Đối
với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Chúa Kitô là một lời
đối thoại với từng người để cho
mỗi một
người
được trở
nên chính mình. Ngày 1 tháng 6 năm 1980, tại
Parc des Princes ở Paris, trong buổi tiếp kiến giới
trẻ, ngài
đã nói: “Các
con muốn nghe cha nói về Chúa Giêsu Kitô, và hỏi cha rằng:
đối với cha, Chúa Giêsu Kitô
là ai. Trước
khi trả
lời, cha
muốn trả lại câu hỏi ấy cho các con: Đối
với các con, Chúa Giêsu Kitô là ai? Như thế, cha
không
lẫn tránh
câu hỏi
mà sẽ trả lời cho các con biết Ngài là ai
đối với cha. Toàn bộ phúc
âm là một cuộc đối thoại với con người, với
mọi thế hệ, với mọi quốc gia, với mọi truyền thống;
và Chúa
Kitô
mãi mãi và
liên lỉ là một lời đối thoại với con người,
với từng người, độc nhất, duy nhất, tuyệt đối cá
biệt...
Trong
phúc âm có nhiều lần Chúa đối thoại, và cha xem cuộc đối thoại
độc đáo nhất là
cuộc đối
thoại
với người
thanh
niên... Vì sao Chúa Kitô lại đối thoại
với người thanh niên? ... Tại
vì ‘thanh niên’ là biểu tượng của một con
người, một cách đặc biệt, một cách quả
quyết, đang đi
trên con
đường tự
đào tạo
để trở nên chính mình.”
Câu trả lời của Giáo Hội
Từ thời sơ khởi, Giáo Hội đã đưa ra câu trả lời rõ ràng và
đầy đủ về Chúa Kitô qua Bản Tuyên Tín các Tông Đồ (Symbole
des Apôtres), mà vào thế kỷ thứ tư, Công Đồng Nicée
Constantinople đã làm rõ nét hơn để củng cố đức tin của Dân
Chúa. Tất cả
những chân lý ấy được quảng diễn trong văn kiện gần
đây nhất, được ký vào ngày 6 tháng 8 năm 2000: Dominus Jesus
(Trích
bản dịch của Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách).
Trung
thành với Kinh Thánh và bác bỏ những giải thích sai lầm và
giảm thiểu,
Công Đồng Nicê thứ nhất đã ấn
định đức tin của
mình vào: "Đức
Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Con Một được sinh ra bởi
Chúa Cha, nghĩa là bởi bản thể của Chúa Cha, là Thiên
Chúa bởi Thiên
Chúa, là Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, là Thiên Chúa thật bởi
Thiên Chúa thật, được sinh ra chớ không phải tạo thành,
cùng một
bản thể với Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo
thành, trên trời và dưới đất. Vì loài người chúng ta
và để cứu chuộc
chúng ta, Người đã xuống thế và đã nhập thể, làm người,
chịu khổ hình và sống lại ngày thứ ba. Người lên trời
và sẽ trở
lại để phán xét kẻ sống và kẻ chết".
Vâng
theo những huấn giáo của các Giáo Phụ, Công Đồng Chalcedon
cũng đã tuyên xưng: "Đức
Giêsu Kitô, Chúa chúng ta là Con Một và là chính Chúa
Con, vừa trọn hảo trong thần tính vừa trọn hảo trong
nhân tính,
vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật… cùng một bản
thể với Chúa Cha theo thần tính và cùng một hữu thể với
chúng ta
theo nhân tính … được sinh ra theo thần tính bởi Chúa
Cha trước mọi thời đại và, trong những ngày sau hết,
vì chúng ta và vì
phần rỗi chúng ta, được sinh ra theo nhân tính bởi Đức
Maria, Mẹ Đồng Trinh của Thiên Chúa"....
Chân lý về Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là Chúa và
là Đấng Cứu Thế duy nhất, Đấng qua biến cố nhập thể,
tử nạn và phục
sinh của Người, đã đem lịch sử cứu độ tới chỗ viên mãn,
và lịch sử cứu độ được viên mãn trong Người và lấy Người
làm trung
tâm, chân lý đó phải được tin vững vàng như là một yếu
tố kiên định của đức tin Giáo Hội.
Tân
Ước minh chứng sự kiện này cách minh bạch: "Chúa
Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu độ thế gian" (1 Ga 4, 14), "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian" (Ga 1, 29). Trong bài diễn từ của Ngài trước Thượng Hội đồng, Thánh Phêrô, đã
minh chứng sự chữa lành cho một người què từ lúc mới
sinh nhân danh Chúa Giêsu, công bố: "Ngoài Người ra không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này, không có một
Danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta
nhờ vào Danh đó mà được cứu độ" (Cv 4, 12). Hơn nữa,
Thánh Phaolô nói
rằng Chúa Giêsu Kitô "là Chúa mọi người", "là quan xét kẻ sống và kẻ chết", và như vậy "phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ Danh Người được ơn tha thứ" (Cv 10, 36.42.43).
Thánh
Phaolô khi ngỏ lời với cộng đoàn Côrintô, viết: "Thật
thế, mặc dầu người ta cho là có những vị thần ở trên
trời hay dưới đất - quả thật thần cũng lắm, mà chúa cũng
nhiều - nhưng
đối với chúng ta, chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng
tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta, và cũng
chỉ có một Chúa
là Đức Giêsu Kitô, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành,
nhờ người mà chúng ta được hiện hữu" (1 Cr 8, 5-6). Hơn nữa, Thánh Gioan tông đồ tuyên bố: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì
không phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả thật,
Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải
để lên án thế
gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được
cứu độ." (Ga, 3, 17-17). Trong Tân Ước, ý muốn cứu độ phổ biến của Thiên Chúa liên kết
chặt chẽ với sự trung gian của một Chúa Kitô mà thôi: "(Chúa) muốn cho mọi người được ơn cứu độ và nhận biết chân lý. Thật vậy, chỉ
có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên
Chúa và con người, đó là một con người, Đức Giêsu Kitô
Đấng tự hiến
và làm giá chuộc mọi người" (1 Tm 2, 4-6).
Câu
trả lời của Kinh Thánh
Lên thêm một bước, ta có thể tìm ngay trong Kinh Thánh, là
Lời của chính Thiên Chúa, những điều mà Giáo Hội đã
loan truyền cho muôn dân về Đức Giêsu Kitô:
Philiphê
2, 6-7: Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn
trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. (cf
Tm 2,5; Dt 2, 14.17; Dt 4,15),
* Ngài
là Đấng đại diện cho nhân loại:
Rôma 5, 8: Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng
ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên
Chúa yêu
thương chúng ta. (cf Rm 3,25; Is 53, 5; Gl 3,13; Rm
4,25; 1Cr 5,14.21)
* Ngài
là sứ điệp của Thiên Chúa:
Gioan 1, 1.14: Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời
vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa....
Ngôi Lời đã trở
nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. (cf Dt 1, 1-3;
Cl 1, 15)
* Ngài
là Đấng Cứu Độ:
Cv 4, 1.12: Chính Đức Giê-su Ki-tô, người Na-da-rét,
Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên
Chúa đã làm cho
trỗi dậy từ cõi chết... Ngoài Người ra, không ai đem
lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh
nào khác đã
được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh
đó mà được cứu độ. (cf Ga 3,17; Pl 3,20; Rm 10, 9)
* Ngài
là con đường duy nhất dẫn đến Thiên Chúa:
Ga
14, 6: Đức Giê-su đáp: Chính
Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không
ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. (cf Ga 5, 11-12; Gl
2,16)
* Ngài
là trung tâm mọi sự:
Êphêsô 1. 10: Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô. Đó
là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong
trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô. (cf Cl 1,
17-18;
Pl 2, 9-10)
* Ngài
là Đấng tạo dựng:
Côlôxê 1,16: Trong Ngài (Đức Kitô) muôn vật được tạo
thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. (Ep 3,9; Ga
1, 1.3.10)
* Ngài
là Thiên Chúa:
Gioan
20, 28: Ông Tô-ma thưa Ngài: "Lạy
Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" (Mt 1,23; Rm 9,5; Pl 2, 5-6; Cl 2,9; Pr 1,1; Dt 1,8)
ĐỐI
VỚI TÔI, NGÀI LÀ AI?
Đối với ‘người ta’ thì tương đối dễ tìm được một câu trả
lời, dù cho ‘người ta’ ấy là một tín hữu vô danh, một người
có
uy tín, thậm chí là Giáo Hội hoặc Kinh Thánh. Nhưng
dù biết được những điều đó và tin rằng đó là chân tính của
Chúa Kitô,
thì vẫn còn chưa thể trả lời được câu hỏi không
thể tránh né của Chúa Kitô: Đối với anh/chị, Thầy là ai?
Dù
không phủ nhận hay nghi ngờ gì về những điều Kinh Thánh dạy
và Giáo Hội truyền, thì Đức Kitô
của sự hiểu biết cũng
là một cái gì ở bên ngoài cuộc sống của mỗi người,
và Chúa Kitô đó chỉ là một Chúa Kitô của ‘người
ta’! Chúa Kitô là ai,
đối với tôi, phải thông qua một cuộc gặp gỡ riêng
tư, độc đáo và độc nhất; và Chúa Kitô ấy có thể
không mặc lấy những thuật
ngữ mà Giáo Hội đã truyền dạy.
Trong
tiểu thuyết Bên Dòng Sông Hằng của Viễn Đằng Chu Tác, nhân
vật chính là
Đại Tân cần trình bày
Đức Kitô cho một người
bạn gái không thích nghe đến chữ Chúa. Và anh
đã gọi Đức Kitô bằng Củ Hành.
‘– Xin
lỗi nếu cô không thích cái danh xưng Chúa mà muốn đổi ra tên
khác cũng chẳng sao.
Gọi là
Cà Chua
hay Củ Hành cũng được thôi
–
Được rồi. Thế thì Củ Hành là cái gì của anh
vậy?’ (trang
98)
Thế
nhưng qua danh xưng Củ Hành, Đại Tân lại thấy ý nghĩa trọn
vẹn của cuộc sống mình,
và
dấn thân theo con đường của Củ Hành
đó. Sau
này anh kể lại với
cô bạn ấy:
‘....Từ
những ngày còn nhỏ, nhờ mẹ tôi, tới nay tôi vẫn còn tin tưởng,
chính là sự ấm áp nơi mẹ. Hơi ấm từ
tay mẹ nắm,
hơi ấm
của thân thể
khi được mẹ ôm
ấp, hơi ấm tình thương, hơi ấm khi mẹ chẳng bỏ rơi tôi,
dù so với các anh chị, tôi là một thằng ngố. Mẹ luôn kể về
Củ
Hành,
như có
lần tôi đã nói với cô.
Nhưng vào những ngày xa xưa đó, mẹ còn dạy cho tôi biết
rằng Củ Hành là một khối rất ấm áp – hay nói ngắn gọn - Củ
Hành
là Tình
Yêu. Khi
tôi bắt đầu tuổi
lớn khôn, tôi mất mẹ. Lúc này tôi mới hiểu ra rằng, suối
nguồn ấm áp nơi mẹ là một mặt của Củ Hành, và rốt cuộc
cái mà tôi
tìm kiếm,
chính là Tình Yêu
của Củ Hành....’
Đối với một người đã thực sự gặp gỡ Chúa Kitô thì danh
xưng không còn là một vấn đề sống chết nữa. Nếu xưng tên
Giêsu
mà mình chỉ
thấy là một mớ kiến thức,
nhưng trái lại, gọi Củ Hành mà cảm nhận Tình Yêu thì: Đối
với Đại Tân, Đức Giêsu chính là Củ Hành, và Củ Hành ấy
đã hình
thành và
lớn lên qua một quá
trình dài trong một bầu không khí đầy ắp tình mẫu tử. Nếu
bảo rằng gọi Thiên Chúa là Củ Hành là một hành vi xúc phạm,
thì
đem nhốt
Đức Kitô vào một thuật
ngữ như ‘Đấng Cứu Độ’ cũng là một hành vi cầm tù Đấng Vô
Biên vào trong một khái niệm của con người. Thế nhưng điều
cốt lõi
không
nằm ở ngôn từ mà nằm
ở một bình diện khác.
Người
ta kể rằng một hôm họa sĩ Steinberg gặp một cô gái bụi đời.
Bị thu hút bởi sắc đẹp của cô, Steinberg mời cô
về xưởng
để ngồi
làm người mẫu cho mình
vẽ. Vào thời ấy, ông đang thực hiện tuyệt tác của mình
“Chúa Kitô trên Thập Giá”. Cô gái thường nhìn ông vẽ
bức tranh
ấy. Một hôm,
cô bảo: “Cái ông này
chắc là một người dữ ác lắm nên mới bị người ta đóng
đinh trên thập giá như vậy!” Họa sĩ trả lời “Không phải đâu.
Trái lại,
ông ấy là
một người tốt lành.
Người tốt lành nhất từng sống trên đời. Ông chết cho
kẻ
khác đấy”. Cô gái nhìn vào mắt ông và hỏi: “Ông ấy có
chết cho
bác không?”
Lúc bấy giờ, Steinberg
là một người giữ đạo theo thói quen, nhưng câu hỏi của
cô gái bụi đời kia đã đánh động ông khiến ông đã ‘trở
lại’ trong
đức
tin của
mình.
Đối
với tôi, Chúa Kitô là ai? Câu hỏi ấy ngày hôm nay cũng đồng
nghĩa với câu hỏi của cô
gái bụi đời đặt ra cho Steinberg: Chúa Kitô có chết cho
tôi không?
Tôi có thực sự biết Ngài không?
Đã đến lúc tôi cũng phải trả lời cho chính mình câu
hỏi không thể tránh né đó: Đối với tôi, Đức Kitô là
ai? Xin ghi lại
nơi đây như một lời chia sẻ.
Tôi
là một người đã học được từ tấm bé rằng Thiên Chúa yêu thương
tạo dựng nên tôi
đến độ sai Con Một Người
đến chết thay
cho tôi. Thế nhưng cuộc sống tuổi thơ của tôi quá bi
đát đến độ tôi đã không còn thiết tha gì đến Thiên
Chúa. Tôi giữ đạo
chiếu lệ và kiến thức đạo đối với tôi chỉ là một mớ
lý thuyết còn xa lạ hơn cả những công thức toán học.
Tôi tin vào Chúa
Kitô là đấng Cứu Chuộc cũng như tin rằng ở bên Mỹ bên
Tây có một bác sĩ chữa được mọi thứ bệnh nhân mà không
thấy ông ấy
liên quan gì đến cuộc sống mình. Thực ra, nếu vào thời
ấy, có người hỏi tôi: Đối với anh, Chúa Kitô là ai?
hẳn tôi sẽ
trả bài thuộc lòng như một công thức được tiếp thu
mà không thấy dính dấp gì đến cuộc sống mình. Tôi có
đạo nhưng chưa
hề gặp Chúa Kitô lần nào.
Cho
đến mùa Phục Sinh năm ấy qua, tôi nghe đọc sự Thương Khó Chúa
Giêsu… Khi nghe vị chủ tế đọc lên: “Lạy Chúa,
sao Chúa
bỏ con?” tôi bỗng rùng mình. Trong khoảnh khắc, tôi
thấy toàn bộ sự chua chát của Ngài: Đêm cô đơn ở Giêtsêmani,
tù đày,
tra tấn, nhạo báng, phỉ nhổ, con đường lên núi Sọ với
thập giá, tiếng búa, mũi đinh… tất cả. Và tôi cảm thấy
Ngài là một
người bạn chí thiết vì Ngài cũng đã bị cô đơn và bất
công như tôi, hơn tôi.
Hôm
đó là lần đầu tiên tôi về nhà tự ý mở Phúc Âm ra đọc lại sau
mấy năm đọc máy
móc với sinh viên. Không
phải tôi đến với
Lời Chúa đâu, tôi muốn chỉ đọc lại tiểu sử của một
người bạn mà tôi thấy giống mình. Nhưng khi đọc Luca
về giây phút cuối
cùng, tôi không còn hiểu gì nữa. Luca viết: “Lạy Cha,
con phó linh hồn trong tay Cha.” Tôi không thể hiểu
tại sao một người
bị bỏ rơi đến chết như thế mà vẫn còn tin tưởng và
phó thác vào Cha mình.
Tôi
đến trao đổi với cha linh hướng. Cha lắng nghe thật lâu mà
không nói tiếng nào.
Cuối cùng cha đề nghị
cùng đọc một
đoạn khác của Luca: đoạn ‘Người con hoang đàng.’ Tôi
hiểu ý cha và bảo rằng tôi không muốn xưng tội vì không
biết phải
xưng thế nào… tội tôi nhiều quá. Cha bảo: Anh cứ nói
với Chúa những gì anh nói với tôi nãy giờ. Rồi Cha
quỳ xuống trước mặt
tôi và làm dấu thánh giá. Bầu trời như sụp đổ. Không
còn một linh mục khuyên nhủ đứa ‘con hoang đàng’ mà
chỉ còn Thiên Chúa
qua đại diện của Ngài đang quì cầu xin dưới chân tôi.
Tôi choáng váng. Trước mặt tôi là hình ảnh một Thiên
Chúa quì xuống để
khẩn cầu tôi, để xin lỗi tôi: xin lỗi vì đã đem tình
yêu vô biên của Người mà xúc phạm đến trái tim ti tiện
của tôi. Không
thể nào đứng vững được, tôi sà xuống bên cha và lắp
bắp: “Lạy Cha xin Cha tha tội cho con…” Tôi chỉ nói
được có thế, rồi
nghẹn họng… Nước mắt cứ chực trào. Lâu thật lâu, tôi
nghe: “Cha tha tội cho con...” và tôi oà lên khóc…
Kể từ ngày có
trí khôn không bao giờ tôi khóc, tôi ghét cái sướt
mướt đàn bà, hèn! Thế mà hôm đó tôi đã oà khóc như
một đứa
con nít…
Và
quả thật, kể từ ngày đó tôi đã trở thành một đứa con nít trong
tay Cha trên trời, Đấng đã yêu
tôi đến
độ cho tôi đặc
ân bị bỏ rơi giống như Con Chí Ái của Ngài. Tôi đã
chấp nhận lại cuộc đời và cuộc đời đã chấp nhận tôi.
Vâng, tôi là một
đứa con hoang đàng đã trở về sau 10 năm chống đối,
bởi vì tình yêu của Ngài mạnh hơn sự căm thù của
tôi…
Và
đó là Đức Kitô đối với tôi: Một Đấng đã bị bỏ rơi đến tuyệt
đối để dạy cho tôi cảm nhận thế nào
là Tình
Yêu đầy nghịch
lý của một Thiên Chúa là Cha, sằn sàng quì xuống
trước con mình!
RAO TRUYỀN ĐỨC KITÔ
Dĩ nhiên, đối với tôi hiện nay Chúa Kitô chính là Tình Yêu
đã trở thành cụ thể trong máu thịt mình... và là
ý nghĩa cuộc đời tôi. Tuy nhiên, tôi cũng biết rằng Chúa Kitô
mà
tôi cảm nhận cộng với tất cả kiến thức về Ngài mà
Giáo Hội truyền dạy là một Đấng còn nhỏ bé lắm. Cách đây hơn
nửa thế
kỷ, năm 1952, J.B. Phillips đã cho phát hành một
cuốn sách với tựa đề là Your God Is Too Small (Chúa của bạn
nhỏ lắm!).
Thiên Chúa (và Chúa Kitô) là Đấng Vô Biên nên không
thể nào là một Chúa nhỏ bé được, nhưng ‘Chúa của bạn’, ‘Chúa
của
tôi’ thì thật nhỏ bé, vì dù có phóng đại Ngài với
những từ ngữ to lớn đến đâu thì tôi cũng hạn hẹp Ngài trong
cái cảm
nhận và hiểu biết thật nhỏ bé của tôi! Và cũng từ
đấy tôi cần phải xét lại cách rao truyền Đức Kitô như thế nào
cho
thế giới hôm nay, và cụ thể là cho những anh em không
hoặc chưa trả lời được cho bản thân họ câu hỏi: Đối với bạn,
Đức
Kitô là ai?
Hãy
nhìn lại bối cảnh của thế giới hôm nay, và cụ thể là các nước
Á Châu, trong đó có Việt Nam. Ta
hãy nhìn lại tiến trình
các tôn giáo trên thế giới. Thuở xa xưa, con người
chưa có tôn giáo, nhưng dường như từ khi có con người
trên mặt đất
thì đã có tín ngưỡng. Những tín ngưỡng ấy xuất phát
từ một thế giới quan cho rằng trong mọi vật thể hay
hiện tượng tự
nhiên đều có một sức mạnh nào đó có thể tác động đến
con người, hoặc thuận lợi hoặc tai hại, và từ đó
mỗi nhóm người tìm cách
liên lạc với sức mạnh đó để thủ đắc sự thuận lợi và
tránh né các tai họa. Tín ngưỡng là một hiện tượng
xã hội văn hóa. Tín
ngưỡng này phát triển chủ yếu ở các xã hội bộ tộc,
cho đến một ngày nào đó, một tôn giáo xuất hiện.
Sự khác biệt giữa
tín ngưỡng và tôn giáo là ở điểm : tôn giáo đề xướng
sự hiện hữu của một thực tại siêu tự nhiên luôn luôn
tác động một cách
tiềm tàng vào vũ trụ và có giá trị cứu độ (giải thoát)
cái chân tính (linh hồn, cái ngã, cái tôi) của mỗi
một con người,
qua agapê (bác ái cứu độ/giải thoát) hay qua giác ngộ
(hiểu biết cứu độ/giải thoát). Ví dụ như niềm tin Do
Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo là niềm tin mang chiều
kích bác ái, và
các tôn giáo như Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo mang
chiều kích giác ngộ.
Trong
quá trình một tôn giáo lan rộng trên một lãnh thổ thì có sự
kết hợp giữa tín ngưỡng
của dân cư với
tôn giáo ấy. Tôn
giáo, dù bác ái hay giác ngộ, chỉ có thể cắm rễ vững
chắc vào xã hội bộ lạc khi nó hội nhập vào tín ngưỡng
của xã hội đó.
Ngược lại, tín ngưỡng lại là một con đường mở ra trong
lãnh vực tự nhiên để chờ đợi một tôn giáo đưa vào siêu
nhiên. Đây
không có việc lấy tôn giáo thay cho tín ngưỡng, mà
là một sự kết hợp nhuần nhuyễn để bổ túc lẫn nhau hầu
đi từ một sự cứu
độ tự nhiên đến một sự cứu độ siêu nhiên.
Đó
là hình thức mà các nước Châu Âu đã trở nên một Xã Hội Kitô
Giáo (une
Chrétienté), bởi vì vào thời
Constantin, các nước
ấy vẫn sống trong một tình trạng tín ngưỡng tiềm tàng
dưới lớp triết học Hy La. Đó cũng là cách thức mà khắp
mọi nơi trên
Ấn Độ đã đón nhận Ấn Giáo, và cũng là cách mà Trung
Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam đón nhận Phật Giáo,
Lão Giáo và Khổng
Giáo, vì ba tôn giáo này đến hầu như cùng một lúc để
kết hợp với tín ngưỡng của các quốc gia kể trên.
Cũng
vì thế mà Kitô giáo đã trở thành một nền văn hóa Châu Âu, trong
khi đó các nước Á Châu có một nền văn
hóa Tam Giáo.
Và
sau đây là một sự kiện mà lịch sử đã chứng minh như là một
qui luật: Khi một lãnh thổ đã lấy tín
ngưỡng
của mình kết hợp
với một tôn giáo siêu nhiên rồi, thì không có một tôn
giáo nào có thể đánh bật tôn giáo ấy để thay chỗ được,
trừ phi có
một sự đàn áp bằng vũ lực để cải đạo trong một thời
gian kéo dài vài ba thế hệ. Ta thấy rõ từ hai tôn giáo
lớn trên thế
giới: Kitô giáo và Phật Giáo. Chúa Giêsu xuất phát
từ Do Thái, đến độ Kitô giáo lấy Kinh Thánh Do Thái
giáo làm một phần của
Kinh Thánh của tôn giáo mình, thế mà đất nước Do Thái
không có mấy người Kitô giáo, và Kitô giáo tồn tại
rất khiêm tốn
trên lãnh thổ Do Thái, trong khi đó lại phát triển
rất mạnh ở Châu Âu. Đức Phật xuất thân là một người
Ấn, và những kinh
cốt lõi được ghi bằng tiếng Phạn, thế nhưng tại Ấn
Độ Phật Giáo không thể nào có tiếng nói cân xứng với
Ấn Giáo mà lại
phát triển ở Đông Á, là những nơi mới có tín ngưỡng
nhưng chưa có tôn giáo.
Như
thế, lý do mà Á Châu không thể nào ‘trở lại’ hàng loạt (trừ
những nơi ít ỏi mà con người còn sống trong
các tín ngưỡng
bộ lạc) ấy là vì khi Kitô giáo đến với Á Châu, thì
tại đây đã có tôn giáo rồi. Nếu không một Kitô hữu
nào tin rằng tín
hữu Phật Giáo hay Hồi Giáo có thể chiếm đại đa số ở
Âu Châu, thì làm thế nào lại có thể quan niệm được
rằng Kitô giáo có
thể thay thế được Tam Giáo tại Á Châu? Điều gì đã làm
được ở Á Châu thì đã làm rồi: ví dụ Phi Luật Tân là
một đất nước
trong tình trạng tín ngưỡng bộ tộc khi Kitô giáo đến,
nên hiện nay nước này là nước Kitô giáo duy nhất tại
Á châu, và mãi
mãi sẽ không còn nước thứ hai như thế nữa.
Và
trong bối cảnh này, loan truyền Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ, không
phải là tìm cách biến Á Châu thành một
Cộng Đồng của
những người đã chịu phép rửa. Điều cần thiết cho Á
Châu nói chung, và cho Việt Nam nói riêng, là một lối
diễn đạt Chúa
Kitô cận nhân tình, gần với trái tim con người, để
rồi cả Á Châu thấm nhuần Đức Kitô mà không buộc phải
là lục địa gồm
toàn những Kitô hữu, hoặc (đại) đa số là Kitô hữu.
Và
để thay lời kết luận, xin ghi lại nơi đây suy nghĩ của cha
Phan Đình Cho qua một đoạn trích trong một
khảo luận của cha:
Ecclesia in Asia: Challenges for Asian Christianity:
(Giáo hội tại Á Châu: Những Thách Thức đối với Kitô
Giáo Á Châu -
Bản dịch: Nguyễn Văn Nội).
Vấn
đề Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Ðộ duy nhất là vấn đề lý thú có lẽ
trong thần học, nhưng là
một kiểu nói
vô bổ trong giảng
dậy và giáo lý. Nguyên do là vì mục tiêu trực tiếp
của việc Loan Báo Tin Mừng là làm cho người ta đón
nhận Ðức Giêsu là "Ðấng
Cứu Ðộ cho cá nhân mình" (personal Savior) chứ không phải là "Ðấng Cứu Ðộ duy nhất". Ðiều được nhắm tới là sự dấn thân có tính cá nhân và trọn vẹn của người tân
tòng đối với Ðức Giêsu, chứ không phải là sự khước
từ việc có thể có những cách thức khác mà Thiên Chúa
có thể dùng để
đến với người khác.
Câu
hỏi mang tính sống còn vượt trên tất cả không phải là các dân
tộc khác có thể được
cứu độ hay không và
được cứu độ bằng
cách nào, nhưng là câu hỏi "bằng
cách nào tôi có thể đi vào mối quan hệ cá vị (personal)
với Thiên Chúa một cách sung mãn". Khi một người nào đó đã khám phá ra rằng Ðức Giêsu là con đường giúp người
ấy đạt tới Thiên Chúa thì lúc đó với kinh nghiệm cá
nhân của mình, người ấy có thể làm chứng về sự kiện
ấy với người khác.
Sức mạnh và lòng nhiệt thành của chứng nhân không phát
sinh từ sự xác tín có tính thần học rằng Ðức Giêsu
là Ðấng Cứu Ðộ
duy nhất nhưng xuất phát từ kinh nghiệm sâu xa rằng
Người là Ðấng Cứu Ðộ của tôi (personal Savior for me).
Trong
giảng dậy khi tôi bị hỏi về các tôn giáo khác và
về các khuôn mặt cứu độ khác thì tôi sẽ phải công
nhận, một cách vui
vẻ và biết ơn rằng các tôn giáo và các khuôn mặt
cứu độ khác có nhiều yếu tố tốt và có sự hiện diện cứu
độ của Thánh Thần
Thiên Chúa nơi họ; nhưng tôi sẽ làm chứng rằng
Ðức Giêsu là con đường cho tôi đến với Thiên Chúa và
tôi sẽ mời họ thử đi
vào con đường này xem. Nếu họ chấp nhận Ðức Giêsu
là con đường của họ để tới Thiên Chúa thì khi ấy tôi mới
cho họ thấy rằng
Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Ðộ phổ quát và duy nhất,
nghĩa là Ðấng Cứu Ðộ của tôi cũng như của những người khác.