|
7 nguyên nhân chính khiến cơ thể bạn thiếu vitamin D
Theo Tri Thuc Tre
Cơ thể bạn có thể bị thiếu vitamin D do ít tiếp xúc với ánh mặt trời. Tuy nhiên, đây không phải là lý do duy nhất khiến bạn thiếu vitamin D.
Bạn có nghĩ rằng mình bị thiếu vitamin D hay không? Chắc chắn bạn cho rằng mình vẫn tiếp xúc với ánh mặt trời hàng ngày thì không thể thiếu vitamin D được. Tuy nhiên, thực tế là bạn không biết mình hấp thụ được bao nhiêu vitamin D cho cơ thể và kết quả là rất nhiều người trong chúng ta rơi vào tình trạng thiếu vitamin D ở các mức độ khác nhau.
Vitamin D vẫn được coi là vitamin dành cho xương vì nó làm chắc và khỏe xương. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng chứng minh rằng những người đủ vitamin D thường xuyên sẽ ít bị bệnh tim mạch và biến chứng bàn chân do tắc mạch hơn những người thiếu vitamin D trong cơ thể.
Nếu nói rằng ánh mặt trời có tác dụng giúp cơ thể bạn hấp thụ vitamin D thì cũng có nghĩa là cơ thể thiếu vitamin D do ít tiếp xúc với ánh mặt trời. Tuy nhiên, đây không phải là lý do duy nhất khiến bạn thiếu vitamin D.
Một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thiếu vitamin D bao gồm:
1. Hạn chế tiếp xúc với ánh mặt trời
Các nguồn chính của vitamin D là từ ánh nắng mặt trời tự nhiên vì vậy nếu hạn chế tiếp xúc với ánh mặt trời sẽ có tác động lớn đến lượng vitamin hấp thụ vào cơ thể. Chúng ta đã nghe về sự nguy hiểm của bệnh ung thư da và sự cần thiết của kem chống nắng để bảo vệ chúng ta khỏi bệnh này. Thật không may, mối nguy hiểm của việc không nhận đủ vitamin D từ ánh nắng mặt trời lại không được nhiều người quan tâm.
Sử dụng kem chống nắng có độ SPF 30 có thể làm giảm sự tổng hợp vitamin D trong da tới hơn 95%. Thậm chí nếu bạn có tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, tổng lượng vitamin D cũng còn phụ thuộc vào mùa và thời tiết. Nếu thời tiết u ám, lượng vitamin D từ thiên nhiên sẽ không cao. Tuy nhiên, nếu bạn thường xuyên tiếp xúc ánh mặt trời vào những lúc nắng nóng gay gắt thì lại có thể ảnh hưởng đến da, có thể là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư da.
Vì vậy, bạn chỉ nên tiếp xúc ánh mặt trời 10-15 phút mỗi ngày hoặc vài lần/tuần để hấp thụ những vitamin D từ tự nhiên một cách tốt nhất.

2. Màu sắc của làn da
Melanin là hợp chất quyết định màu sắc của da bạn, những người có hàm lượng melanin ít thì da sẽ sáng màu, nhiều thì da sẽ sẫm màu hơn. Melanin có thể hấp thụ bức xạ tia UVB từ mặt trời và làm giảm khả năngíaản xuất vitamin D3 của da. Những người có làn da tự nhiên sẫm màu sẽ có thể tự bảo vệ da tốt hơn nhưng lại hấp thụ được ít vitamin D từ ánh mặt trời hơn so với những người có làn da trắng từ 3-5 lần.
Vì vậy, nếu bạn có làn da tối màu và ít tiếp xúc với ánh mặt trời thì bạn càng có nguy cơ cao thiếu vitamin D.
3. Béo phì
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa chỉ số BMI và nguy cơ thiếu vitamin D ở con người, trong đó chỉ số BMI cao dẫn tới giảm nồng độ vitamin D trong cơ thể. Những đối tượng thừa cân và béo phì (có chỉ số BMI trên 40) sẽ có lượng vitamin D trong cơ thể ít hơn 18% so với những người có chỉ số BMI dưới 40.
Nhà nghiên cứu chính, tiến sĩ Elina Hypponen thuộc Viện Sức khỏe trẻ em Đại học London cho rằng những nỗ lực giải quyết tình trạng béo phì cũng có thể giúp giảm mức độ thiếu hụt vitamin D.
4. Cơ thể kém hấp thu
Một số người bị coi là kém hấp thụ vitamin D do họ mắc các bệnh như Crohn, celiac... Những người đã từng phẫu thuật giảm béo cũng thường không thể hấp thụ đủ vitamin D do các chất béo hòa tan vitamin D trong cơ thể bị thiếu hụt.

5. Tuổi tác
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng cùng với sự hấp thụ vitamin D có mối liên hệ mật thiết với tuổi tác. Khi càng về già, cơ thể bạn càng giảm khả năng tổng hợp vitamin D khi tiếp xúc với ánh mặt trời và từ thực phẩm, do đó nguy cơ thiếu vitamin D của bạn cũng cao hơn so với khi bạn còn trẻ.
6. Dùng một số loại thuốc trị bệnh
Một loạt các loại thuốc, kể cả thuốc kháng nấm, thuốc chống co giật, glucocorticoid và các loại thuốc điều trị HIV/AIDS... đều có thể tăng cường sự phân hủy của vitamin D khiến cho lượng vitamin D hấp thụ vào cơ thể không được nhiều. Ngoài ra, những người mắc các bệnh như bệnh thận mãn tính, cường giáp, rối loạn u hạt mãn tính và một số bệnh liên quan đến tế bào bạch huyết... cũng bị mất mát một số lượng vitamin trong quá trình chuyển hóa và hấp thụ từ ánh mặt trời hay các sản phẩm bổ sung vitamin D khác.
7. Không thường xuyên ăn các thực phẩm chứa vitamin D
Ngoài ánh mặt trời, vitamin D còn có nhiều trong các loại thực phẩm bạn ăn hàng ngày. Vì vậy, việc bổ sung vitamin D từ thực phẩm cũng là hết sức quan trọng và cần thiết. Nếu bạn tuân thủ chế độ ăn uống nghiêm ngăt, bỏ qua nhiều loại thịt, sữa động vật thì sẽ có nguy cơ thiếu hụt một lượng vitamin D lớn.
Nguồn thực phẩm giàu vitamin D bao gồm: cá, dầu cá, gan bò, pho mát và lòng đỏ trứng...
sưu tầm
January 13, 2015
Cách bổ sung vitamin D tự nhiên
- Vitamin D rất cần thiết cho cơ thể. Thiếu Vitamin D bạn dễ các bệnh ung thư, trầm cảm, tim mạch, tiểu đường, tăng cân…
Vitamin D giúp cơ thể bạn hấp thụ Calcium. Nếu không có Vitamin D thì khung xương của bạn dễ bị mềm yếu . Ở người trưởng thành, quá ít vitamin D có thể dẫn đến xương bị thay đổi và loãng xương. Ở trẻ em, thiếu hụt Vitamin D dễ gây ra tình trạng còi xương, các bệnh tật về xương, đây là một vấn đề lớn trong sức khỏe cộng đồng.
Lượng Vitamin D thấp trong máu sẽ ảnh hưởng đến bộ xương của bạn. Các công trình nghiên cứu mới nhận định lượng Vitamin D trong máu quá thấp sẽ gây ra những căn bệnh về tim và bệnh trầm cảm ở người trưởng thành.
Dưới đây là cách bổ sung vitamin D ngay cả khi không có ánh nắng mặt trời:
Cá béo
Các loại cá béo như cá hồi, cá thu, cá ngừ, cá chình… là nguồn vitamin D dồi dào đồng thời cũng rất giàu axít béo omega-3, tốt cho tim mạch.
Cá tươi không phải là cách duy nhất tăng cường lượng vitamin D, bạn có thể hấp thụ vitamin D từ các loại cá hộp. Cá ngừ và cá mòi đóng hộp đều chứa vitaminD. Cá ngừ trắng đóng hộp có nhiều vitamin D nhất - khoảng 150 IU/125 trong khi cá ngừ đóng hộp có khoảng 50 IU/125 gam; và cá mòi đóng hộp có khoảng 40 IU/2 lát cá mòi.
Nấm
Giống như cơ thể người, nấm cũng có khả năng tổng hợp vitamin D khi tiếp xúc với tia cực tím trong ánh nắng, nhất là các loại nấm trồng ngoài trời. Để bổ sung vitamin D bạn hãy ăn nấm.
Sữa
Hầu hết các loại sữa bò đều được tăng cường vitamin D. Một ly sữa chứa ít nhất 100 IU vitamin D và một hộp sữa chua chứa khoảng 80 IU.
Nước cam
Nước cam không chỉ giàu vitamin C, canxi mà còn giúp bổ sung vitamin D cho trẻ. Uống một ly nước cam cũng đã giúp trẻ bổ sung 100IU vitamin D.
Theo một nghiên cứu, cơ thể sử dụng vitamin D trong nước cam cũng hiệu quả như vitamin D từ viên bổ sung.
Bổ sung
Khi không có điều kiện bổ sung vitamin D bằng thực phẩm, nhiều người thường dùng thuốc bổ sung vitamin D. Tuy nhiên, bổ sung vitamin giúp bạn nạp đủ hàm lượng dưỡng chất này mỗi ngày, nhưng việc lạm dụng nó có thể gây hại cho cơ thể.
Những người có nguy cơ thiếu Vitamin D?
Các nhà nghiên cứu tìm thấy sự thiếu hụt vitamin D có thể ảnh hưởng đến sức khỏe người lớn, trẻ sơ sinh, trẻ em và thanh thiếu niên. Chế độ ăn kiêng của bạn có thể làm tăng nguy cơ nếu trong thực phẩm bạn dùng hàng ngày chứa hàm lượng Vitamin D quá thấp. Hầu như những người có liều Vitamin D thấp trong máu thường không để ý đến các triệu chứng của việc thiếu Vitamin D. Những người dễ bị thiếu hụt Vitamin D gồm những người bị béo phì, rối loạn tiêu hóa...
Cơ thể cần bao nhiêu Vitamin D là đủ?
Lượng vitamin D cần cho cơ thể tùy thuộc vào tuổi và các yếu tố nguy cơ. Theo khuyến nghị của các chuyên gia thuộc viện nghiên cứu Y khoa, bạn nên bổ sung lượng Vitamin D như sau :
Người trưởng thành đến <70 tuổi : 600 IU mỗi ngày
Người >70 tuổi: 800 IU mỗi ngày
Theo khuyến cáo của Viện Y khoa Mỹ (IOM), người từ 9 tuổi trở lên được hấp thu tối đa 4.000 IU/ngày, bao gồm các nguồn từ ánh nắng và thực phẩm. Tốt nhất bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ về việc sử dụng viên uống bổ sung.
Tác dụng chữa bệnh không ngờ tới
Ăn chuối bỏ vỏ, ăn tôm bỏ đầu... là quan niệm thường thấy xưa nay. Tuy vậy, chúng lại rất giàu dinh dưỡng khiến chúng ta không nên bỏ qua.
Vỏ quả kiwi ngừa ung thư: Loại trái cây giàu chất xơ này chứa nhiều vitamin C hơn cam và có thể bảo vệ ADN khỏi hư hại.
Ngoài ra, hợp chất flavonoid ở vỏ của quả kiwi có thể tấn công các gốc tự do gây ra bệnh ung thư và ngừa ngộ độc thực phẩm. Nhiều nghiên cứu tại Mỹ còn cho thấy loại hợp chất này giúp chống lại bệnh tim.
Vỏ chuối trị trầm cảm: Chuối giàu kali và khoáng chất, giúp giữ cho huyết áp duy trì mức bình thường, giảm nguy cơ . Ngoài ra, một nghiên cứu tại Đài Loan cho thấy vỏ chuối giàu serotonin, chất cải thiện tâm trạng.
Nước rau luộc bổ sung vitamin: Món rau luộc được nhiều người ưa thích vì giữ được chất dinh dưỡng của rau. Theo các chuyên gia, nước luộc rau cũng giàu dinh dưỡng và bổ sung nhiều vitamin cho cơ thể.
Lòng bò có ích cho hệ sinh sản của nam giới: Lòng bò chứa một loạt các chất dinh dưỡng lành mạnh bao gồm canxi, kẽm và selen. Ăn lòng bò giúp bảo vệ răng, xương và của nam giới.
Lá cần tây ngăn gốc tự do: Khi chế biến các món ăn, chúng ta có thói quen bỏ lá cần tây và chỉ sử dụng phần thân. Tuy vậy, lá cần tây giàu vitamin C và A, chất xơ và chất chống oxy hóa. Nó chứa magiê và canxi gấp năm lần so với phần thân.
Vỏ cam giúp giảm cholesterol xấu: Vỏ cam là nguồn vitamin và khoáng chất tuyệt vời, bao gồm canxi, magiê, kẽm, đồng, kali và phốt pho. Vỏ cam hiệu quả trong điều trị táo bón, cao huyết áp và thậm chí có thể làm giảm LDL hay cholesterol "xấu" và nguy cơ ung thư dạ dày.
Đầu tôm giàu chất chống oxy hóa: Đầu con tôm chứa chất chống oxy hóa astaxanthin cực mạnh. Chất astaxanthin trong tôm gấp 10 lần trong trái cây và rau.
Bông cải xanh giàu vitamin A: Chỉ 28 gram cung cấp 90% nhu cầu vitamin A hằng ngày cho cơ thể. Vitamin A tốt cho mắt, mô, tế bào và hệ miễn dịch của cơ thể.
vũ hưu dưỡng sưu tầm
Bệnh nào, cách uống nước đó
Cơ thể người cần rất nhiều nước và nếu uống nước đúng cách, không những đảm bảo được sức khỏe mà còn có thể trị liệu được một số loại bệnh hay triệu chứng bệnh. Tàn nhang - Sáng sớm uống 1 cốc nước đun sôi để nguội
Có người còn uống nước muối, có người lại uống nước mật ong, lại có người muốn trắng da nên uống nước chanh, vậy tóm lại thì uống nước gì là tốt nhất?
Cơ thể trải qua một quá trình trao đổi chất vào ban đêm, những “độc tố” trong cơ thể cần một ngoại lực tác động mạnh vào để bài trừ ra ngoài, nên nước đun sôi để nguội không có đường, không có chất dinh dưỡng là thức uống tốt nhất.
Nếu là nước có cho thêm đường hay các chất dinh dưỡng khác vào thì như vậy lại cần thời gian để chuyển hóa trong cơ thể, không tạo ra tác dụng nhanh chóng “tẩy rửa” cơ thể của chúng ta, một cốc nước sáng sớm chính là phương thức bài độc cực hay.
Cảm mạo - Cần uống nhiều nước hơn khi bình thường
Mỗi khi bị cảm mạo bạn thường thấy bác sĩ nhắc nhở: “cần uống nhiều nước vào!” - Câu nói này trong y học sẽ là tốt nhất đối với người bị cảm mạo.
Bởi vì khi bạn bị cảm, sốt, cơ thể sẽ tạo ra phản ứng tự nhiên để bảo vệ cơ thể đó chính là tự thân giảm nhiệt độ, lúc này cơ thể sẽ có những biểu hiện như đổ mồ hôi, hô hấp nhanh, lượng nước trên da bay hơi nhiều hơn… Lúc này cần bổ sung một lượng lớn nước vào cơ thể, cơ thể cũng sẽ sinh ra biểu hiện khát nước.
Uống nhiều nước không chỉ thúc đẩy việc tiết ra mồ hôi và bài tiện, mà còn có lợi cho việc điều tiết nhiệt độ cơ thể, nhanh chóng bài trừ vi rút bệnh ra khỏi cơ thể.
Đau dạ dày - Thường xuyên ăn cháo
Những người bị bệnh đau dạ dày hoặc cảm thấy dạ dày bị khó chịu thì có thể ăn cháo.
Nhiệt độ khi ninh cháo cần phải cao hơn 60oC, dưới nhiệt độ như vậy làm cho cháo sánh lại, cháo ninh nhừ nhờ lửa lớn vừa ăn vào là tan ngay, vào bụng vô cùng dễ tiêu hóa nên rất thích hợp với những người có bệnh về dạ dày.
Trong cháo có chứa lượng nước rất lớn, còn có khả năng nhuận tràng, thuận lợi đẩy những chất có hại trong tràng vị ra ngoài cơ thể.
Táo bón - Uống nước từng ngụm lớn
Nguyên nhân gây nên táo bón nói đơn giản có 2 loại: một là trong cơ thể thiếu nước, hai là cơ quan đường ruột không có khả năng bài tiết.
Nói về nguyên nhân thứ nhất thì phải thường xuyên uống nhiều nước.
Nói về nguyên nhân thứ 2 thì cách giải quyết tạm thời là uống nước từng ngụm lớn, động tác nuốt nhanh, như vậy nước có thể nhanh chóng kích thích nhu động ruột thúc đẩy bài tiện.
Nên nhớ, không nên uống từng ngụm nhỏ vì như vậy tốc độ nước chảy chậm, nước dễ được hấp thu vào dạ dày và gây ra tiểu tiện.
Buồn nôn - Dùng nước muối thúc đẩy nôn ọe
Xuất hiện tình trạng buồn nôn rất phức tạp. Có khi là một loại phản ứng bảo vệ khi ăn những thức ăn không thích hợp, gặp tình trạng như vậy không nên sợ hãi nôn ọe, bởi vì chỉ có nôn ra những thứ ấy mới có thể giúp cơ thể dễ chịu hơn rất nhiều.
Nếu cảm thấy rất khó nôn ra thì có thể dùng cốc nước muối nhạt để thúc đẩy nôn ọe, chuẩn bị 1 cốc nước muối nhạt cầm trên tay, uống vài ngụm lớn sẽ thúc đẩy nhanh chóng nôn hết ra. Sau khi nôn sạch có thể dùng nước muối để súc miệng, có tác dụng tiêu viêm đơn giản.
Ngoài ra, điều trị tình trạng mất nước nghiêm trọng sau khi nôn, nước muối nhạt cũng là chất dịch bổ sung nước rất tốt, có thể hoãn giải trạng thái suy nhược của người bệnh.
Nóng bức - Bổ sung nước bằng những ngụm nhỏ và gián đoạn
Nóng bức mà chúng ta đang nói đến ở đây là chỉ sau khi bạn vận động cường độ mạnh, nhiệt độ cơ thể tăng lên, mồ hôi tiết ra rất nhiều.
Lúc này cơ thể cảm thấy mệt mỏi, uống nước là cách thích hợp nhất để chăm sóc cơ thể khẩn cấp.
Nước có thể điều tiết sự tuần hoàn bình thường của huyết dịch và các tổ chức dịch, hòa tan chất dinh dưỡng, cung cấp thể năng, tiêu tán nhiệt lượng, điều tiết nhiệt độ cơ thể, tăng khả năng chịu đựng.
Nhưng cần chú ý là trong khi vận động cấm kỵ bổ sung nước nhiều, ví dụ như uống một hơi hết 2 bình nước ngọt, như vậy sẽ làm tăng gánh nặng cho tim, vì vậy trong khi vận động nên bổ sung nước từ từ, gián đoạn và bằng những ngụm nhỏ.
Bổ sung nước trước khi vận động cũng là một phương án bảo vệ cơ thể rất tốt.
Béo phì - Sau khi ăn cơm nửa tiếng uống một chút nước đun sôi để nguội.
Nếu muốn giảm béo nhưng lại uống không đủ nước thì mỡ trong cơ thể không thể tiến hành trao đổi chất, kết quả là thể trọng lại càng tăng.
Nhiều phản ứng hóa học trong cơ thể được tiến hành đều nhờ nước làm chất môi giới xúc tác.
Chức năng tiêu hóa, chức năng nội phân tiết trong cơ thể đều cần có nước, những chất độc trong khi trao đổi chất sinh ra đều cần nước để tiêu trừ, uống nước đúng cách có thể tránh được rối loạn chức năng tràng vị.
Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau khi ăn cơm bạn có thể uống chút nước để tăng cường chức năng tiêu hóa của cơ thể, giúp bạn duy trì vóc dáng.
Ho - Uống nhiều nước nóng
Gặp các triệu chứng như ho, có đờm, rất nhiều người cảm thấy mệt mỏi, khó chịu, đờm dịch khó khạc ra…
Lúc này phải làm gì? Điều bạn cần làm chính là uống nhiều nước, hơn nữa phải là nước nóng.
Trước tiên, nước nóng có thể làm loãng đờm, làm cho đờm dễ khạc ra ngoài. Tiếp theo, uống nhiều nước sẽ tăng lượng nước tiểu, có thể thúc đẩy nhanh chóng bài tiết những chất có hại. Ngoài ra, còn có thể dẹp bỏ được tình trạng xung huyết và thủy thũng của khí quản và niêm mạc khí quản nhánh, làm cho tần suất ho cũng giảm xuống.
Như vậy cơ thể cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều.
Phiền muộn - Uống thật nhiều nước
Trạng thái tinh thần của con người nếu đem liên hệ với cơ năng sinh lí thì có một loại vật chất làm mấu chốt cho việc liên hệ ấy, đó chính là kích tố.
Nói một cách đơn giản, kích tố chia làm 2 loại: một loại sinh ra khoái cảm, một loại sinh ra buồn phiền.
Endorphin sinh ra trong não được gọi là “hormone hạnh phúc”, còn sinh ra trong tuyến thượng thận thì được gọi là “hormone phiền muộn”.
Khi con người rơi vào trạng thái đau khổ phiền muộn, tố tuyến thượng thận sẽ bay lên, nhưng nó cũng giống như những chất độc khác cũng có thể bài tiết ra ngoài cơ thể, một trong những cách để đưa được nó ra ngoài cơ thể chính là uống nhiều nước.
*vhd sưu tầm 6-2013
Những nguyên nhân ít ai ngờ gây ung thư
Có lẽ bạn đã biết đến một số yếu tố có khả năng gây ung thư, như hút thuốc lá, chế độ ăn không lành mạnh và tia xạ. Ung thư còn có nguyên nhân từ những yếu tố môi trường và lối sống. Tuy nhiên còn có một số yếu tố khác có thể gây ung thư mà bạn không ngờ tới.
1. Các sản phẩm làm sạch không khí hoặc khử mùi phòng
Một nghiên cứu đăng trên tờ The Journal of the Federation of American Societies for Experimental Biology năm 2012 cho biết phthalates, là những chất rất phổ biến trong các sản phẩm làm sạch không khí hoặc khử mùi phòng, thúc đẩy tốc độ phát triển của ung thư. Ung thư sẽ phát triển nhanh hơn nếu bị tiếp xúc thường xuyên với phthalat. Vì thế thay vì sử dụng các sản phẩm để khử mùi, hãy đặt hoa tươi hoặc nến thơm trong phòng để mang lại không khí tươi mát cho căn phòng của bạn.
2. Thuốc tránh thai dạng uống
Phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai dạng uống có nguy cơ bị ung thư miệng cao hơn những người không dùng. Nhưng sau khi ngưng sử dụng thuốc tránh thai thì nguy cơ ung thư sẽ giảm đi. Đó là vì thuốc tránh thai uống làm mất cân bằng nội tiết. Nên cân nhắc các hình thức tránh thai khác để giảm nguy cơ ung thư.
3. Làm ca đêm
Một nghiên cứu thấy rằng những phụ nữ phải làm việc ca đêm dễ bị ung thư hơn những người nghỉ ở nhà. Cho dù không làm thường xuyên thì làm ca đêm chỉ 3 lần mỗi tuần cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Nếu công việc của bạn bắt buộc phải làm ca đêm thì bạn cần ngủ nhiều vào ban ngày và dùng thêm các chế phẩm bổ sung dinh dưỡng.
4. Nước súc miệng
Một nghiên cứu đã cho thấy nước súc miệng chứa ethanol có liên quan với ung thư miệng. Hợp chất này có thể gây tổn thương các mô trong miệng và khiến bạn nhạy cảm hơn với các chất gây ung thư có trong khói thuốc lá.
5. Áo ngực
Một nghiên cứu công bố năm 1995 đã tuyên bố rằng mặc áo ngực có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú. Mặc dù kết quả của nghiên cứu này đến nay vẫn chưa được chứng minh, song các nhà khoa học cho biết phụ nữ hạn chế mặc áo ngực thường có mô cơ không quá dày đặc, qua đó làm giảm nguy cơ ung thư vú.
muoichodoi.com

NHỮNG BỆNH NÀO KHÔNG NÊN DÙNG VITAMIN?
Vitamin là thuốc bổ, cung cấp những dưỡng chất cần thiết cho cơ thể, có khả năng phòng chống bệnh tật. Nhưng không phải tất cả vitamin lúc nào cũng bổ, mà ngược lại có một số loại bệnh nếu dùng một số loại vitamin sẽ càng làm cho tình trạng bệnh xấu đi.
Bệnh tim mạch
Đối với bệnh nhân mắc bệnh tim mạch, nếu uống vitamin E quá liều thì tỷ lệ phát bệnh phải nhập viện tăng gần 20%. Ngoài ra, người bệnh tim không được dùng thuốc có chứa kali ở liều cao (trên 3.500mg mỗi ngày), vì lượng kali dư thừa cũng sẽ làm tim đập nhanh và loạn nhịp tim.
Bệnh đái tháo đường
Vitamin B3 giúp giảm lượng cholesterol, giúp ích cho quá trình tuần hoàn máu và hình thành hệ thần kinh. Nhu cầu vitamin B3 hàng ngày của người trưởng thành là từ 15 - 18mg. Nhưng với người bệnh đái tháo đường, nếu dùng vitamin B3 hàng ngày gây tăng cường phân giải glycogen nên làm tăng đường huyết. Do đó, người mắc bệnh đái tháo đường cần lưu ý điều chỉnh liều dùng thuốc kiểm soát đường huyết khi phối hợp với vitamin B3.
Bệnh tăng huyết áp
Trong khi dùng thuốc chữa tăng huyết áp, nhiều người thường phối hợp dùng vitamin C làm tăng cường khả năng miễn dịch. Loại vitamin C dạng sủi được ưa chuộng.
Trong viên sủi chứa nhiều natribicarbonat (NaHCO3) làm tăng lượng Na như người dùng nhiều muối trong bữa ăn hàng ngày. Na kéo ion canxi (Ca 2) vào nhiều trong nội bào. Chính Ca 2 khi vào nội bào nhiều sẽ gắn kết với phức tropomin C làm thay đổi cấu trúc không gian của phức này, bộc lộ actin, tạo điều kiện cho actin kết hợp với myosin gây co cơ. Sự co cơ thành tiểu động mạch tăng sẽ cản trở lưu thông máu dẫn tới tăng huyết áp.
Như vậy, tá dược NaHCO3 trong viên sủi C làm giảm hiệu lực của thuốc chữa tăng huyết áp.
Bệnh ung thư
Người ta đã nói tới nhiều loại vitamin có khả năng phòng chống ung thư, nhưng ngược lại cũng có nhiều loại vitamin không những không góp phần ngăn chặn sự phát triển của ung thư mà lại “tiếp tay” cho các tế bào ác tính có điều kiện thuận lợi để nhanh chóng lớn lên và di căn đến nhiều nơi khác.
Vitamin B1: Đây là loại vitamin không thuộc diện chống chỉ định cho những bệnh nhân ung thư nhưng phải hết sức thận trọng khi dùng cho các bệnh nhân này. Một số bệnh nhân ung thư như bệnh ung thư máu (bệnh bạch cầu), bệnh ung thư đường tiêu hóa và một số khối u ác tính tiến triển nhanh đều gây ra hậu quả thiếu hụt vitamin B1.
Hơn nữa, khi dùng các thuốc điều trị khối u cũng phát sinh ra sự thiếu hụt này dẫn đến những hậu quả như tê bì, suy giảm trí nhớ và tăng lượng acid lactic trong máu (gây tình trạng toan hóa máu).
Vì vậy, người bệnh ung thư thường được bác sĩ chỉ định cho dùng bổ sung vitamin B1 trong quá trình điều trị. Nhưng nếu dùng quá nhiều vitamin B1 cho bệnh nhân thì lại gây ra sự tăng trưởng của các khối u làm cho ung thư tiến triển mau hơn.
Vitamin B12: Vitamin B12 được biết đến đầu tiên với tác dụng chống lại bệnh thiếu máu có hồng cầu to (bệnh Biermer) và tăng cường chuyển hóa đối với các nơron thần kinh nên thường được dùng phối hợp với vitamin B1 và vitamin B6 để điều trị nhiều căn bệnh đau nhức, tê bại...
Về tác dụng được lý, vitamin B12 có khả năng làm cho các tế bào tăng trưởng mạnh, vì thế bệnh nhân mắc bệnh thiếu máu hồng cầu to sau khi được điều trị bằng vitamin B12 đã nhanh chóng hồi phục.
Về mặt cơ chế bệnh sinh, ung thư cũng là một căn bệnh mà sự phát triển các tế bào ác tính là vô tổ chức và không thể kiểm soát nổi. Các thuốc điều trị ung thư đều nhằm tiêu diệt tế bào hoặc là kìm hãm sự phát triển của chúng. Nhưng vitamin B12 lại tác dụng ngược lại kích thích các tế bào phát triển nhanh hơn. Vì vậy, việc dùng vitamin B12 cho bệnh nhân ung thư chỉ là làm cho bệnh càng tiến triển nhanh hơn mà thôi.
Lời khuyên của thầy thuốc
Vitamin là loại thuốc dễ bị lạm dụng nhất vì mọi người thường nghĩ đó là thuốc bổ thì ai cũng có thể dùng được. Đây là thói quen không có lợi cho sức khỏe. Hơn nữa, một số vitamin không phải lúc nào cũng tốt mà thậm chí còn gây hại cho sức khỏe nếu dùng không đúng. Vì vậy, khi cần dùng vitamin, mọi người nên tham khảo ý kiến của thầy thuốc. Cách tốt nhất để bổ sung vitamin cho cơ thể là thông qua thực phẩm ăn uống hàng ngày.
DS. ĐỨC TRUNG
TIN Y KHOA VITAMIN D
Xin vui lòng gởi thông điệp nầy đi , cho dù chỉ đến với một người thôi .Thông điệp nầy là để tưởng nhớ đến những người mà bạn biết , hay là những nạn nhân của căn bịnh . Làm ơn , xin đừng dập tắt ngọn nen hy vong....
MỘT HY VỌNG MỚI CHO NHỮNG NGƯỜI BỊ BỆNH UNG THƯ:
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BẰNG SINH TỐ D.
Chu Tất Tiến.
Trong tuyển tập nghiên cứu về bệnh Ung Thư (Critical Reviews in Oncology Hematology) được ấn hành bởi Elsevier, nhà xuất bản lớn nhất thế giới về khoa học và y khoa, có một chương nói về cách điều trị và phòng ngừa ung thư của hai Giáo Sư Y Khoa người Việt Nam: Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và Bác Sĩ Nguyễn Thị Hoàng Lan.
Bác sĩ Lương Vinh Quốc Khanh là Hội Viên (Fellow) của 6 trường Đại Học về Chuyên Khoa Y Khoa và 1 trường Đại Học Y Khoa Anh Quốc. Ông là Giáo Sư Thỉnh Giảng của Đại Học Y Khoa UCLA, Giáo Sư của trường USC, Keck School of Medicine, Los Angeles.
Bác sĩ Nguyễn Thị Hoàng Lan là Hội Viên của 3 trường Đại Học Chuyên Khoa Y Khoa và là Giáo Sư trường USC, Keck School of Medicine, Los Angeles.
Nhân một cơ hội được đọc chương về Cách Dùng Sinh Tố D để trị Bệnh Ung Thư nói trên, người viết đã làm một cuộc phỏng vấn ngắn ngủi với Giáo Sư Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh.
-H: Xin bác sĩ cho biết nguyên nhân nào dẫn tới việc nghiên cứu về Sinh Tố D để trị và ngăn ngừa bệnh ung thư.
-Đ: Tôi đã nghiên cứu về sự liên hệ của sinh tố D và bệnh ung thư từ 20 năm nay. Tôi đã từng hợp tác nghiên cứu với một giáo sư nổi tiếng về Sinh tố D của Mỹ. Lý do dẫn tôi tới việc nghiên cứu này là một khám phá tình cờ. Trong lúc điều trị cho những người Việt Nam bị bệnh ung thư, tôi nhận thấy những bệnh nhân này có một đặc điểm chung là cùng thiếu Sinh tố D. Trước đó, tôi đã chia xẻ điều khám phá này với các vị thầy cũng như đồng nghiệp của tôi nhưng rất ít người đồng ý với ý kiến của tôi, có khi còn cho ý kiến ngược lại. Tôi nhớ khi tôi còn ở Đại Học UCLA và bắt đầu nghiên cứu về sự liên hệ giữa sinh tố D và căn bệnh quái ác này, ông thầy tôi gọi điện thoại cho tôi, chê trách là tôi không hiểu gì về sinh tố D cả. Ông thầy cho rằng người dân ở California không bao giờ thiếu Sinh tố D. Nhưng kêt quả thực tế do tôi khám phá là các người bệnh ung thư ở California đều thiêu sinh tố D. Mãi sau này, ông thầy tôi mới xin lỗi vì không bao giò ông nghĩ là các bệnh nhân ung thư đều thiếu sinh tố D.
-H: Điều đáng mừng là sinh tố D có thể mua tại bất cứ dược phòng nào, phải không?
-Đ: Thật ra không phải cứ là sinh tố D thì có thể mua tự do tại các dược phòng. Có nhiều loại sinh tố D. Loại sinh tố D dùng để chữa bệnh ung thư phải có toa bác sĩ mới mua được. Loại cần toa bác sĩ này tốt gấp 10 lần các loại thông thường. Mấy loại mua ngoài chợ không có giá trị. Bản thân tôi khi chữa trị cho người mắc bệnh ung thư, đều dùng loại cần toa bác sĩ. Yếu tố này, thoạt đầu, cũng không được các đồng nghiệp khác đồng ý. Ngay chính ông thầy tôi cũng phản ứng khi được biết tôi chuyên dùng loại sinh tố D cần toa bác sĩ. Ông Thầy tôi cũng thắc mắc hỏi tại sao tôi chỉ cho toa mua loại này, sao không cho họ xài loại bán ngoài chợ. Các khảo cứu sau này cho thấy chỉ có loại sinh tố D cần toa bác sĩ, vì chỉ có loại ấy mới bám vào tế bào và tác dụng trên tế bào ung thư.
-H: Khi tôi còn đi học, tôi được nghe nói là các yếu tố tiền sinh tố D nằm dưới da, có đúng không?
-Đ: Đúng thế, các yếu tố tiền sinh tố D3 nằm dưới da. Nhờ tia ultra violet của mặt trời, các yếu tố này biến thành 25-sinh tố D3. Các chất 25-sinh tố D3 này vào tới thận biến thành 1,25-sinh tố D3. Chính 1,25-sinh tố D3 này mới có tác dụng trên cơ thể. Chất tiền 24,25-sinh tố D3, nếu không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời thì không thể biến thành 1,25-sinh tố D3. Nhưng cũng có trường hợp luôn ở dưới ánh nắng mặt trời nhưng vẫn thiếu sinh tố D3. khỏang 1/3 đến phân nửa dân số sinh sống ở Sub-Sahara Phi Châu và Trung Đông được xem là thiếu sinh tố D. Như những người da đen, họ thường thiếu sinh tố D vì da họ đen quá làm cản tác dụng biến tiền sinh tố D thành sinh tố D3. Mũ che nắng, Sunblock cũng cản tia tử ngoại (UV) nữa. Da của người lớn tuổi cũng cản tia tử ngoại. Tế bào da của người lớn tuổi cũng không phát triển, thì người lớn tuổi cũng sẻ thiếu sinh tố D.
-H: Còn yếu tố nào làm thiếu sinh tố D không?
-Đ: Người Việt Nam thường bị viêm gan, các tế bài gan giảm đi, thi việc thay đổi từ 25-sinh tố D sang 1,25-sinh tố D3 cũng giảm đi. Đau thận cũng làm giảm thiểu sự biến hóa 1,25-sinh tố D3. Một điều cần lưu ý là có nhiều người phơi nắng rất nhiều cũng thắc mắc tại sao tôi thiếu sinh tố D. Phơi nắng nhiều quá, thì lại làm một lớp da ngoài bị cháy đi, biến thành lớp cản không tiếp nhận tia hồng ngọai tuyến (UV) nữa. Do đó việc đem người bệnh ung thư đi phơi nắng cũng gặp môt trở ngại là không biết độ nắng là bao nhiêu thì tốt.
-H: Bác sĩ có thể nói thêm về quan hệ giữa sinh tố D và bệnh ung thư như thế nào được không?
-Đ: Sinh tố D liên quan đến ánh nắng mặt trời. Vùng nào nhiều ánh nắng mặt trời thì ít ung thư. Vì thế những vùng càng xa xích đạo bao nhiêu thì càng thiếu sinh tố D, như vùng cực bắc âu thì thiếu sinh tố D rất nhiều, Người ta thấy có một liên hệ mật thiết giữa sinh tố D và bệnh ung thư, những người thiếu sinh tố D thì có tỷ lệ bị ung thư cao hơn người có nhiều sinh tố D. Như ở Norway, có nhiều county, những county ở cực Bắc thì tỷ lệ ung thư cao hơn vùng county phía nam, nơi mà người ta giầu sinh tố D hơn người cực bắc. Ngoài ra, còn có ảnh hưởng của thời tiết: Mùa đông ít ánh nắng mặt trời, nên số người bị ung thư tăng lên rất nhiều, Mùa hè thì giảm đi. Điều quan trọng là nếu dùng sinh tố D trong việc điều trị thì hy vọng khỏi bệnh càng cao.
-H: Cám ơn bác sĩ. Mong rằng đây là một khám phá mới đem lại nhiều hy vọng cho những người mắc phải cơn bệnh của Thần Chết này.
Mỗi ngày uống một cốc nước ấm sẽ rất tốt cho cơ thể.
Uống nước ấm mỗi ngày không những giúp bạn có một tâm trạng tốt mà còn đẩy lùi được một số bệnh thường gặp.
Nước là một phần quan trọng trong cơ thể. Trong thực tế, 2/3 trọng lượng cơ thể là nước, được phân bổ như sau: Nước chiếm 83% trong máu, 75% trong cơ bắp, 74% trong não và trong xương là 22%. Nước cần thiết cho sự sống còn của con người, vì nó đảm bảo cho cả cơ thể hoạt động trơn tru.
Thiếu nước trong cơ thể sẽ dẫn đến mất nước, gây trở ngại cho máu lưu thông. Nó làm cho não ít hoạt động, cơ thể cảm thấy mệt mỏi và uể oải. Nước giữ cho hệ thống tiêu hóa thực hiện đúng chức năng và đào thải được những độc tố ra khỏi cơ thể.
Bạn có thể uống nước ấm ít nhất là 1-2 lần một tuần hoặc nhiều hơn nếu muốn. Nhiệt độ của nước không nên quá nóng mà chỉ cần đủ nóng để làm cho bạn đổ mồ hôi sau khi uống. Trong thực tế, đổ nhiều mồ hôi sau khi uống sẽ có lợi hơn cho sức khỏe.
Tuy nhiên, cần lưu ý là, khi uống một cốc nước ấm, nhiệt độ cơ thể của bạn tăng lên một chút và cơ thể tự hạ nhiệt bằng cách đổ mồ hôi. Sau khi ra nhiều mồ hôi, hãy lau người thật khô và uống cốc nước ấm khác (ít nóng hơn) để cân bằng nhiệt độ trong cơ thể.
Dưới đây là một số tác dụng tích cực khi tạo cho mình thói quen uống nước ấm:
- Tâm trạng tốt: Bằng cách uống nước ấm, bạn có thể “loại bỏ” được những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực ra khỏi hệ thống thần kinh . Nó đồng thời giúp “làm sạch” trong suy nghĩ và tạo cho bạn một trạng thái cảm xúc tốt hơn.
- Tránh bệnh tật: Uống nước ấm giúp làm sạch lỗ mũi. Điều này đặc biệt hữu ích nếu bạn đang bị tắc nghẽn mũi khi bị bệnh. Hơi từ nước nóng làm lỏng tất cả các chất nhầy trong mũi để thông mũi và dễ thở hơn.
Nước ấm cũng sẽ làm cho bạn đổ mồ hôi và loại bỏ một số độc tố trong cơ thể ra ngoài, giúp cơ thể phục hồi nhanh hơn, khỏe mạnh hơn và phòng tránh được một số bệnh thông thường.
Một số cách uống nước ấm có lợi cho cơ thể
1. Tăng miễn dịch: Cho một chút nước chanh và mật ong vào cốc nước ấm để uống sẽ thúc đẩy khả năng miễn dịch.
2. Tiêu diệt tác nhân gây bệnh: Uống nước ấm vào buổi sáng sẽ “giết” chết các vi khuẩn có hại trong cổ họng và ruột, giúp khôi phục lại độ ẩm của cơ thể bị mất trong đêm.
3. Làm sạch cơ thể: Uống một ly nước ấm pha với một ít nước chanh trước khi ăn sáng có thể là một giải pháp hoàn hảo để làm sạch cơ thể bạn.
4. Táo bón: Uống nước ấm hàng ngày là một phương thuốc được coi là có thể làm giảm táo bón vì nó kích thích ruột.
Vì vậy, từ nay trở đi, ngay sau khi bạn thức dậy, hãy uống một ly nước ấm để tốt nhất cho sức khỏe.
Theo TTVN
dongcongnet
January 13, 2015
|