiện như là phần mình của Chúa Kitô. Hiến chế về Phụng Vụ nói: “Chính Chúa Kitô kết hiệp toàn thể cộng đoàn nhân loại với Người và liên kết họ với Người để cùng hát bài thánh ca ngợi khen Chúa” (s. 83). Phụng Vụ Các Giờ Kinh được coi là một lời cầu nguyện liên lỉ của Giáo Hội. Công đồng Vaticanô II trong Hiến chế về phụng vụ nói như sau: “Theo truyền thống xa xưa của Kitô giáo, Kinh nhật tụng được lập ra để thánh hiến trọn ngày đêm bằng lời ngợi khen Thiên Chúa. .. đó là tiếng chính Hiền Thê nói với Phu Quân của mình, và hơn thế nữa, còn là lời cầu nguyện của Chúa Kitô và thân thể Người dâng lên Thiên Chúa Cha” (s. 84). Như vậy trong Mùa Chay thánh việc cử hành Phụng Vụ Các Giờ Kinh là một cách thế cầu nguyện cần khuyến khích trong cộng đoàn tín hữu. Các linh mục và các người được trao cho nhiệm vụ cử hành các Giờ Kinh này, các tu sĩ, cần trung thành thực hiện với tâm tình sốt sắng và ý thức hơn, vì họ đại diện Giáo Hội mà dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện liên lỉ trong tất cả ngày sống, từ hừng đông cho đến lúc chiều tối trước khi đi ngủ. Giáo dân cũng được mời gọi để cử hành Phụng Vụ Các Giờ Kinh, ít là một phần. Văn kiện nói như sau: “Cũng vậy các tu sĩ nam nữ có luật buộc phải đọc kinh chung, và các thành phần của bất cứ tu hội nào, thì cũng nên họp lại, hoặc với nhau hoặc với giáo dân mà đọc hết hay một phần Các Giờ Kinh Phụng Vụ... Cuối cùng gia đình với tư cách là một đền thờ nhỏ của Hội Thánh thì chẳng những nên đọc kinh chung với nhau mà thờ phượng Chúa, mà còn nên tùy nghi đọc một phần nào đó trong Các Giờ Kinh Phụng Vụ, để được kết hợp chặt chẽ hơn với Hội Thánh” (Sách Các Giờ Kinh Phụng vụ, Văn Kiện trình bày và quy định, s. 26. 27).
Thánh Augustinô còn cho chúng ta biết giá trị của lời cầu nguyện của chúng ta vì được kết hợp với Chúa Kitô: “Không có ơn huệ nào lớn lao hơn mà Thiên Chúa làm cho con người, hơn là ơn huệ ban cho con người Ngôi Lời của Ngài, Đấng mà nhờ đó Thiên Chúa đã tạo dựng nên tất cả, để trở nên đầu của họ và nhận họ như là thân thể của Ngài... chính Ngôi Lời này cầu nguyện cho chúng ta, cầu nguyện trong chúng ta và được chúng ta cầu nguyện với”.
Chúng ta phải nói gì tới việc cầu nguyện cá nhân mà mỗi người có bổn phận thực hiện. Đây là lệnh truyền ban cho mọi tín hữu như lời thánh Tông đồ Phaolô nói với các tín hữu tại Thessalonica: “Hãy cầu nguyện không ngừng” (1Ts 5, 17). Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo đã dành trọn phần thứ IV để bàn về việc cầu nguyện. Vậy trong Mùa Chay thánh, nếu chúng ta phải tổ chức lớp giáo lý về việc cầu nguyện, thì đây là thủ bản chính yếu phải được sử dụng trước tiên.
BỐ THÍ CHO NHỮNG NGƯỜI NGHÈO KHỔ: đây là một trong ba việc mà truyền thống phụng vụ đã nói tới và đề nghị các tín hữu phải thực hiện trong Mùa Chay thánh. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nói trong Sứ điệp Mùa Chay năm 2009 như sau:
“Phụng vụ đề nghị lại cho chúng ta ba việc thực hành đền tội luôn được truyền thống Kinh thánh và Kitô giáo trân trọng – cầu nguyện, bố thí và ăn chay. ..”.
Rồi Ngài nói tiếp theo như sau:
“Chọn lựa tự nguyện để cho mình thiếu một vài vật gì để giúp đỡ người khác, một cách cụ thể chúng ta tỏ ra rằng người thân cận đang gặp khó khăn không hề là kẻ xa lạ với chúng ta. Chính để giữ được thái độ tiếp đón này và sự chú ý tới những người anh chị em mình, tôi khuyến khích các giáo xứ và mỗi cộng đoàn khác hãy tăng cường trong Mùa Chay này thực hành việc ăn chay cá nhân và tập thể, cũng như vun trồng việc nghe Lời Chúa, việc cầu nguyện và bố thí. Đây là điều đã có từ xưa, ngay từ thời kỳ đầu, một cung cách sống của cộng đoàn Kitô hữu, trong đó họ tổ chức các cuộc lạc quyên đặc biệt (x. 2Cr 8-9; Rm 15, 25-27), và các tín hữu được mời gọi để cho các người nghèo, nhờ việc ăn chay, những gì họ để ra được. Cả ngày nay nữa thói quen này cũng cần được tái khám phá và đem ra thực hành nhất là trong thời gian phụng vụ của Mùa Chay.”
Chúng ta nên nhớ là các bản văn phụng vụ Mùa Chay thường nói tới các việc bác ái, mà việc bố thí chỉ là một hình thức biểu lộ cụ thể và đã được truyền thống Kitô giáo nhấn mạnh rất nhiều trong sinh hoạt tôn giáo hằng ngày, nhất là trong Mùa Chay thánh. Lời nguyện nhập lễ thứ bảy sau tuần thứ I Mùa Chay đọc lên như sau: “Lạy Thiên Chúa hằng hữu là Cha chúng con, xin cho lòng chúng con về với Chúa, để khi hằng tìm Chúa như việc quan hệ nhất trong đời, và lấy tình bác ái phục vụ anh em, chúng con hoàn toàn hiến thân phụng thờ Chúa. Chúng con cầu xin”. Lời nguyện nhập lễ Chúa nhật thứ III Mùa Chay nói tới việc bố thí cho kẻ nghèo khó. Bản văn đọc như sau: “Lạy Chúa là Đấng rất từ bi nhân hậu, Chúa đã từng chỉ dạy chúng con cách chữa lành những vết thương tội lỗi: là ăn chay hãm mình, siêng năng cầu nguyện, và chia sẻ cơm áo cho kẻ khó nghèo. Này chúng con nhận biết mình yếu hèn lầm lỗi, và hết lòng sám hối ăn năn; xin Chúa thương đoái nhìn chúng con và đưa tay nâng đỡ. Chúng con cầu xin”.
Thánh Augustinô nói về việc bố thí trong tương quan với các việc khác như sau: “Vậy đây là hai chiếc cánh trên đó việc cầu nguyện nâng lòng lên tới Thiên Chúa: đó là việc tha thứ các lỗi lầm và việc bố thí cho người túng thiếu”. Nhưng thánh nhân cũng cảnh cáo ngay và đề phòng để các tín hữu làm việc bố thí một cách chính đáng. Ngài nói: “Cần phải tăng cường thật nhiều việc bố thí trong thời gian thánh này. Nhưng tôi phải nói gì về việc thương xót trong đó không phải lấy gì từ hào bao túi tiền riêng của mình nhưng tất cả phải xuất phát từ con tim là cái làm cho người ta cảm thấy mất mát nhiều khi phải giữ nó lại hơn là thiếu nó. Tôi có ý nói tới cơn thịnh nộ mà người ta giữ nó trong lòng đối với người anh em”.
Trong khi Thánh Augustinô gắn liền việc bố thí với kết hợp với Thiên Chúa, thì Thánh Lêô Cả nhìn ra trong việc bố thí ơn tha thứ tội khiên. Ngài nói: “Chúng ta không thể đi qua trước một người nghèo khó mà lại làm ngơ giả điếc trước tiếng than van của họ; Chúng ta hãy thực tập với lòng nhân từ mau mắn việc thương xót với những người túng thiếu để chính chúng ta xứng đáng tìm ra được lòng từ bi thương xót Chúa trong giờ phán xét”.
Chứng từ của Giáo phụ Clêmentê về việc bố thí cũng không kém rõ ràng: “Bố thí là một việc tốt lành, như để thống hối tội lỗi; ăn chay thì hơn là rao giảng, nhưng bố thí thì hơn hai việc này; vì đức ái che lấp muôn vàn tội lỗi: việc rao giảng do lương tâm tốt sẽ cứu thoát cho khỏi chết. Hạnh phúc cho tất cả những ai được nhận ra là hoàn thiện trong những việc này, vì chưng bố thí cất đi khỏi tội khiên”.
Còn về VIỆC ĂN CHAY, chúng ta sẽ trình bày sau đây một cách sâu rộng, như nội dung Sứ điệp Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI muốn đặc biệt nói tới cho tín hữu trong Năm 2009 này.
II-THỰC HÀNH VIỆC ĂN CHAY
Trước khi cùng nhau đọc lại Sứ điệp Mùa Chay năm 2009, mà nội dung chính là việc ăn chay, chúng ta nói tới gợi ý của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI ngay ở phần đầu của Sứ điệp nói về việc ăn chay:
“Phụng vụ đề nghị lại cho chúng ta ba việc thực hành đền tội luôn được truyền thống Kinh thánh và Kitô giáo trân trọng – cầu nguyện, bố thí và ăn chay – để chuẩn bị chúng ta sẵn sàng cử hành Lễ Phục Sinh cách tốt đẹp xứng đáng hơn.... ”
Trên đây chúng ta đã nói về việc cầu nguyện và bố thí. Ở đây chúng ta sẽ theo sát Sứ điệp để nói nhiều về việc ĂN CHAY.
ĂN CHAY: trong từ ngữ phụng vụ tiếng Việt Nam, mùa phụng vụ này được gọi là MÙA CHAY, chắc hẳn với sự nhấn mạnh đặc biệt việc đạo đức này, trong khi vẫn khuyến khích việc cầu nguyện và bố thí.
Trước tiên chúng ta ghi lại đây giáo huấn từ phụng vụ. Lời nguyện hiệp lễ Thứ tư Lễ Tro đọc như sau: “Lạy Chúa, chớ gì Mình và Máu Thánh Đức Kitô chúng con vừa lãnh nhận, giúp chúng con biết ăn chay hãm mình sao cho đẹp lòng Chúa, và nhờ đó, tâm hồn chúng con được khỏi hết tật nguyền. Chúng con cầu xin”. Còn Kinh Tiền tụng Chúa Nhật thứ I Mùa Chay nói tới gương của Chúa Giêsu: “Khi nhịn ăn bốn mươi đêm ngày, Người đã nêu gương chay tịnh. Khi phá vỡ mưu chước của con rắn xưa, Người dạy chúng con thắng mọi cơn cám dỗ. ..”.
Giáo huấn của các Giáo phụ giúp chúng ta hiểu thêm về việc ăn chay.
Giáo phụ Origenes ghi lại việc thực hành ăn chay của Giáo Hội thời xưa như sau: “Chúng ta có những ngày của Mùa Chay dành cho việc ăn chay. Chúng ta có ngày thứ tư và thứ sáu trong tuần trong đó chúng ta cử hành trọng thể việc ăn chay. Kitô hữu được hoàn toàn tự do trong suốt thời kỳ ăn chay, vì đó không phải là việc làm mê tín dị đoan, nhưng là để thực hành nhân đức kiềm hãm con người mình. Vì chưng làm sao nơi một số người có thể giữ được sự khiết tịnh hoàn toàn, nếu không được trợ giúp bởi sự kiềm hãm nhiệm nhặt hơn? Làm sao có thể thấu hiểu được Kinh Thánh? Làm sao có thể học hỏi thêm và có được sự khôn ngoan? Không phải là nhờ kiềm hãm cái dạ dày và cổ họng sao? Làm sao một người có thể phạt mình để chiếm đoạt được Nước Trời, nếu không bớt giảm của ăn, nếu không coi việc kiêng cữ như là người giúp việc? Đó là lý do theo Kitô giáo của việc ăn chay. Nhưng còn lý do siêu nhiên khác, mà trong thư của các Thánh Tông đồ đã ca ngợi. Chúng ta tìm ra trong một vài cuốn sách của các Tông đồ lời nói sau đây: “Hạnh phúc người ăn chay vì Người, để nuôi dưỡng người nghèo khó”. Ăn chay như thế là điều rất đẹp lòng Chúa, và thật xứng đáng”.
Thánh Athanasiô đã cho chúng ta giáo huấn về việc ăn chay, cầu nguyện và bố thí như sau: “Chúng ta hãy yêu thích rất nhiều việc ăn chay, vì chưng việc ăn chay là sự trợ giúp rất lớn, việc cầu nguyện và bố thí cũng vậy; vì chúng cứu con người thoát khỏi sự chết. Vì chưng do việc ăn uống và bất tuân, mà ông Adong đã bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng, thì cũng thế, những ai muốn, thì nhờ việc ăn chay mà được vào lại Thiên Đàng. Thưa trinh nữ, qua nhân đức này, con tìm cách tôn thờ thân xác con và làm đẹp cho Phu Quân trên trời. Vì những ai kết hợp với thế gian, và trang điểm bằng thuốc thơm, dầu hảo hạng thơm tho và các mùi hương có vị tuyệt hảo khác, cũng như mặc áo quý báu, mang thêm vàng bạc cho thân xác mình, để làm đẹp lòng người chồng của con, nhưng những thứ đó không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa. Chúa Kitô không hề đòi hỏi nơi con những điều này, mà chỉ muốn con dâng Ngài tấm lòng trong trắng và thân xác vẹn toàn và bị xé nát ra vì ăn chay”.
Bộ Giáo luật năm 1983 cũng đưa ra những chỉ dẫn cụ thể và luật lệ về việc giữ chay như sau: “Luật Thiên Chúa buộc tất cả mọi Kitô hữu phải làm việc sám hối, mỗi người theo cách thức của mình, nhưng để mọi người được hiệp nhất trong cách tuân giữ chung việc sám hối, luật quy định những ngày sám hối, và trong những ngày ấy, các Kitô hữu phải cầu nguyện cách đặc biệt, phải thực hành việc đạo đức và bác ái, phải từ bỏ chính mình bằng cách chu toàn nghĩa vụ của mình cách trung thành hơn, và nhất là bằng cách giữ chay và kiêng thịt, chiếu theo quy tắc của các điều khoản sau đây” (Giáo luật, khoản 1249). Khoản luật 1252 nói về việc ăn chay như sau: “... Nhưng phải kiêng thịt và ăn chay trong ngày thứ tư Lễ Tro và thứ sáu kính cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta”. Khoản 1252 nói tiếp: “Những người đã được 14 tuổi trọn buộc phải giữ luật kiêng thịt, nhưng tất cả mọi người từ tuổi thành niên cho đến khi bắt đầu được sáu mươi tuổi phải giữ luật ăn chay. Tuy nhiên, các vị chủ chăn các linh hồn và các bậc cha mẹ phải liệu sao để cả những người được miễn khỏi giữ luật ăn chay kiêng thịt vì lý do tuổi tác cũng được giáo dục về ý nghĩa đích thực của việc sám hối”. Khoản luật 1253 nói thêm: “Hội đồng Giám Mục có thể ấn định rõ ràng hơn những thể thức ăn chay và kiêng thịt. Cũng như những hình thức sám hối khác, nhất là những công việc bác ái và những việc đạo đức có thể thay thế toàn phần hay một phần việc kiêng thịt và ăn chay”.
Với các điều khoản của Bộ Giáo Luật vừa được ghi lại trên đây, chúng ta nhận ra mấy điểm này về việc ăn chay: trước tiên việc ăn chay nằm trong sinh hoạt sám hối của Giáo Hội và của mọi tín hữu. Đó là một sinh hoạt không thể thiếu được trong đời sống đức tin như Phúc âm đã kêu gọi chúng ta ngay từ những trang đầu của Phúc âm. Việc ăn chay được thích nghi với hoàn cảnh xã hội thời đại chúng ta, nhưng vẫn còn một số ngày tối thiểu. Tuy nhiên tín hữu vẫn được khuyến khích để thực hành trong những hoàn cảnh khác thích hợp với mình. Đồng thời việc ăn chay cần được tăng giá trị từ tâm thức sám hối chân chính bên trong. Sau cùng việc ăn chay là một giới hạn đối với cá nhân, nhưng lại là một thúc đẩy tín hữu mở rộng lòng mình ra với người nghèo khổ qua các việc bác ái. Như vậy việc bác ái như là một hình thức tích cực của việc ăn chay, hay đó là ăn chay cách tích cực.
Nhưng các khoản luật ban hành năm 1983 này đã được gợi hứng từ giáo huấn Kinh Thánh và các Giáo phụ, cũng như truyền thống Kitô giáo, và gần nhất là Tông hiến “Hãy Thống Hối” (Paenitemini) của Vị Tôi Tớ Chúa, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ban hành ngày 17-2-1966. Trong Tông hiến này, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã trình bày giáo huấn ngàn đời của Giáo Hội về việc thống hối; sự cần thiết và tính cách thời sự của việc thống hối trong thời đại chúng ta và sau cùng Tông hiến bàn về các hình thức biểu lộ sự thống hối trong Giáo Hội, mà việc ăn chay là một trong những hình thức truyền thống căn bản. Chúng ta đọc lại một đoạn của Tông hiến này để hiểu thêm về việc thống hối, việc sửa phạt thân xác qua hình thức ăn chay: “Trong đức tính chính truyền liên hệ tới việc thống hối kỷ luật “khổ chế” (asceseos), bao gồm cả việc sửa phạt thân xác, không thể được bỏ qua. Bởi vì tất cả con người – nghĩa là linh hồn và thân xác – và con người lại có bản tính mang lý trí, như Kinh Thánh nhắc nhở cho biết – phải lo thực hành việc tập luyện thánh thiện này, nhờ đó, mọi vật được tạo dựng xác quyết sự thánh thiện và uy quyền của Thiên Chúa. Ngoài ra việc cần phải sửa phạt thân xác, thì đây là một điều hiển nhiên, nếu người ta nghĩ tới thân phận mỏng dòn của bản tính nhân loại, bởi vì sau khi Adong phạm tội, thì xác thịt lại chống đối lại tinh thần, tinh thần cũng chống lại xác thịt... cho dù không bao giờ lên án xác thịt, vì chính Con Thiên Chúa đã mặc lấy xác thịt này. Rồi việc kiềm chế thân xác có mục đích là để con người được giải thoát, vì con người đã bị bại trận vì những dục vọng lăng loàn như là xiềng xích trói buộc họ qua các giác quan của họ, và qua việc “ăn chay nơi thân xác” họ chiếm đoạt lại được sức mạnh, và sau cùng thì nhân phẩm của con người bị hủy hoại vì những điều vô độ, thì được tái tạo qua cố gắng sống tiết độ như là liều thuốc chữa lành”.
Hiến chế về Phụng vụ thánh của Công đồng chung Vaticanô II còn cho chúng ta một ý nghĩa khác về việc ăn chay, nhất là ngày thứ sáu Tuần thánh và thứ bảy Vọng phục sinh. Hiến chế nói: “Tuy nhiên việc giữ chay mang tính cách vượt qua phải được giữ cách nhiệm nhặt, khắp nơi vào ngày Thứ Sáu Chúa chịu thương khó và chịu chết, và nếu tiện cũng phải kéo dài qua Thứ Bảy Tuần Thánh, để tâm hồn người tín hữu được hưởng niềm vui Chúa sống lại một khi được nâng cao và giải thoát” (s. 110). Theo Hiến chế Phụng vụ, thì việc ăn chay còn có ý nghĩa là tham dự vào mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô, cùng chịu khổ với Chúa và cùng hưởng niềm vui phục sinh với Chúa. Ăn chay như là hình thức tham dự vào cuộc thương khó của Chúa và là nguyên nhân của niềm vui lớn lao phục sinh. Điều này thật ý nghĩa với việc ăn chay trong Mùa Chay như Giáo Hội vẫn khuyến khích trong Mùa Chay.
III-VIỆC ĂN CHAY THEO GIÁO HUẤN CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI
Sứ điệp Mùa Chay năm 2009 muốn nói về giá trị và ý nghĩa của việc ĂN CHAY. Đức Thánh Cha nói:
“Trong Sứ điệp theo thông lệ của Tôi về Mùa Chay, năm nay Tôi muốn ngừng lại để suy tư cách đặc biệt về giá trị và ý nghĩa của việc ăn chay.”
Rồi trong tất cả phần tiếp theo của Sứ điệp, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nói về chủ đề này. Những suy tư của Đức Thánh Cha được trình bày cách thật dễ hiểu. Vì thế ở đây chúng ta chỉ cùng nhau đọc lại bản văn của Sứ điệp và thêm vào những gợi ý từ Kinh Thánh, các Giáo Phụ hay từ các Giáo huấn của Giáo Hội, mà không chú giải gì thêm.
A-KINH THÁNH, NHẤT LÀ GƯƠNG CỦA CHÚA GIÊSU DẠY CHÚNG TA VỀ VIỆC ĂN CHAY
Mùa Chay gợi tới 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu đã sống trước khi ra thi hành sứ vụ giảng đạo công khai. Sứ điệp nói:
“Quả vậy Mùa Chay nhắc lại trong tâm trí chúng ta 40 ngày chay mà Chúa Kitô đã sống trong sa mạc trước khi Ngài thi hành sứ mệnh công khai”.
Các Thánh sử Nhất Lãm đã ghi lại cho chúng ta sự kiện Chúa Kitô ăn chay và bị ma quỷ cám dỗ, như Matthêu tường thuật biến cố này (x. Mt 4, 1-2). Sứ điệp gợi ý tới biến cố này như sau:
“Chúa Giêsu đã được Thánh Thần dẫn vào trong sa mạc để bị ma quỷ cám dỗ. Sau khi đã ăn chay 40 ngày và 40 đêm, Ngài cảm thấy đói” (x. Mc 1, 12-13; Lc, 4, 1-2).
Kinh Tiền tụng Chúa Nhật thứ I Mùa Chay gợi hứng từ bản văn Phúc âm liên hệ tới việc Chúa Kitô ăn chay trong sa mạc như sau: “Khi nhịn ăn bốn mươi đêm ngày, Người đã nêu gương chay tịnh, và khi phá vỡ mưu chước của con rắn xưa, Người dạy chúng con thắng mọi cơn cám dỗ; để khi cử hành mầu nhiệm Vượt qua với tâm hồn trong sạch, chúng con có thể tới dự lễ Vượt qua muôn đời”.
Gương trong Cựu Ước:
Nhưng ngay từ trong Cựu Ước chúng ta cũng đã thấy ghi lại những gương ăn chay và nối kết sự việc này với các sứ vụ mà những người của Chúa sẽ thực hiện. Sứ điệp gợi ra hai nhân vật, đó là Ông Maisen và Ngôn sứ Êlia.
Chúng ta còn nhớ trường hợp Ông Maisen, trước khi lãnh nhận các Tấm đá chứa đựng Lề Luật (x. Xh 34, 28). Sứ điệp nói:
“Như Ông Maisen trước khi lãnh nhận các Bia Đá ghi khắc Lề Luật (x. Xh 34, 28)”.
Sách Xuất Hành thường thuật lại sự việc liên hệ với ông Maisen như sau: “Chúa nói với Ông Maisen: Hãy ghi khắc những lời này bởi vì chính trên căn bản những lời này mà Ta ký kết với ngươi một khế ước, cũng như với dân Israel. Vậy Ông ở trên đó với Chúa 40 ngày và 40 đêm. Ông không ăn bánh cũng như không uống nước. Ông ghi các lời đó trên các tấm bảng, những lời của Giao Ước, tất cả là 10 lời” (Xh 34, 27-28).
Còn tiên tri Êlia trước khi gặp Thiên Chúa trên núi Oreb (x. 1 V 19, 8) cũng đã lên núi ăn chay. Sứ điệp nói:
“Như Ông Êlia trước ghi gặp gỡ Thiên Chúa trên núi Oreb (x. 1 V 19, 8)”.
Sách Các Vua quyển thứ nhất tường thuật sự việc Thiên Chúa gọi ông Êlia làm ngôn sứ cho dù Êlia sợ hãi hoàng hậu Jezabel đang tìm giết và ông chạy trốn lên núi Oreb. Ông được thiên sứ nuôi dưỡng bằng bánh và có sức đi suốt 40 đêm ngày cho tới khi tới núi Oreb (x. 1V 19, 1-8).
Thánh Giêrônimô viết về việc ăn chay trong khi trưng dẫn gương của ông Maisen và ông Êlia như sau: “Sau khi đã suy nghĩ chín chắn và cẩn trọng thì con hãy mang lấy khí giới của việc ăn chay và cùng với Vua Đavit hát lên rằng: ‘Con đã đem hồn con xuống thấp trong việc ăn chay của con’ (Tv 34, 13); và rồi chỗ khác ‘Con đã ăn tro như bánh của con’ (Tv 101, 10); và chỗ khác ‘Khi họ làm khổ con, thì con mặc lấy áo nhặm’ (Tv 34, 23). Bà Eva đã bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng vì một của ăn; ông Êlia đã ăn chay 40 ngày, và ông đã được cất nhắc lên trời bằng cỗ xe bằng lửa; Ông Maisen suốt 40 ngày 40 đêm được nuôi dưỡng bằng sự thân mật với Thiên Chúa và bằng lời của Ngài, và như vậy ông làm chứng là đúng thực nơi ông, lời nói: “Người ta không chỉ sống bằng bánh mà thôi, nhưng còn bởi lời từ miệng Thiên Chúa phán ra (Mt 4, 4)”
Liền theo hai gương trong Cựu Ước, Sứ điệp nói ngay tới Chúa Giêsu, dù trước đây đã có gợi ý rồi. Điều này cho thấy tính cách liên tục giữa Cựu Ước và Tân Ước, cũng như xác tín lại giáo huấn của Chúa về việc ăn chay, bằng chính gương sống của Ngài. Sứ điệp nói:
“Chúa Giêsu qua cầu nguyện và ăn chay đã chuẩn bị cho sứ vụ của mình, mà khởi đầu sứ vụ này là một cuộc đụng độ thật cam go với kẻ cám dỗ mình”.
(còn tiếp một kỳ)
Đức ông Khả Phanxico- 2009