dongcong.net
 
 

Giáng Sinh An Bình


SUY NIỆM GIÁNG SINH 2012:

XIN THIÊN CHÚA BAN CHO CHÚNG TA ĐƯỢC HƯỞNG PHÚC BÌNH AN!



... Một ”cú sét” nổ tung vào Giáng Sinh 2002 đưa ông Laurent đến việc tin nhận THIÊN CHÚA hiện hữu và xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo thánh thiện duy nhất và tông truyền. Ông Laurent người Pháp 56 tuổi và hiện sống tại thủ đô Paris. Xin nhường lời cho ông.

Lễ Giáng Sinh 2002 - vì công ăn việc làm - tôi sống một mình ở ngoại quốc. Cũng chính năm ấy, một quả bom nguyên tử ném xuống người tôi:
- Ái nữ tôi, vâng đúng thế, ái nữ của tôi xin vào Đan Viện Kín!

Nhận tin sét đánh ấy, bị tính tò mò thôi thúc, và vì hoàn toàn mù tịt về nếp sống chiêm niệm, tôi quyết định liên lạc với một đan viện mà một người bạn từng nói với tôi. Tôi xin đến sống tại đan viện trong vòng mấy ngày.

Nơi đây, điều mà đối với tôi luôn luôn là chuyện phi lý - về sự hiện hữu của THIÊN CHÚA - bỗng trở thành một sự thật hiển nhiên: Không thể xác nhận khác đi được!

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình bài tôn giáo. Điểm tham chiếu duy nhất của tôi lúc còn nhỏ tuổi chính là mấy đứa bạn học của tôi:
- Chúng nó đe dọa rằng chắc chắn tôi sẽ rơi thẳng xuống hỏa ngục nếu tôi không chịu đi học giáo lý!!!

Khi tôi cưới Maryse làm vợ - nàng là tín hữu Công Giáo - tôi không muốn có hôn lễ tôn giáo. Nhưng nàng cương quyết xin rửa tội cho hai đứa con, mặc dầu biết rõ chúng tôi sẽ không giáo dục chúng lớn lên trong Đức Tin.

Chúng tôi đâu ngờ rằng, chính nhờ bí tích Rửa Tội mà tất cả bắt đầu từ đó! Bởi vì, đúng 20 năm sau, đứa con gái duy nhất của chúng tôi, sau cuộc hành trình cá nhân - mà tôi hoàn toàn không thể hiểu được - đã báo cho chúng tôi biết quyết định trở thành Nữ Tu Kín!

Cùng với hiền thê, chúng tôi hiểu đây không phải là cuộc khủng hoảng của lứa tuổi dậy-thì theo như chúng tôi từng biết! Chúng tôi sững-sờ tham dự vào các ước nguyện của con cũng như các vấn nạn về ơn gọi của con. Bị xáo trộn tận tâm linh đến độ tôi không thể nào loan báo tin này cho gia đình biết, bởi lẽ chắc chắn không ai hiểu được. Thêm vào đó, con gái tôi lại là cháu gái duy nhất của Ông Nội nó ..

Thế là, vào dịp Lễ Giáng Sinh năm 2002 ấy, tôi đã chia sẻ đời sống cầu nguyện và lao công của các đan sĩ. Tôi trao đổi thật lâu với Cha Bề Trên đan viện và tiếp nhận sự hiện hữu của THIÊN CHÚA như một luồng sáng, chiếu soi cho nhãn quan của tôi về thế giới và về các biến cố trong cuộc đời tôi.

Trở về Pháp, tôi bắt đầu cuộc hành trình của một tân dự dòng, được đồng hành bởi một Nữ Tu thuộc Cộng Đoàn của con gái tôi. Tôi lãnh bí tích Rửa Tội vào Đêm Vọng Phục Sinh 2010 và năm nay 2012, hiền thê tôi và tôi, chúng tôi làm lễ cưới theo phép đạo thánh Công Giáo, dưới cái nhìn chứng giám của ái nữ chúng tôi, được Mẹ Bề Trên cho phép đặc biệt về tham dự lễ hôn phối của Song Thân.

Một cuộc hoán cải đổi đời như thế làm đảo lộn tất cả. Dĩ nhiên, tôi còn phải học cho biết phải đặt trọn cuộc đời tôi trong bàn tay THIÊN CHÚA. Về điều này thì tôi nương tựa nơi sự hiệp thông của các thánh, cậy dựa vào lời cầu nguyện của tất cả những ai tháp tùng tôi trên hành trình Đức Tin, đặc biệt là hai vị Linh Mục kết nghĩa thân hữu với vợ chồng chúng tôi. Một vị chia sẻ tình yêu của chúng tôi dành cho nước Nga. Một vị vẫn trung tín liên hệ với chúng tôi kể từ những tháng ngày chúng tôi sống tại Burundi nơi lục địa Phi Châu.

THIÊN CHÚA từ rất lâu đã chuẩn bị các con đường của Người. Hồng Ân THIÊN CHÚA bao la. Muôn đời con sẽ ngợi ca ơn Người.

... Bấy giờ con cái Aharon cất tiếng tung hô, thổi kèn đồng, tạo nên một âm thanh vang dội, để mời gọi dân tưởng nhớ Đấng Tối Cao. Tức khắc toàn dân cùng phủ phục sát đất mà thờ lạy THIÊN CHÚA của họ, là Đấng Toàn Năng và là THIÊN CHÚA Tối Cao .. Bấy giờ ông Simon bước xuống, giơ tay trên toàn thể cộng đồng con cái Israel, và đọc lời chúc lành của THIÊN CHÚA. Một lần nữa dân chúng lại phủ phục, để đón nhận phúc lành từ Đấng Tối Cao:
Giờ đây hãy chúc tụng THIÊN CHÚA muôn loài, Đấng đã làm những điều vĩ đại ở khắp nơi, Đấng đã làm cho đời sống chúng ta nên cao quý ngay từ thưở ta còn trong lòng mẹ, và đối xử với chúng ta theo lòng lân tuất của Người. Xin THIÊN CHÚA ban cho tâm hồn chúng ta niềm hoan hỷ, và cho đời sống chúng ta được hưởng phúc bình an, tại đất Israel đến muôn thưở muôn đời! Xin THIÊN CHÚA hằng tỏ lòng lân tuất với chúng ta, và giải cứu chúng ta trong những ngày chúng ta đang sống! (Sách Huấn Ca 50,16-17+20-24).

(”Prier”, l'aventure spirituelle, No 347, Décembre 2012, trang 7)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

 

TÍN NGHĨA MỌC LÊN TỪ ĐẤT THẤP, CÔNG LÝ NHÌN XUỐNG TỰ TRỜI CAO!



Matusalemme - cậu bé què - và Eliogabalo (Gabalo) là hai thiếu niên nghèo của thành phố. Ngay từ mở mắt chào đời cả hai đã sống nơi Viện Tế Bần.

Một ngày Gabalo cất tiếng hỏi bạn Matusalemme trong khi cả hai cùng chơi tuyết trước cổng vào Viện:
- Bạn có biết ngày mai là lễ Giáng Sinh không?
Matusalemme trả lời ngay:
- A, thật thế sao?
Trả lời xong, cậu bé lại nói tiếp:
- Mà này Gabalo, bạn có tin là Ông Già Noel có thật không?
Gabalo đáp liền:
- Có chớ, Ông Già Noel có thật mà!
Matusalemme lại hỏi:
- Nếu có thật, thì tại sao không bao giờ thấy Ông Già Noel đến đây, nơi căn nhà người nghèo này của chúng mình?
Gabalo giải thích:
- Bạn biết rõ là chúng ta ở một con đường cong queo thật ngoằn-ngoèo mà, có lẽ chính vì thế mà Ông Già Noel không tìm ra!

Gabalo vốn tính lạc quan, luôn luôn chỉ cho Matusalemme thấy khía cạnh tốt đẹp của các sự kiện, ngay cả khi không có khía cạnh nào đẹp cả!

Vào chính lúc ấy thì một chiếc xe hơi tung vào một con chó khiến nó ngã lăn trên tuyết. Gabalo vội chạy đến cứu giúp con chó và thấy rằng con chó đã bị gãy một chân. Gabalo liền lấy một chiếc que nhỏ rồi cột chặt vào chân con chó. Gabalo lại thấy trên cổ con chó có tấm bảng nhỏ cho biết nó thuộc về bác sĩ Carruthers, một vị bác sĩ rất nổi tiếng trong thành phố. Gabalo ôm con chó trên hai tay và đi về phía nhà vị bác sĩ.

Bác sĩ Carruthers có bộ râu dài trắng toát - y như Ông Già Noel - tươi cười đón tiếp Gabalo. Ông vui vẻ hỏi ai đã bó chân cho con chó chặt chẽ tuyệt vời như thế này? Gabalo hãnh diện trả lời: ”Chính con đó!” Rồi cậu bé liến thoắng kể cho vị bác sĩ tốt lành nghe các câu chuyện mà Gabalo từng cứu giúp các con vật và chữa lành các con vật như thế nào. Bác sĩ Carruthers âu yếm nói:
- Con đúng thật là đứa bé giỏi giang, thật tháo vát!
Vừa nói vị bác sĩ vừa nhìn thẳng vào đôi mắt tinh anh của cậu bé nghèo và nói thêm:
- Con có muốn đến đây sống với bác sĩ để con có một người cha rồi con học hành đến nơi đến chốn để trở thành bác sĩ không?

Gabalo ngạc nhiên sững sờ đến độ không thốt nên được lời nào.

Trong phút chốc cậu bé nghĩ đến chuyện rời khỏi Căn Nhà dành cho Người Nghèo để đến đây sống với một người cha và được học hành để trở thành bác sĩ! Cậu bé ấp a ấp úng trả lời:
- Ô, thưa bác sĩ, có, con muốn lắm!

Vừa trả lời xong, niềm vui bỗng tan nhanh nhường chỗ cho cái buồn thăm thẳm nơi ánh mắt. Gabalo nghĩ ngay đến Matusalemme người bạn nhỏ què quặt của mình nơi Viện Tế Bần. Nếu mình ra đi, ai sẽ là người chăm nom săn sóc cho bé Matusalemme? .. Gabalo liền lấy hết can đảm thưa:
- Con xin cám ơn bác sĩ nhiều lắm .. nhưng rất tiếc là con không thể đến ở đây được!

Nói xong, cậu bé lao nhanh ra khỏi nhà, trước khi bác sĩ Carruthers có thể trông thấy đôi hàng nước mắt lăn dài trên đôi gò má của cậu bé vừa thông minh vừa nhân hậu!

Ngay chiều hôm ấy, bác sĩ Carruthers xuất hiện trước cổng Viện Tế Bần trên tay mang đầy các gói quà dành cho các trẻ em nghèo trong Viện. Vừa trông thấy bác sĩ, cậu bé Matusalemme lớn tiếng reo vui:
- Ông Già Noel tới kìa!

Vị bác sĩ tốt lành bật tiếng cười thật to và trong khi trao cho cậu bé một gói quà có đủ màu sắc tươi vui, ông để ý thấy Matusalemme bị què. Ông âu yếm hỏi cậu bé vài câu hỏi. Ngừng một lát, bác sĩ Carruthers nói:
- Bác sĩ quen biết một nhà thương có thể chữa con khỏi tật. Con có bà con hay bạn bè gì không?

Matusalemme vui mừng trả lời ngay:
- Thưa bác sĩ có! Con có Gabalo!

Bác sĩ Carruthers đưa đôi mắt dò xét nhìn Gabalo và hiểu rằng cậu bé từ chối đề nghị đến ở với mình chỉ vì không muốn bỏ rơi người bạn què bé nhỏ đáng thương Matusalemme! Ông quay sang Gabalo và âu yếm hỏi:
- Chính vì người bạn này mà con không muốn đến ở với bác sĩ, có đúng thế không?
Gabalo thành thật thẳng thắn đáp:
- Dạ, đúng như thế. Con là tất cả những gì mà bạn con có được!

Bác sĩ Carruthers vô cùng cảm kích và thật xúc động trước tâm tình cao quý của cậu bé nghèo Gabalo. Ông quyết định chẳng những nhận Gabalo mà còn nhận thêm Matusalemme và đem cả hai về sống nơi nhà mình.

Lần này thì cậu bé Gabalo tốt lành không còn dấu kín những giọt nước mắt nữa. Cậu để cho đôi dòng lệ tự do tuôn trào. Cậu khóc vì tri ân và vì vui mừng. Trong khi đó thì bé Matusalemme vô tư lự đã vỗ tay reo vui vì sung sướng.

Ngay lúc ấy bé Matusalemme không hề biết được rằng một mgày kia mình sẽ được chữa khỏi tật què còn Gabalo thì sẽ trở thành một bác sĩ giải phẫu nổi tiếng. Điều mà cậu bé biết chính là:
- Ông Già Noel đã tìm ra con đường của Viện Tế Bần và đã đến mang mình cùng Gabalo đi.

... ”Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa, và ban ơn cứu độ cho chúng con. Tôi lắng nghe điều THIÊN CHÚA phán, điều Chúa phán là lời chúc bình an cho dân Người, cho kẻ trung hiếu và những ai hướng lòng trí về Người. Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho ai kính sợ Chúa, để vinh quang của Người hằng chiếu tỏ trên đất nước chúng ta. Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hòa bình công lý đã giao duyên. Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp, công lý nhìn xuống tự trời cao. Vâng, chính Chúa sẽ tặng ban phúc lộc và đất chúng ta trổ sinh hoa trái. Công lý đi tiền phong trước mặt Người, mở lối cho Người đặt bước chân” (Thánh Vịnh 85(84),8-14).

(”La Mia Messa”, 1 Ottobre 2012 - 31 Dicembre 2012, Anno VI, vol.IV, Casa Mariana Editrice, trang 474-476)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

 

ƠN THÁNH ĐÊM GIÁNG SINH



Ơn Thánh Đêm Giáng Sinh thì rất nhiều, nhưng đôi khi không được biết. Chỉ xin đan cử trường hợp của hai thánh nữ. Trước hết là thánh nữ Têrêxa Hài Đồng GIÊSU Nhan Thánh (1873-1897). Trong cuốn Hồi Ký ”Một Tâm Hồn” thánh nữ viết.

Tính đa cảm của con đã làm con dở hơi quá; hồi ấy lý lẽ gì đối với con cũng vô ích hết, con đã biết là xấu mà không thể chừa. Như vậy, còn muốn vào Dòng Kín sao được? Phải có phép lạ mới có thể giúp con trong một thời hạn vắn, trở nên người biết điều. Phép lạ mong ước ấy, Đức Chúa Trời đã làm trong ngày không thể quên kia - 25-12-1866. Trong Đêm Sinh Nhật - một Đêm hồng phúc - Chúa Hài Đồng GIÊSU, chỉ trong một giờ, đã đổi hẳn đêm tăm tối u mù của linh hồn con thành những vầng sáng rực rỡ chói lói. Tình yêu vô lượng đã khiến Chúa sinh làm con trẻ ngây thơ yếu ớt, để con là chính kẻ yếu đuối dại dột trở nên mạnh dạn can đảm. Người trao khí giới Người cho con dùng. Với những chiến khí, con bước tới đâu thắng tới đấy, thắng luôn luôn; có thể nói: con có bước đi của tướng đại lộ, thành công nhanh như chớp. Suối lệ từ đó cũng khô, rất khó khóc, rất họa hoằn mới lại khóc .. Chính trong Đêm sáng sủa này đã mở đầu giai đoạn thứ ba trong đời con - một giai đoạn đẹp đẽ nhất, hồng ân nhất.

Ơn Thánh Đêm Giáng Sinh của vị thứ hai là thánh nữ Marie-Eugénie Chúa GIÊSU (1817-1898).

Nữ tu Marie-Eugénie Chúa GIÊSU - tục danh Anne-Eugénie Milleret de Brou - chào đời tại Metz và qua đời tại thủ đô Paris. Chị sáng lập dòng Các Nữ Tu Đức Mẹ Lên Trời (Assomption) và được Đức Thánh Cha Biển Đức XVI tôn phong hiển thánh ngày 3-6-2007.

Anne-Eugénie sinh ra trong một gia đình thượng lưu khá giả nhưng không sống đạo, tuy vẫn được giáo dục trong đạo thánh Công Giáo. Cô thiếu nữ trải qua thời thơ ấu giữa khách sạn của Song Thân ở Metz và lâu đài Preisch nằm gần biên giới Luxembourg.

Giáng Sinh năm 1829, Anne-Eugénie 12 tuổi, chuẩn bị rước lễ lần đầu. Một biến cố trọng đại trong cuộc đời một tín hữu Công Giáo, nhưng cô bé chưa sẵn sàng đón rước Đức Chúa GIÊSU ngự vào lòng, bởi lẽ cô không được chuẩn bị thật chu đáo. Song Thân cô là những người liêm chính và quảng đại nhưng không đặt trọn niềm tin nơi Đức Chúa GIÊSU KITÔ.

Nhưng khoảng trống trong tâm hồn cô bé được chính Đức Chúa GIÊSU Thánh Thể làm tràn đầy khi Người ngự vào lòng lúc cô bé rước lễ lần đầu dịp Lễ Giáng Sinh năm 1829. Sau này, Anne-Eugénie viết: ”Vào chính lúc rước Đức Chúa GIÊSU KITÔ, con cảm nghiệm được sự cao cả vô biên của THIÊN CHÚA và cái bé nhỏ thấp hèn của loài người”. Rồi con như nghe một tiếng phán với con rằng: ”Sẽ đến một ngày con sẽ từ bỏ tất cả những gì con yêu thích để làm vinh danh Thầy và để phục vụ Giáo Hội mà con chưa biết”.

Cuộc gặp gỡ thần bí với Đức Chúa GIÊSU KITÔ Thánh Thể, mật thiết và nhanh chóng, đã biến đổi trọn vẹn con người của Anne-Eugénie. Ngay năm sau - 1830 - cô thiếu nữ chứng kiến cảnh Cha Mẹ ly thân rồi cái chết non trẻ của hiền mẫu vào năm 1832.

15 tuổi đời, Anne-Eugénie sống cô đơn nơi thủ đô Paris với một gia đình giàu sang do thân phụ cô gởi gấm. Bao câu hỏi dày vò tâm trí: ”Tại sao có đau khổ? Sự sống và cái chết có ý nghĩa gì? Sự Thật ở đâu?” Chỉ nhờ duy nhất Ơn Thánh Giáng Sinh nhận lãnh vào ngày rước lễ lần đầu mà cô luôn tâm niệm trong lòng đã gìn giữ cô thiếu nữ không rơi vào hố thẳm tuyệt vọng.

Nhưng ánh sáng chỉ đến vào tháng 4 năm 1836 khi Anne-Eugénie nghe Cha Jean-Baptiste-Henri-Dominique Lacordaire (1802-1861) giảng thuyết mùa chay tại Nhà Thờ Đức Bà Paris. Sau này cô viết cho vị Linh Mục dòng Đa Minh: ”Lời Cha giải thích cho mọi nghi vấn của tư tưởng con và ban cho con một Đức Tin kiên vững mà không còn gì có thể làm con nao núng. Con đã thật sự hồi tâm hoán cải”.

Được củng cố trong Đức Tin, được giải tỏa mọi khúc mắt chính yếu, giờ đây Anne-Eugénie có thể đáp lại Ơn Thánh Giáng Sinh mà cô nhận được vào ngày 25-12-1829.

Ngày 30-4-1839, với 22 tuổi đời, nơi một căn hộ nhỏ ở đường Férou, chỉ cách Saint-Sulpice vài bước, Anne-Eugénie Milleret de Brou thành lập hội dòng các Nữ Tu Đức Mẹ Lên Trời và lấy tên dòng là Marie-Eugénie. Dòng có mục đích đào tạo lòng trí các thanh thiếu nữ để giúp họ trở thành những linh hồn vững mạnh.

Trong một thế giới tục hóa, thánh nữ Marie-Eugénie muốn bảo vệ một nền giáo dục giúp con người sống dưới ánh sáng của Đức Tin. Thánh nữ đã dâng hiến trọn cuộc đời cho công trình giáo dục cho đến khi nhắm mắt lìa đời, hưởng thọ 81 tuổi.

... Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu tỏa chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: ”Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một Tin Mừng trọng đại, cũng là Tin Mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng KITÔ THIÊN CHÚA. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”. Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen THIÊN CHÚA rằng: Vinh danh THIÊN CHÚA trên Trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: ”Nào chúng ta sang Bêlem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết”. Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp Bà MARIA, Ông GIUSE, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. Còn Bà MARIA thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng. Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng THIÊN CHÚA, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ (Luca 2,8-20).

(”PARIS NOTRE-DAME, L'Église en mission à Paris”, Journal du Diocèse de Paris, Hebdomadaire, No 1454, 29 Novembre 2012, trang 6 + ”Một Tâm Hồn”, Kim Thiếu dịch, in lần thứ ba, Nguyệt San Trái Tim Đức Mẹ USA, trang 99-100)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

 

TRUNG THÀNH VÀ CHÂN THẬT



... Cách đây vài năm, vào dịp Lễ Giáng Sinh, tờ ”Ecco tua Madre - Đây là Mẹ con” đăng chứng từ của anh Jean - cựu tù nhân - về một vị Linh Mục anh dũng người Hoa. Vị Linh Mục là đan sĩ cao niên dòng Xitô. Anh Jean là tín hữu Công Giáo người Pháp. Xin giới thiệu trọn chứng từ.

Nơi trại tù lao động cải tạo Trung Cộng ở phía nam Bắc Kinh, vào cuối năm 1961, tôi nhìn thấy vị Linh Mục lần chót. Từ đó đến nay bao năm trôi qua, nhưng cứ mỗi độ Giáng Sinh về, khuôn mặt gầy guộc của vị Linh Mục lão thành người Hoa lại hiện lên rõ nét trong ký ức tôi. Đó là một khuôn mặt nhăn nheo với đôi mắt tinh anh không dễ bị chế ngự. Tôi có cảm tưởng như lại trông thấy vị Linh Mục đứng đó, trong cơn gió lạnh, tay cầm bánh và rượu giơ lên đọc Lời Truyền Phép, với ý thức rõ ràng mình sẽ gặp hiểm nguy nếu bất chợt bị khám phá điều đang làm.

Tôi biết Cha Xuân - tạm gọi tên vị Linh Mục người Hoa - vào đầu năm xa xôi ấy, khi một toán tù nhân đông đảo được chuyển đến trại chúng tôi dưới sự canh chừng khe khắt của ông cai tù tên Giang. Tôi được chỉ định làm trưởng nhóm tù nhân gồm 18 người. Chúng tôi có nhiệm vụ rửa chuồng heo, khuân vác các bao phân bón và chôn cất người chết. Cha Xuân ngủ trên chiếc chiếu nằm bên cạnh tôi.

Ngay từ ngày có mặt giữa chúng tôi, Cha Xuân trở thành đối tượng khiến mọi người phải lo âu. Cha mang dáng dấp của một cụ già thật yếu ớt, vậy thì làm sao có thể chu toàn các công tác lao động vô cùng nặng nhọc? Hơn thế nữa - và đây mới là mối bận tâm lớn lao nhất của chúng tôi - Cha là một đan sĩ Xitô và vì thế, Cha luôn luôn nói với chúng tôi về THIÊN CHÚA. Cha nhắc chúng tôi nhớ rằng THIÊN CHÚA sẽ luôn luôn trợ giúp chúng tôi nếu chúng tôi không đánh mất Đức Tin nơi Ngài.

Mà thật sự thì chúng tôi bỏ mất Đức Tin từ lâu lắm rồi! Chính những người cộng sản vô thần đã nghĩ đến điều này và đã lo liệu cho chúng tôi. Đối với người cộng sản thì tôn giáo là thuốc phiện mê dân, là mê tín dị đoan và nó đã hoàn toàn bị tước bỏ khỏi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc rồi! Nếu có ai còn ngoan cố tin vào sự hiện hữu của một quyền lực cao hơn quyền lực của ông chủ tịch Mao-Trạch-Đông, thì người ấy sẽ bị nghiêm khắc trừng phạt, bị kết án tử! Nói tóm lại, các Kitô hữu bị bách hại cũng chỉ vì cái tội dám công khai thờ lạy THIÊN CHÚA của đế quốc thực dân!

Cha Xuân - là người hơn ai hết - phải biết rõ hiểm nguy đó, vì Cha bị kết án 20 năm tù cải tạo lao động chỉ vì cái tội duy nhất là làm Linh Mục!

Vậy mà Cha không sợ hãi gì hết. Cha cứ tiếp tục cầu nguyện và sống đạo, dũng mạnh y như Kitô Giáo của Cha. Tất cả tù nhân chúng tôi biết thế, nên để Cha yên và dĩ nhiên là tìm cách xa lánh Cha. Chúng tôi đã có quá nhiều nguy hiểm rồi, không cần gánh thêm cái hiểm nguy đến từ tôn giáo của Cha Xuân! Nhưng Cha Xuân không mảy may khiếp sợ. Tôi không biết làm thế nào mà Cha Xuân khám phá ra tôi là tín hữu Công Giáo duy nhất trong nhóm tù nhân, ngoài Cha ra.

Một ngày trong lúc nghỉ xả hơi, Cha Xuân tiến lại gần tôi và nói:
- Con vẫn luôn là tín hữu Công Giáo tốt phải không? Nhất là con vẫn giữ đạo trong lòng phải không?

Tôi mệt mỏi cau có trả lời:
- Tôi là tù nhân, ông lão ơi! Hãy để tôi yên thân!

Cha Xuân có vẻ như không nghe lời tôi nói nên vẫn tiếp tục:
- Chúng ta có thể cầu nguyện chung, Jean à! Rồi Cha cũng có thể nghe con xưng tội nữa!

Tôi tỏ ra sừng sộ - vì sợ mấy tù nhân chung quanh có thể nghe lời ông cụ già điên khùng này - nên tôi nói:
- Nếu ông muốn tự đưa đầu cho người ta chém thì đó là chuyện của ông. Còn tôi, tôi muốn cứu lấy mạng sống tôi. Ông có hiểu không?

Nhưng lời nói vô lễ của tôi vẫn không làm Cha Xuân phật ý. Cha dịu dàng tiếp tục:
- Không sao hết con à, Cha hiểu! Cha chỉ muốn con nhớ rằng Cha là bạn của con.

Rồi Cha Xuân lãng ra xa để lấy cái bao phân bón mang đi. Đôi môi Cha mấp máy đọc lời Kinh Mân Côi.

Mặc dầu thân xác gầy gò ốm yếu, nhưng người ta không thể hiểu được làm sao mà Cha Xuân lại có thể gánh hai bao phân - mỗi bao nặng 35 ký - và bước đi trên đường đất gồ ghề. Người Cha như gập làm đôi dưới sức nặng quá lớn. Chưa hết. Chẳng những Cha thi hành công tác dành cho Cha mà còn làm thêm công tác của những người ốm yếu hơn Cha! Thật là chuyện không thể tưởng tượng được! Có lần một người trong chúng tôi đặt câu hỏi:
- Ai biết điều gì ban sức mạnh cho cụ già vẫn tiếp tục tiến bước không?

Một người nhanh nhẹn trả lời:
- Chính THIÊN CHÚA! Khi ông cai tù không canh gác thì THIÊN CHÚA ngự xuống và vác cái bao phân bón cho cụ già!

Câu giải thích khiến mọi người cất tiếng cười vang. Chúng tôi có rất ít dịp để cười! Chúng tôi lao động từ sáng sớm tới chiều tối mà phần ăn thì thật ít ỏi. Tối đến thì ngủ trong cái chòi giam đầy dẫy ruồi muỗi kêu vo ve. Mỗi ngày đều phải chôn cất người chết. Chúng tôi phải mang xác chết leo lên đồi để chôn ở nghĩa trang.

Mùa hè năm ấy tôi nghĩ là đã đến lượt tôi sẽ được chôn cất nơi nghĩa trang. Tôi bị suy nhược vì lao động quá mức và vì thiếu dinh dưỡng. Tôi bị ngất xỉu nhiều lần nên được mang lên bệnh xá. Trong mấy ngày liền tôi mê man bất tỉnh.

Rồi một đêm, khi tỉnh lại, tôi thấy Cha Xuân đang ngồi cạnh tôi và quạt gió mát lên mặt tôi. Cha lén lút đút vào miệng tôi cháo nóng được nấu bằng gạo và rau. Sau mỗi muỗng cháo, tôi cảm thấy như sức lực dần dần hồi phục trong tôi. Rồi Cha Xuân thì thầm vào tai tôi:
- Họ có thể hành hạ và giết chết thân xác chúng ta, con à. Nhưng họ không thể nào chạm đến linh hồn chúng ta. Chính chúng ta có nhiệm vụ gìn giữ linh hồn chúng ta. Hơn thế nữa, còn có Đức Mẹ MARIA trợ giúp chúng ta.

Sau đó Cha Xuân còn đến thăm tôi ba lần nữa và mỗi lần đều mang theo cháo nóng. Chỉ vào tháng 9 khi đủ sức trở lại lao động với nhóm tù nhân, tôi mới biết Cha Xuân đã thành công trong việc cổ động các tù nhân khác tìm kiếm rau cỏ ăn được trong các giờ nghỉ, còn chính Cha thì lén lút lấy trộm mỗi khi một ít gạo, rồi để dành cho đến lúc đủ số lượng nhỏ thì bắt nồi lên nấu cháo. Tôi cảm động cám ơn Cha Xuân và hổ thẹn vì đã cư xử bất nhã bất kính đối với vị Linh Mục lão thành.

Một ngày, Cha Xuân kể cho tôi nghe câu chuyện Cha bị bắt giam.

Vào năm 1947, mấy người cộng sản hùng hổ tiến vào chiếm quyền cai trị nơi thành phố quê sinh của Cha. Cha vắng mặt ở Đan Viện Xitô, và lúc trở về thì thấy các anh em đan sĩ đã bị giết chết, còn đan viện thì bị đập phá tan tành. Các người lính cộng sản sát máu trông thấy Cha liền bắt Cha tống giam. Sau khi bị tra khảo trong vòng 2 năm trời, Cha bị kết án 20 năm tù ”cải tạo bằng lao động”. Nghe xong tôi nhẹ nhàng nhận xét:
- Thôi thì ít ra là Cha vẫn còn sống!

Cha nhìn thẳng mặt tôi và nói:
- Cha còn sống bởi vì Chúa muốn thế. Cha tin rằng Chúa muốn trao cho Cha một sứ vụ. Nếu không phải như thế thì Cha ao ước được thông phần số phận của các đan sĩ anh em của Cha hơn!

Tháng 11 cùng năm ấy - 1961 - ông cai tù Giang chỉ định tôi làm trưởng nhóm tù nhân có nhiệm vụ chuẩn bị cánh đồng lúa ở trại 23. Một thời ngắn sau đó ông gọi tôi đến và nói rằng có người báo cáo cho ông biết là Cha Xuân cầu nguyện lén lút vào ban đêm. Rồi ông hét lớn:
- Có đúng vậy không?

Tôi mỉm cười nói vớt vát:
- Không phải vậy đâu, đó chỉ là chuyện một ông già lao lực suốt ngày nên đêm đến thì mệt mỏi và nói ú ớ trong giấc ngủ thôi!

Ông Giang nhìn chằm chặp mặt tôi dò xét hồi lâu rồi nói với giọng hăm dọa:
- Nếu ngày nào tôi biết được là ông ấy đọc kinh thì tôi sẽ nghiêm khắc trừng phạt cả nhóm và đặc biệt là hai người. Phải nói cho ông ta biết như thế.

Vừa về đến chòi giam tôi tìm gặp ngay Cha Xuân và nói:
- Xin Cha ý tứ. Con có thể bị biệt giam vài tháng. Nhưng Cha thì .. mạng sống lâm nguy.

Cha Xuân bình thản nhìn tôi và nói:
- Mạng sống của Cha quan trọng đến thế sao?

Rõ thật khổ, không có cách gì làm cho cụ già này lý luận bình thường được!

Tháng 12 đến. Trời lạnh cắt da và gió buốc thổi từ đông bắc đến. Một ngày gần cuối tháng 12, Cha Xuân tìm đến gặp tôi nơi bờ ruộng và hỏi xem Cha có thể nghỉ ngơi vài phút không. Tôi nói:
- Còn chút nữa thì đến giờ nghỉ. Cha không đợi được sao?

Cha đáp:
- Không, bởi vì sau đó thì tới giờ lính canh đến.

Có lẽ Cha muốn nói thêm điều gì đó nhưng không biết nói sao nên Cha hỏi tôi:
- Con có biết hôm nay ngày gì không?

Tôi khó chịu trả lời:

- Thứ hai 25 tháng 12!

Nói xong tôi bỗng im lặng vì trong tích-tắc tôi hiểu rằng, không phải chỉ là Lễ Giáng Sinh mà là cụ già muốn cầu nguyện! Tôi nói gần như khẩn khoản:
- Cha biết rõ đây là hiểm nguy mà!

Cha Xuân bình tĩnh nói:
- Nhưng Cha phải cầu nguyện. Rồi Cha cũng muốn con cầu nguyện với Cha nữa, bởi vì chỉ với riêng hai chúng ta thì ngày này mới có một ý nghĩa gì đó. Đức Chúa GIÊSU đã sinh ra từ Đức Trinh Nữ MARIA!

Tôi nhìn quanh quất. Không thấy lính canh, còn tù nhân gần nhất thì đang đứng ở giữa đường từ trại đến. Tôi nói:
- Cha xuống cái hố khô nước đi. Con chỉ cho Cha 15 phút thôi. Không hơn đâu nhé!
Cha hỏi:
- Con không xuống sao?
Tôi đáp:
- Con đứng ở đây!

Thật là những giây phút kinh hoàng tiếp theo đó. Cứ mỗi lần nghe tiếng gió rít, tôi có cảm tưởng như nghe tiếng hét của lính canh. Thế rồi, không hiểu một cái gì đó giúp tôi thắng vượt nỗi sợ hãi và đẩy nhanh tôi xuống cái hố. Và điều tôi trông thấy như muốn đè bẹp tôi.

Lần đầu tiên từ bốn năm qua - tôi quên bẵng ông cai tù Giang và trại tù - để chỉ còn nhớ thế nào là điều thật ý nghĩa khi tin tưởng vào một cái gì đó cao cả hơn là cuộc sống bình thường.

Dưới cái hố khô nước, Cha Xuân đang cử hành Thánh Lễ. Thánh Đường là mảnh đất hoang nằm ở miền Bắc Trung Quốc. Bàn Thờ là cụm đất cứng lạnh. Áo Lễ là chiếc áo tù nhân. Chén Lễ là cái tách bể. Rượu Lễ được vắt từ mấy trái nho được cẩn thận cất giữ. Bánh Lễ là một miếng bánh khô. Không có nến cháy nhưng thay vào đó là cành củi cháy. Ca Đoàn là tiếng gió rít liên tục như làm thành bản Thánh Thi. Hình như ngọn lửa nhỏ mang lời cầu nguyện của vị Linh Mục lão thành anh dũng bay đến tận Trời Cao và ngọn gió mang đi phân phối đến tận bốn gốc bể chân trời.

Trong phút chốc tôi bỗng cảm thấy niềm ao ước sâu xa được san sẻ Đức Tin của Cha Xuân. Tôi nghĩ rằng không nơi nào trên thế giới, kể cả trong những thánh đường đồ sộ nguy nga nhất của Kitô Giáo, không ai có thể cử hành - vào đúng ngày Lễ Giáng Sinh - một Thánh Lễ ý nghĩa như thế.

Một cách vô thức không ngờ, tôi bỗng cất cao lời thánh thiêng:
- Et cum spiritu tuo - Và ở cùng Cha!
Không hề lộ vẻ ngạc nhiên Cha Xuân đọc tiếp như khích lệ tôi:
- Ite Missa est - Lễ đã xong!
Miệng tôi phát ra lời kinh tưởng chừng như quên bẵng từ rất lâu:
- Deo gratias - Tạ ơn Chúa!

Thánh Lễ đã kết thúc.

Cha Xuân nói với tôi:
- Chúa sẽ tha thứ cho chúng ta và hiểu rằng chúng ta không thiếu sự tôn kính. Đây chỉ là cách thức thích hợp nhất cho hoàn cảnh của chúng ta!

Tôi thấy cổ họng nghẹn cứng. Nỗi sợ hãi lớn lao nhất của Cha Xuân không phải là sợ bị bắn chết mà là sợ xúc phạm đến THIÊN CHÚA! Sau cùng, điều

mà vị Linh Mục lão thành cố gắng làm cho tôi hiểu suốt trong thời gian này chính là:
- Sự sống còn - như bất cứ loài động vật nào - tạo nên từ sự khéo-léo ma-lanh và làm cho khiếp đảm, thì không thể đủ cho con người. Con người cần phải có cái gì khác bên trên chính con người để có thể sống còn, như một giấc mơ, một niềm tin chẳng hạn.

Tôi nói với Cha Xuân:
- Con tin là Chúa sẽ hiểu và sẽ tha thứ cho chúng ta.
Cha Xuân đáp:
- Cám ơn con, Jean à! Xin THIÊN CHÚA bảo vệ con. Xin Đức Mẹ MARIA chúc lành cho con.

Và lần đầu tiên kể từ bốn năm qua, tôi tin rằng lời Cha Xuân nói đã ứng nghiệm. Vừa lúc đó thì tôi trông thấy ông cai tù tên Giang đang đạp xe về hướng cái hố khô nước. Trong chớp nhoáng tôi đủ giờ để nhảy xuống hố và làm bộ giơ tay trên ngọn lửa như tìm cách sưởi ấm, trước khi ông ta kịp nhìn xuống hố nghi ngờ dò xét. Ông ta hạch hỏi:
- Mấy người làm gì dưới hố?
Tôi trả lời đánh trống lãng kèm theo nụ cười ngây thơ:
- Cụ già muốn làm chút lửa để sưởi ấm.
Ông Giang hét lớn:
- Công việc chỉ được ngừng khi đến giờ nghỉ, chứ không phải trước giờ nghỉ! Hãy trở lại với công việc đang làm!

Vài ngày sau biến cố trên đây diễn ra cuộc thay đổi và di chuyển tù nhân.

Cha Xuân không còn ở chung đội tù với tôi nữa. Và từ đó trở đi tôi không còn trông thấy Cha Xuân nữa. Nhưng cái ngày đáng ghi nhớ ấy vẫn ghi khắc trong ký ức tôi suốt trong thời gian kinh hoàng còn lại của cuộc sống lao động tù đày. Nó nằm sâu nơi một góc nhỏ an toàn kín ẩn trong trái tim tôi mà không một ai có thể lọt vào, kể cả ông cai tù Giang và các tên lính canh. Thật an toàn và không sợ hãi.

Có lẽ hôm nay khi tôi viết những hàng này thì Cha Xuân vẫn còn sống. Hay có lẽ Cha đã trở thành người thiên cổ. Nhưng cho dầu những người cộng sản Trung Hoa đã giết chết Cha, thì họ cũng chỉ có thể giết chết thân xác Cha mà thôi, còn hồn thiêng bất tử của Cha, họ vẫn không thể nào chạm tới.

... ”Bấy giờ tôi thấy Trời rộng mở: kìa một con ngựa trắng, và người cỡi ngựa mang tên là ”Trung Thành và Chân Thật”, Người theo công lý mà xét xử và giao chiến. Mắt Người như ngọn lửa hồng, đầu Người đội nhiều vương miện, Người mang một danh hiệu viết trên mình, mà ngoài Người ra chẳng ai biết được. Người khoác một áo choàng đẫm máu, và danh hiệu của Người là: ”Lời của THIÊN CHÚA”. Các đạo quân thiên quốc đi theo Người, họ cỡi ngựa trắng, mặc áo vải gai mịn trắng tinh. Từ miệng Người phóng ra một thanh gươm sắc bén để chém muôn nước. Chính Người sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt chúng. Người đạp trong bồn đạp nho chứa thứ rượu là cơn lôi đình thịnh nộ của THIÊN CHÚA Toàn Năng. Người mang một danh hiệu viết trên áo choàng và trên vế: ”VUA các vua, CHÚA các chúa” (Sách Khải Huyền 19,11-16).

(”PRO DEO ET FRATRIBUS - Famiglia di Maria”, Veniva nel mondo La Luce Vera, Novembre/Dicembre 2009, Publicazione mensile, Anno 20, N 144-145, trang 8-13)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

 

 

-dongcong.net sưu tầm 25 tháng 12-2012

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)