dongcong.net
 
 


ĐỐI VỚI BẠN
ĐỨC KITÔ LÀ AI?



ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ AI?

Những người đồng thời với Đức Giêsu thì khó mà có một câu trả lời đúng về Ngài. Đối với những người từng biết Ngài thì đa số cho rằng Ngài là Giêsu, con bà Maria và ông thợ mộc Giuse. Nhưng đồng thời họ cũng thấy nơi Ngài có một cái gì đó vượt hẳn cái thường tình, vượt hẳn những người khác, vì thế nên các tông đồ nhắc lại nhiều ý kiến khác nhau: Đối với người này thì Thầy là Gioan Tẩy Giả, người kia cho là Êlia, người khác nữa thì Giêrêmia hay một tiên tri nào đó... Nhưng đối với Chúa Giêsu, ý kiến của ‘người ta’ không phải là điều quan trọng, mà điều chính yếu là Ngài muốn biết quan điểm của các tông đồ, những cộng sự viên, những người thân cận của Ngài, vì thế Ngài hỏi họ: Đối với anh em, Thầy là ai?

Ta hãy tưởng tượng hôm nay Thầy Kitô ở giữa chúng ta cũng đặt câu hỏi ấy cho mỗi người: “Còn anh, anh Tứ, anh Dũng, anh Tường... Còn chị, chị Đông, chị Thủy, chị Tuyết.. Anh/chị nghĩ thầy là ai? Hãy nói lên suy nghĩ của anh/chị chứ đừng lặp lại lời của một ai khác, dù là lời của tông đồ Phêrô!” Câu hỏi này không dễ trả lời như mình thoạt tưởng.

Câu trả lời của quần chúng

Trong lúc mỗi người suy nghĩ, ta xem lại bao nhiêu thế hệ qua đã nghĩ gì về Ngài. Điều chua chát đầu tiên là rất nhiều người từng thực hiện câu mỉa mai của Voltaire: “Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Chúa, và loài người đã trả đũa một cách đích đáng: họ tạo dựng Thiên Chúa theo hình ảnh họ!”

Thế là chúng ta thấy Đức Giêsu Kitô dưới mọi lớp áo:

  • Đức Giêsu, nhà bất bạo động.
  • Đức Giêsu, nhà cách mạng.
  • Đức Giêsu, nhà thần bí
  • Đức Giêsu, nhà truyền thống
  • Đức Giêsu, nhà cấp tiến
  • Và thậm chí có cả Đức Giêsu Siêu Sao nữa đấy! Quả là điên đầu!

Đối với một số người Công Giáo, Đức Kitô là đấng mà người ta trình bày cho trẻ em vào giờ giáo lý để cho các em sống ngoan ngoãn và biết vâng lời. Đối với một số khác, Ngài là đấng mà mình không được làm mất lòng để được Ngài ban ơn đời này, và đời sau được hưởng thiên đàng... Những người sâu sắc hơn sẽ tuyên xưng rằng Ngài là đấng đã đến để mặc khải Thiên Chúa cho loài người, và cho biết rằng Thiên Chúa là Cha chứ không phải là một Ông Cảnh Sát luôn rình rập để phạt vạ. Hơn thế, Đức Kitô là đấng đã yêu thương chúng ta đến nỗi hy sinh mạng sống vì chúng ta; và Ngài chỉ mong sao cho chúng ta yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta.

Câu trả lời của một số nhân vật có uy tín

Bà Cecil John Saunders sinh tại Luân Đôn, thủ đô Anh quốc. Bà làm đủ thứ nghề trước khi đến Roma dịp Năm Thánh 1975 và ở lại đây luôn. Năm 1987 vì quá nghèo, không thể trả tiền thuê nhà nên bị đuổi. Từ đó bà sống lang thang ngoài đường phố Roma và đi lượm giấy để bán. Khi được hỏi: ‘‘Đối với bà, Chúa Giêsu Kitô là Ai?”, bà tuyên xưng không do dự:

Chúa Giêsu, tôi học biết Ngài ngay từ khi còn nhỏ. Mẹ tôi dạy tôi cầu nguyện cùng Chúa Giêsu mỗi sáng khi thức dậy, trước mỗi bữa ăn và vào mỗi buổi tối trước khi lên giường ngủ. Đối với tôi, Chúa Giêsu luôn luôn và mãi mãi là Đấng Cứu Độ Thế Giới. Ngài là Đấng Duy Nhất - trong tất cả các tôn giáo trên thế giới - là Đấng Duy Nhất có thể cứu thoát loài người. Và chỉ mình Chúa Giêsu mới có thể cứu loài người, vì Chúa Giêsu hoàn tất mọi ước muốn của Thiên Chúa Cha.

Đối với Đức Đức Hồng Y Albert Decourtray, Tổng Giám Mục giáo phận Lyon, nguyên chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Pháp, thì Chúa Giêsu Kitô mang một hình ảnh khác. Trong cuộc phỏng vấn dành cho tuần báo ‘‘Paris Match”, số ra ngày 22-12-1988, Đức Hồng Y nói:

Nếu chiều nay bất ngờ có ai hỏi tôi: ‘‘Đối với ngài, Đức Kitô là ai?”, hẳn tôi sẽ dành thời giờ để tuyên xưng rằng: Chúa Kitô là ai ư? Thì bạn chỉ cần nhìn Ngài. Chưa bao giờ có người nào trên thế gian này biết kính trọng người khác giống như Đức Kitô! Chưa bao giờ có người nào yêu thương sâu đậm con người hơn Đức Kitô! Và cũng chưa bao giờ có người nào yêu mến Thiên Chúa, Cha Ngài, hơn Đức Kitô. Chúa Kitô là trung tâm điểm trí thông minh, cuộc đời và sự sống tôi. Tôi chỉ muốn nói về Người và chỉ ước ao sống trung tín với Người.

Đối với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Chúa Kitô là một lời đối thoại với từng người để cho mỗi một người được trở nên chính mình. Ngày 1 tháng 6 năm 1980, tại Parc des Princes ở Paris, trong buổi tiếp kiến giới trẻ, ngài đã nói: “Các con muốn nghe cha nói về Chúa Giêsu Kitô, và hỏi cha rằng: đối với cha, Chúa Giêsu Kitô là ai. Trước khi trả lời, cha muốn trả lại câu hỏi ấy cho các con: Đối với các con, Chúa Giêsu Kitô là ai? Như thế, cha không lẫn tránh câu hỏi mà sẽ trả lời cho các con biết Ngài là ai đối với cha. Toàn bộ phúc âm là một cuộc đối thoại với con người, với mọi thế hệ, với mọi quốc gia, với mọi truyền thống; và Chúa Kitô mãi mãi và liên lỉ là một lời đối thoại với con người, với từng người, độc nhất, duy nhất, tuyệt đối cá biệt...

Trong phúc âm có nhiều lần Chúa đối thoại, và cha xem cuộc đối thoại độc đáo nhất là cuộc đối thoại với người thanh niên... Vì sao Chúa Kitô lại đối thoại với người thanh niên? ... Tại vì ‘thanh niên’ là biểu tượng của một con người, một cách đặc biệt, một cách quả quyết, đang đi trên con đường tự đào tạo để trở nên chính mình.”

Câu trả lời của Giáo Hội

Từ thời sơ khởi, Giáo Hội đã đưa ra câu trả lời rõ ràng và đầy đủ về Chúa Kitô qua Bản Tuyên Tín các Tông Đồ (Symbole des Apôtres), mà vào thế kỷ thứ tư, Công Đồng Nicée Constantinople đã làm rõ nét hơn để củng cố đức tin của Dân Chúa. Tất cả những chân lý ấy được quảng diễn trong văn kiện gần đây nhất, được ký vào ngày 6 tháng 8 năm 2000: Dominus Jesus (Trích bản dịch của Lm. Phêrô Nguyễn Quang Sách).

Trung thành với Kinh Thánh và bác bỏ những giải thích sai lầm và giảm thiểu, Công Đồng Nicê thứ nhất đã ấn định đức tin của mình vào: "Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Con Một được sinh ra bởi Chúa Cha, nghĩa là bởi bản thể của Chúa Cha, là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, là Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, là Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra chớ không phải tạo thành, cùng một bản thể với Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, trên trời và dưới đất. Vì loài người chúng ta và để cứu chuộc chúng ta, Người đã xuống thế và đã nhập thể, làm người, chịu khổ hình và sống lại ngày thứ ba. Người lên trời và sẽ trở lại để phán xét kẻ sống và kẻ chết".

Vâng theo những huấn giáo của các Giáo Phụ, Công Đồng Chalcedon cũng đã tuyên xưng: "Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta là Con Một và là chính Chúa Con, vừa trọn hảo trong thần tính vừa trọn hảo trong nhân tính, vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật… cùng một bản thể với Chúa Cha theo thần tính và cùng một hữu thể với chúng ta theo nhân tính … được sinh ra theo thần tính bởi Chúa Cha trước mọi thời đại và, trong những ngày sau hết, vì chúng ta và vì phần rỗi chúng ta, được sinh ra theo nhân tính bởi Đức Maria, Mẹ Đồng Trinh của Thiên Chúa"....

Chân lý về Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là Chúa và là Đấng Cứu Thế duy nhất, Đấng qua biến cố nhập thể, tử nạn và phục sinh của Người, đã đem lịch sử cứu độ tới chỗ viên mãn, và lịch sử cứu độ được viên mãn trong Người và lấy Người làm trung tâm, chân lý đó phải được tin vững vàng như là một yếu tố kiên định của đức tin Giáo Hội.

Tân Ước minh chứng sự kiện này cách minh bạch: "Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng cứu độ thế gian" (1 Ga 4, 14), "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian" (Ga 1, 29). Trong bài diễn từ của Ngài trước Thượng Hội đồng, Thánh Phêrô, đã minh chứng sự chữa lành cho một người què từ lúc mới sinh nhân danh Chúa Giêsu, công bố: "Ngoài Người ra không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ vào Danh đó mà được cứu độ" (Cv 4, 12). Hơn nữa, Thánh Phaolô nói rằng Chúa Giêsu Kitô "là Chúa mọi người", "là quan xét kẻ sống và kẻ chết", và như vậy "phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ Danh Người được ơn tha thứ" (Cv 10, 36.42.43).

Thánh Phaolô khi ngỏ lời với cộng đoàn Côrintô, viết: "Thật thế, mặc dầu người ta cho là có những vị thần ở trên trời hay dưới đất - quả thật thần cũng lắm, mà chúa cũng nhiều - nhưng đối với chúng ta, chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta, và cũng chỉ có một Chúa là Đức Giêsu Kitô, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, nhờ người mà chúng ta được hiện hữu" (1 Cr 8, 5-6). Hơn nữa, Thánh Gioan tông đồ tuyên bố: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả thật, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ." (Ga, 3, 17-17). Trong Tân Ước, ý muốn cứu độ phổ biến của Thiên Chúa liên kết chặt chẽ với sự trung gian của một Chúa Kitô mà thôi: "(Chúa) muốn cho mọi người được ơn cứu độ và nhận biết chân lý. Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người, đó là một con người, Đức Giêsu Kitô Đấng tự hiến và làm giá chuộc mọi người" (1 Tm 2, 4-6).

Câu trả lời của Kinh Thánh

Lên thêm một bước, ta có thể tìm ngay trong Kinh Thánh, là Lời của chính Thiên Chúa, những điều mà Giáo Hội đã loan truyền cho muôn dân về Đức Giêsu Kitô:

* Ngài là một người phàm:

Philiphê 2, 6-7: Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. (cf Tm 2,5; Dt 2, 14.17; Dt 4,15),

* Ngài là Đấng đại diện cho nhân loại:

Rôma 5, 8: Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. (cf Rm 3,25; Is 53, 5; Gl 3,13; Rm 4,25; 1Cr 5,14.21)

* Ngài là sứ điệp của Thiên Chúa:

Gioan 1, 1.14: Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa.... Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. (cf Dt 1, 1-3; Cl 1, 15)

* Ngài là Đấng Cứu Độ:

Cv 4, 1.12: Chính Đức Giê-su Ki-tô, người Na-da-rét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết... Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ. (cf Ga 3,17; Pl 3,20; Rm 10, 9)

* Ngài là con đường duy nhất dẫn đến Thiên Chúa:

Ga 14, 6: Đức Giê-su đáp: Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. (cf Ga 5, 11-12; Gl 2,16)

* Ngài là trung tâm mọi sự:

Êphêsô 1. 10: Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô. (cf Cl 1, 17-18; Pl 2, 9-10)

* Ngài là Đấng tạo dựng:

Côlôxê 1,16: Trong Ngài (Đức Kitô) muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. (Ep 3,9; Ga 1, 1.3.10)

* Ngài là Thiên Chúa:

Gioan 20, 28: Ông Tô-ma thưa Ngài: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" (Mt 1,23; Rm 9,5; Pl 2, 5-6; Cl 2,9; Pr 1,1; Dt 1,8)

ĐỐI VỚI TÔI, NGÀI LÀ AI?

Đối với ‘người ta’ thì tương đối dễ tìm được một câu trả lời, dù cho ‘người ta’ ấy là một tín hữu vô danh, một người có uy tín, thậm chí là Giáo Hội hoặc Kinh Thánh. Nhưng dù biết được những điều đó và tin rằng đó là chân tính của Chúa Kitô, thì vẫn còn chưa thể trả lời được câu hỏi không thể tránh né của Chúa Kitô: Đối với anh/chị, Thầy là ai?

Dù không phủ nhận hay nghi ngờ gì về những điều Kinh Thánh dạy và Giáo Hội truyền, thì Đức Kitô của sự hiểu biết cũng là một cái gì ở bên ngoài cuộc sống của mỗi người, và Chúa Kitô đó chỉ là một Chúa Kitô của ‘người ta’! Chúa Kitô là ai, đối với tôi, phải thông qua một cuộc gặp gỡ riêng tư, độc đáo và độc nhất; và Chúa Kitô ấy có thể không mặc lấy những thuật ngữ mà Giáo Hội đã truyền dạy.

Trong tiểu thuyết Bên Dòng Sông Hằng của Viễn Đằng Chu Tác, nhân vật chính là Đại Tân cần trình bày Đức Kitô cho một người bạn gái không thích nghe đến chữ Chúa. Và anh đã gọi Đức Kitô bằng Củ Hành.

‘– Xin lỗi nếu cô không thích cái danh xưng Chúa mà muốn đổi ra tên khác cũng chẳng sao. Gọi là Cà Chua hay Củ Hành cũng được thôi
– Được rồi. Thế thì Củ Hành là cái gì của anh vậy?’
(trang 98)

Thế nhưng qua danh xưng Củ Hành, Đại Tân lại thấy ý nghĩa trọn vẹn của cuộc sống mình, và dấn thân theo con đường của Củ Hành đó. Sau này anh kể lại với cô bạn ấy:

‘....Từ những ngày còn nhỏ, nhờ mẹ tôi, tới nay tôi vẫn còn tin tưởng, chính là sự ấm áp nơi mẹ. Hơi ấm từ tay mẹ nắm, hơi ấm của thân thể khi được mẹ ôm ấp, hơi ấm tình thương, hơi ấm khi mẹ chẳng bỏ rơi tôi, dù so với các anh chị, tôi là một thằng ngố. Mẹ luôn kể về Củ Hành, như có lần tôi đã nói với cô. Nhưng vào những ngày xa xưa đó, mẹ còn dạy cho tôi biết rằng Củ Hành là một khối rất ấm áp – hay nói ngắn gọn - Củ Hành là Tình Yêu. Khi tôi bắt đầu tuổi lớn khôn, tôi mất mẹ. Lúc này tôi mới hiểu ra rằng, suối nguồn ấm áp nơi mẹ là một mặt của Củ Hành, và rốt cuộc cái mà tôi tìm kiếm, chính là Tình Yêu của Củ Hành....’

Đối với một người đã thực sự gặp gỡ Chúa Kitô thì danh xưng không còn là một vấn đề sống chết nữa. Nếu xưng tên Giêsu mà mình chỉ thấy là một mớ kiến thức, nhưng trái lại, gọi Củ Hành mà cảm nhận Tình Yêu thì: Đối với Đại Tân, Đức Giêsu chính là Củ Hành, và Củ Hành ấy đã hình thành và lớn lên qua một quá trình dài trong một bầu không khí đầy ắp tình mẫu tử. Nếu bảo rằng gọi Thiên Chúa là Củ Hành là một hành vi xúc phạm, thì đem nhốt Đức Kitô vào một thuật ngữ như ‘Đấng Cứu Độ’ cũng là một hành vi cầm tù Đấng Vô Biên vào trong một khái niệm của con người. Thế nhưng điều cốt lõi không nằm ở ngôn từ mà nằm ở một bình diện khác.

Người ta kể rằng một hôm họa sĩ Steinberg gặp một cô gái bụi đời. Bị thu hút bởi sắc đẹp của cô, Steinberg mời cô về xưởng để ngồi làm người mẫu cho mình vẽ. Vào thời ấy, ông đang thực hiện tuyệt tác của mình “Chúa Kitô trên Thập Giá”. Cô gái thường nhìn ông vẽ bức tranh ấy. Một hôm, cô bảo: “Cái ông này chắc là một người dữ ác lắm nên mới bị người ta đóng đinh trên thập giá như vậy!” Họa sĩ trả lời “Không phải đâu. Trái lại, ông ấy là một người tốt lành. Người tốt lành nhất từng sống trên đời. Ông chết cho kẻ khác đấy”. Cô gái nhìn vào mắt ông và hỏi: “Ông ấy có chết cho bác không?” Lúc bấy giờ, Steinberg là một người giữ đạo theo thói quen, nhưng câu hỏi của cô gái bụi đời kia đã đánh động ông khiến ông đã ‘trở lại’ trong đức tin của mình.

Đối với tôi, Chúa Kitô là ai? Câu hỏi ấy ngày hôm nay cũng đồng nghĩa với câu hỏi của cô gái bụi đời đặt ra cho Steinberg: Chúa Kitô có chết cho tôi không? Tôi có thực sự biết Ngài không?

Đã đến lúc tôi cũng phải trả lời cho chính mình câu hỏi không thể tránh né đó: Đối với tôi, Đức Kitô là ai? Xin ghi lại nơi đây như một lời chia sẻ.

Tôi là một người đã học được từ tấm bé rằng Thiên Chúa yêu thương tạo dựng nên tôi đến độ sai Con Một Người đến chết thay cho tôi. Thế nhưng cuộc sống tuổi thơ của tôi quá bi đát đến độ tôi đã không còn thiết tha gì đến Thiên Chúa. Tôi giữ đạo chiếu lệ và kiến thức đạo đối với tôi chỉ là một mớ lý thuyết còn xa lạ hơn cả những công thức toán học. Tôi tin vào Chúa Kitô là đấng Cứu Chuộc cũng như tin rằng ở bên Mỹ bên Tây có một bác sĩ chữa được mọi thứ bệnh nhân mà không thấy ông ấy liên quan gì đến cuộc sống mình. Thực ra, nếu vào thời ấy, có người hỏi tôi: Đối với anh, Chúa Kitô là ai? hẳn tôi sẽ trả bài thuộc lòng như một công thức được tiếp thu mà không thấy dính dấp gì đến cuộc sống mình. Tôi có đạo nhưng chưa hề gặp Chúa Kitô lần nào.

Cho đến mùa Phục Sinh năm ấy qua, tôi nghe đọc sự Thương Khó Chúa Giêsu… Khi nghe vị chủ tế đọc lên: “Lạy Chúa, sao Chúa bỏ con?” tôi bỗng rùng mình. Trong khoảnh khắc, tôi thấy toàn bộ sự chua chát của Ngài: Đêm cô đơn ở Giêtsêmani, tù đày, tra tấn, nhạo báng, phỉ nhổ, con đường lên núi Sọ với thập giá, tiếng búa, mũi đinh… tất cả. Và tôi cảm thấy Ngài là một người bạn chí thiết vì Ngài cũng đã bị cô đơn và bất công như tôi, hơn tôi.

Hôm đó là lần đầu tiên tôi về nhà tự ý mở Phúc Âm ra đọc lại sau mấy năm đọc máy móc với sinh viên. Không phải tôi đến với Lời Chúa đâu, tôi muốn chỉ đọc lại tiểu sử của một người bạn mà tôi thấy giống mình. Nhưng khi đọc Luca về giây phút cuối cùng, tôi không còn hiểu gì nữa. Luca viết: “Lạy Cha, con phó linh hồn trong tay Cha.” Tôi không thể hiểu tại sao một người bị bỏ rơi đến chết như thế mà vẫn còn tin tưởng và phó thác vào Cha mình.

Tôi đến trao đổi với cha linh hướng. Cha lắng nghe thật lâu mà không nói tiếng nào. Cuối cùng cha đề nghị cùng đọc một đoạn khác của Luca: đoạn ‘Người con hoang đàng.’ Tôi hiểu ý cha và bảo rằng tôi không muốn xưng tội vì không biết phải xưng thế nào… tội tôi nhiều quá. Cha bảo: Anh cứ nói với Chúa những gì anh nói với tôi nãy giờ. Rồi Cha quỳ xuống trước mặt tôi và làm dấu thánh giá. Bầu trời như sụp đổ. Không còn một linh mục khuyên nhủ đứa ‘con hoang đàng’ mà chỉ còn Thiên Chúa qua đại diện của Ngài đang quì cầu xin dưới chân tôi. Tôi choáng váng. Trước mặt tôi là hình ảnh một Thiên Chúa quì xuống để khẩn cầu tôi, để xin lỗi tôi: xin lỗi vì đã đem tình yêu vô biên của Người mà xúc phạm đến trái tim ti tiện của tôi. Không thể nào đứng vững được, tôi sà xuống bên cha và lắp bắp: “Lạy Cha xin Cha tha tội cho con…” Tôi chỉ nói được có thế, rồi nghẹn họng… Nước mắt cứ chực trào. Lâu thật lâu, tôi nghe: “Cha tha tội cho con...” và tôi oà lên khóc… Kể từ ngày có trí khôn không bao giờ tôi khóc, tôi ghét cái sướt mướt đàn bà, hèn! Thế mà hôm đó tôi đã oà khóc như một đứa con nít…

Và quả thật, kể từ ngày đó tôi đã trở thành một đứa con nít trong tay Cha trên trời, Đấng đã yêu tôi đến độ cho tôi đặc ân bị bỏ rơi giống như Con Chí Ái của Ngài. Tôi đã chấp nhận lại cuộc đời và cuộc đời đã chấp nhận tôi. Vâng, tôi là một đứa con hoang đàng đã trở về sau 10 năm chống đối, bởi vì tình yêu của Ngài mạnh hơn sự căm thù của tôi…

Và đó là Đức Kitô đối với tôi: Một Đấng đã bị bỏ rơi đến tuyệt đối để dạy cho tôi cảm nhận thế nào là Tình Yêu đầy nghịch lý của một Thiên Chúa là Cha, sằn sàng quì xuống trước con mình!

RAO TRUYỀN ĐỨC KITÔ

Dĩ nhiên, đối với tôi hiện nay Chúa Kitô chính là Tình Yêu đã trở thành cụ thể trong máu thịt mình... và là ý nghĩa cuộc đời tôi. Tuy nhiên, tôi cũng biết rằng Chúa Kitô mà tôi cảm nhận cộng với tất cả kiến thức về Ngài mà Giáo Hội truyền dạy là một Đấng còn nhỏ bé lắm. Cách đây hơn nửa thế kỷ, năm 1952, J.B. Phillips đã cho phát hành một cuốn sách với tựa đề là Your God Is Too Small (Chúa của bạn nhỏ lắm!). Thiên Chúa (và Chúa Kitô) là Đấng Vô Biên nên không thể nào là một Chúa nhỏ bé được, nhưng ‘Chúa của bạn’, ‘Chúa của tôi’ thì thật nhỏ bé, vì dù có phóng đại Ngài với những từ ngữ to lớn đến đâu thì tôi cũng hạn hẹp Ngài trong cái cảm nhận và hiểu biết thật nhỏ bé của tôi! Và cũng từ đấy tôi cần phải xét lại cách rao truyền Đức Kitô như thế nào cho thế giới hôm nay, và cụ thể là cho những anh em không hoặc chưa trả lời được cho bản thân họ câu hỏi: Đối với bạn, Đức Kitô là ai?

Hãy nhìn lại bối cảnh của thế giới hôm nay, và cụ thể là các nước Á Châu, trong đó có Việt Nam. Ta hãy nhìn lại tiến trình các tôn giáo trên thế giới. Thuở xa xưa, con người chưa có tôn giáo, nhưng dường như từ khi có con người trên mặt đất thì đã có tín ngưỡng. Những tín ngưỡng ấy xuất phát từ một thế giới quan cho rằng trong mọi vật thể hay hiện tượng tự nhiên đều có một sức mạnh nào đó có thể tác động đến con người, hoặc thuận lợi hoặc tai hại, và từ đó mỗi nhóm người tìm cách liên lạc với sức mạnh đó để thủ đắc sự thuận lợi và tránh né các tai họa. Tín ngưỡng là một hiện tượng xã hội văn hóa. Tín ngưỡng này phát triển chủ yếu ở các xã hội bộ tộc, cho đến một ngày nào đó, một tôn giáo xuất hiện. Sự khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo là ở điểm : tôn giáo đề xướng sự hiện hữu của một thực tại siêu tự nhiên luôn luôn tác động một cách tiềm tàng vào vũ trụ và có giá trị cứu độ (giải thoát) cái chân tính (linh hồn, cái ngã, cái tôi) của mỗi một con người, qua agapê (bác ái cứu độ/giải thoát) hay qua giác ngộ (hiểu biết cứu độ/giải thoát). Ví dụ như niềm tin Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo là niềm tin mang chiều kích bác ái, và các tôn giáo như Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo mang chiều kích giác ngộ.

Trong quá trình một tôn giáo lan rộng trên một lãnh thổ thì có sự kết hợp giữa tín ngưỡng của dân cư với tôn giáo ấy. Tôn giáo, dù bác ái hay giác ngộ, chỉ có thể cắm rễ vững chắc vào xã hội bộ lạc khi nó hội nhập vào tín ngưỡng của xã hội đó. Ngược lại, tín ngưỡng lại là một con đường mở ra trong lãnh vực tự nhiên để chờ đợi một tôn giáo đưa vào siêu nhiên. Đây không có việc lấy tôn giáo thay cho tín ngưỡng, mà là một sự kết hợp nhuần nhuyễn để bổ túc lẫn nhau hầu đi từ một sự cứu độ tự nhiên đến một sự cứu độ siêu nhiên.

Đó là hình thức mà các nước Châu Âu đã trở nên một Xã Hội Kitô Giáo (une Chrétienté), bởi vì vào thời Constantin, các nước ấy vẫn sống trong một tình trạng tín ngưỡng tiềm tàng dưới lớp triết học Hy La. Đó cũng là cách thức mà khắp mọi nơi trên Ấn Độ đã đón nhận Ấn Giáo, và cũng là cách mà Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam đón nhận Phật Giáo, Lão Giáo và Khổng Giáo, vì ba tôn giáo này đến hầu như cùng một lúc để kết hợp với tín ngưỡng của các quốc gia kể trên.

Cũng vì thế mà Kitô giáo đã trở thành một nền văn hóa Châu Âu, trong khi đó các nước Á Châu có một nền văn hóa Tam Giáo.

Và sau đây là một sự kiện mà lịch sử đã chứng minh như là một qui luật: Khi một lãnh thổ đã lấy tín ngưỡng của mình kết hợp với một tôn giáo siêu nhiên rồi, thì không có một tôn giáo nào có thể đánh bật tôn giáo ấy để thay chỗ được, trừ phi có một sự đàn áp bằng vũ lực để cải đạo trong một thời gian kéo dài vài ba thế hệ. Ta thấy rõ từ hai tôn giáo lớn trên thế giới: Kitô giáo và Phật Giáo. Chúa Giêsu xuất phát từ Do Thái, đến độ Kitô giáo lấy Kinh Thánh Do Thái giáo làm một phần của Kinh Thánh của tôn giáo mình, thế mà đất nước Do Thái không có mấy người Kitô giáo, và Kitô giáo tồn tại rất khiêm tốn trên lãnh thổ Do Thái, trong khi đó lại phát triển rất mạnh ở Châu Âu. Đức Phật xuất thân là một người Ấn, và những kinh cốt lõi được ghi bằng tiếng Phạn, thế nhưng tại Ấn Độ Phật Giáo không thể nào có tiếng nói cân xứng với Ấn Giáo mà lại phát triển ở Đông Á, là những nơi mới có tín ngưỡng nhưng chưa có tôn giáo.

Như thế, lý do mà Á Châu không thể nào ‘trở lại’ hàng loạt (trừ những nơi ít ỏi mà con người còn sống trong các tín ngưỡng bộ lạc) ấy là vì khi Kitô giáo đến với Á Châu, thì tại đây đã có tôn giáo rồi. Nếu không một Kitô hữu nào tin rằng tín hữu Phật Giáo hay Hồi Giáo có thể chiếm đại đa số ở Âu Châu, thì làm thế nào lại có thể quan niệm được rằng Kitô giáo có thể thay thế được Tam Giáo tại Á Châu? Điều gì đã làm được ở Á Châu thì đã làm rồi: ví dụ Phi Luật Tân là một đất nước trong tình trạng tín ngưỡng bộ tộc khi Kitô giáo đến, nên hiện nay nước này là nước Kitô giáo duy nhất tại Á châu, và mãi mãi sẽ không còn nước thứ hai như thế nữa.

Và trong bối cảnh này, loan truyền Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ, không phải là tìm cách biến Á Châu thành một Cộng Đồng của những người đã chịu phép rửa. Điều cần thiết cho Á Châu nói chung, và cho Việt Nam nói riêng, là một lối diễn đạt Chúa Kitô cận nhân tình, gần với trái tim con người, để rồi cả Á Châu thấm nhuần Đức Kitô mà không buộc phải là lục địa gồm toàn những Kitô hữu, hoặc (đại) đa số là Kitô hữu.

Và để thay lời kết luận, xin ghi lại nơi đây suy nghĩ của cha Phan Đình Cho qua một đoạn trích trong một khảo luận của cha: Ecclesia in Asia: Challenges for Asian Christianity: (Giáo hội tại Á Châu: Những Thách Thức đối với Kitô Giáo Á Châu - Bản dịch: Nguyễn Văn Nội).

Vấn đề Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Ðộ duy nhất là vấn đề lý thú có lẽ trong thần học, nhưng là một kiểu nói vô bổ trong giảng dậy và giáo lý. Nguyên do là vì mục tiêu trực tiếp của việc Loan Báo Tin Mừng là làm cho người ta đón nhận Ðức Giêsu là "Ðấng Cứu Ðộ cho cá nhân mình" (personal Savior) chứ không phải là "Ðấng Cứu Ðộ duy nhất". Ðiều được nhắm tới là sự dấn thân có tính cá nhân và trọn vẹn của người tân tòng đối với Ðức Giêsu, chứ không phải là sự khước từ việc có thể có những cách thức khác mà Thiên Chúa có thể dùng để đến với người khác.

Câu hỏi mang tính sống còn vượt trên tất cả không phải là các dân tộc khác có thể được cứu độ hay không và được cứu độ bằng cách nào, nhưng là câu hỏi "bằng cách nào tôi có thể đi vào mối quan hệ cá vị (personal) với Thiên Chúa một cách sung mãn". Khi một người nào đó đã khám phá ra rằng Ðức Giêsu là con đường giúp người ấy đạt tới Thiên Chúa thì lúc đó với kinh nghiệm cá nhân của mình, người ấy có thể làm chứng về sự kiện ấy với người khác. Sức mạnh và lòng nhiệt thành của chứng nhân không phát sinh từ sự xác tín có tính thần học rằng Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Ðộ duy nhất nhưng xuất phát từ kinh nghiệm sâu xa rằng Người là Ðấng Cứu Ðộ của tôi (personal Savior for me).

Trong giảng dậy khi tôi bị hỏi về các tôn giáo khác và về các khuôn mặt cứu độ khác thì tôi sẽ phải công nhận, một cách vui vẻ và biết ơn rằng các tôn giáo và các khuôn mặt cứu độ khác có nhiều yếu tố tốt và có sự hiện diện cứu độ của Thánh Thần Thiên Chúa nơi họ; nhưng tôi sẽ làm chứng rằng Ðức Giêsu là con đường cho tôi đến với Thiên Chúa và tôi sẽ mời họ thử đi vào con đường này xem. Nếu họ chấp nhận Ðức Giêsu là con đường của họ để tới Thiên Chúa thì khi ấy tôi mới cho họ thấy rằng Ðức Giêsu là Ðấng Cứu Ðộ phổ quát và duy nhất, nghĩa là Ðấng Cứu Ðộ của tôi cũng như của những người khác.

 

Trần Duy Nhiên

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)