ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ
VẤN ĐỀ MUÔN
THUỞ
(Về bài nói chuyện của Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI
tại Đại
học Regensburg, Đức)
Cuộc
viếng thăm mục vụ của Đức giáo hoàng Bê-nê-đi-tô XVI từ ngày
9 đến 14 tháng 9 tại quê hương của
Ngài là một chuyến đi mang nhiều ý nghĩa đối với nước Đức,
và cũng là chuyến đi đuợc nhiều báo chí đạo đời nhắc đến mặc
dù đã nhiều ngày qua đi. Sở dĩ như thế là vì bài diễn văn của
Ngài đọc tại trường Đại học Regensburg đã tạo một phản ứng
có nhiều bất lợi cho việc đối thoại tôn giáo, đặc biệt giữa
Hồi Giáo và Công Giáo, là hai tôn giáo cùng chung niềm tin
vào một Thiên Chúa, nhưng lại có quá nhiều dấu vết căng thẳng
và đổ máu trong lịch sử phát triển của hai tôn giáo này.
Thực
ra, bài diễn văn của Đức giáo hoàng trình bày về những vấn
đề muôn đời của nhân loại, bài nói chuyện đó nói lên mối
quan hệ giữa đức tin và lý trí. Bài phát biểu này được Đức
Bê-nê-đíc-tô XVI trình bày trong môi trường học thuật của một
đại học, là nơi hướng dẫn con người có lý trí biết suy tư,
không phải là một phát biểu cho công chúng bình dân, hoặc là
một bài giảng thuyết trong giáo đường. Bài nói chuyện cũng
kết hợp những hồi ức của một giáo sư thần học lỗi lạc mà bây
giờ đang có vai trò lãnh đạo tinh thần của cả tỷ con người
Công giáo trên hành tinh.
Trong
lãnh vực học thuật và tư duy, người ta có thể nghi ngờ tất
cả, để đặt câu hỏi cho mình về
những vấn đề niềm tin. Cũng
như Descartes đã nghi ngờ tất cả nội dung kiến thức, ngoại
trừ chính cái nghi ngờ ấy, rồi từ đó rút ra được chân lý, “Tôi
suy tư, vì thế tôi tồn tại.” (Cogito, ergo sum). Con người
chúng ta tự hào hơn các sinh động vật khác là do biết tư duy,
và dám đặt những câu hỏi đôi khi “xấc xược” như nghi ngờ cả
sự hiện diện của một Đấng Tối Cao. Trong tác phẩm “Đêm Đen,”
tác giả Elie Wiesel, người được giải Nô-ben hoà bình năm 1986
đã đặt câu hỏi, tại sao phải cầu nguyện, và nhân vật Moishe
đã trả lời, “Cầu nguyện với Thiên Chúa trong ta để có sức mạnh
hỏi Ngài các câu hỏi thực sự đáng hỏi.” Và Wiesel cũng cho
rằng, con người đến gần Thiên Chúa qua những câu hỏi mà ta
đặt cho Ngài.
Nói
lên những điều trên để biết rằng các câu hỏi, các vấn đề đặt
ra và các trao đổi để đến gần chân lý là điều
không thể
không làm, đặc biệt trong môi trường học thuật. Thế nhưng,
vấn đề mà Đức giáo hoàng Bê-nê-đi-tô XVI đặt ra đã không được
người đối tác chấp nhận. Đúng ra, những người đối tác trực
tiếp mà Ngài nói đến thì có thể chấp nhận dễ dàng, nhưng thông
tin và phản ứng của giới quá khích Hồi giáo đã đi quá vấn đề
Ngài đặt ra khi mời gọi con người “suy nghĩ lại.”
Quan
niệm thánh chiến Jihad của người Hồi giáo được mô tả trong
sách
Qur’am (tên chính thức thay cho chữ Koran) đoạn 9, câu
20 cho rằng: “người tín hữu phải chiến đấu cho Đấng Allah,
và nếu cần thì phải hy sinh cả mạng sống.” Suy nghĩ này cũng
tương tự như người Công giáo tin rằng nếu cần hy sinh để bảo
vệ đức tin vào Thiên Chúa thì mạng sống ta cũng không từ. Nhưng
cũng như người Hồi giáo muốn chiến đấu, họ phải đặt Allah lên
trên hết, và những động cơ ích kỷ hoặc trần tục không thể là
động cơ cho những hy sinh này, thì người Công giáo cũng không
thể dùng những động cơ “mở rộng nước Chúa,” khi tìm số đông
người theo đạo để chứng tỏ đạo mình đông, tốt và hay hơn các
đạo khác. Trong suy nghĩ mở rộng nước Chúa kiểu trên, có ai
thực lòng là vì Danh Chúa, hay chỉ vì danh cá nhân mình? Anh
em Hồi giáo chân chính hẳn cũng phiền lòng với sự phản ứng
bằng bạo động hại người vô tội chỉ vì những động cơ rất cá
nhân để “bảo vệ đạo” của mình.
Người
ta có thể cho rằng vì Thiên Chúa là Đấng Siêu Việt, ta không
thể hiểu hết động cơ của Ngài,
nên nếu Chúa muốn, con
người cũng phải thờ thần tượng cho “đúng ý Chúa.” Có người
dùng lý lẽ như trên để giải thích sự dữ và đau khổ trên thế
gian, cho rằng có khi sự dữ, sự khổ là do Ý Chúa. Khi chấp
nhận lối suy nghĩ như thế, con người đã vô tình đẩy Thiên Chúa
ra khỏi phạm vi lý trí, mà theo họ, lý trí đó chỉ là sản phẩm
của tư duy Hy lạp, là một trong muôn vàn lối tư duy của một
vùng địa lý nhỏ bé mà thôi. Cũng theo lý luận trên, vì là sản
phẩm của Hy lạp, tức là sản phẩm ứng nhập văn hoá riêng của
Hy lạp, nên ta có quyền từ chối không chấp nhận lý trí này.
Giáo
hội Công giáo trái lại, luôn tin rằng mặc dù giữa Thiên Chúa
và con người có sự cách biệt vô cùng lớn lao không thể
nào so sánh được, nhưng sự cách biệt này không loại trừ mối
tương quan và hiểu biết đi ngược lại lý trí con người. Thiên
Chúa đã làm người và ở cùng chúng ta. Một Thiên Chúa hiện thân
của Lời (Logos), tức là Ngôn và Lý, đã mặc khải chính Thiên
Chúa để chúng ta biết mà tin và bước vào cuộc sống vĩnh cửu
với Ngài. Thiên Chúa đó không làm những điều phi lý, mặc dù
đôi khi chúng ta không hiểu hết được Thánh Ý của Ngài. Cuộc
tìm kiếm Thánh Ý theo lý trí của con người, do đó, phải được
tiếp tục không ngừng, và chính đó là mục đích của các Trường
Đại Học, đặc biệt là mục đích của các Khoa Thần Học.
Trong
quá khứ, theo như bài nói chuyện của Đức Giáo hoàng Bê-nê-đi-tô
XVI, đã có ba lần người ta muốn loại trừ lý trí ra khỏi niềm
tin, cho rằng đó chỉ là sản phẩm tư duy của người Hy lạp. Lần
đầu tiên do anh chị em Cải Cách muốn tin vào Kinh Thánh mà
thôi, còn tất cả những tư duy thần học dựa trên triết học đều
bị loại trừ. Họ cho rằng đó là niềm tin chân chính. Đến khi
triết gia Kant nói rằng phải bỏ qua lý trí tư duy để mà tin
thôi, thì các nhà Cải Cách thấy vấn đề đã đi quá xa. Đức tin
kiểu này chỉ cắm neo vào thứ lý trí thực dụng, không tiếp cận
được trọn vẹn hiện thực. Lần thứ hai xảy ra vào các thế kỷ
19 và 20, khi người ta muốn phân biệt giữa Thiên Chúa của các
triết gia và Thiên Chúa của A-bra-ham, I-sa-ac và Gia-cóp.
Những người theo suy nghĩ này cho rằng Chúa Giê-su đã đặt dấu
chấm hết vào việc thờ phượng, thay vào đó Ngài đề cao một tính
luân lý. Mục đích của họ là đem Ki-tô giáo hoà hợp với lý trí
hiện đại, tức là phù hợp với thứ khoa học cân đong đo đếm được.
Khi đề cao vào một thứ khoa học được kiểm
nghiệm bằng kỹ thuật, con người đã bắt khoa học nhân văn phải
phù hợp với khoa tự nhiên, mà như thế chính là làm cho sự hiểu
biết con người hạn hẹp lại. Ai trong chúng ta cũng biết, con
tim có những lý lẽ riêng của nó, (Pascal) mà không có thứ cân
khoa học nào có thể đo lường. Một sai lầm lớn hơn của lối suy
nghĩ này là khi chấp nhận suy tư “khoa học” như thế, con người
đã chối từ Thiên Chúa. Người ta không thể cân, đong, đo đếm
hay quan sát hết các hiện tượng siêu nhiên, đừng nói đến làm
như thế với Đấng Vô Hình. Rồi vì không làm được như thế, việc
gạt bỏ Đấng Vô Hình đó ra ngoài tư duy con người là chọn lựa
dễ dàng hơn cả. Lần thứ ba người ta muốn từ bỏ lý trí, cho
rằng với niềm tin, lý trí chỉ là sản phẩm Hy lạp, và ứng nhập
văn hoá Hy lạp thì chỉ có giá trị riêng cho tư duy Hy lạp thôi.
Tuy nhiên, ai cũng biết rằng Tân Ước được viết bằng Hy lạp,
và mang dấu ấn tinh thần Hy lạp, không phải là một sản phẩm
dịch thuật để nói rằng đấy chỉ là một ứng nhập văn hoá riêng
cho Hy lạp. Thực ra, những quyết định căn bản về đức tin và lý trí chính là một bộ phận của đức tin, phát triển
cùng đức tin, và không thể nói đức tin mà không nói đến lý
trí. Đức tin cũng là một ân huệ, nhưng cũng là một quyết định
của lý trí, có thể kết luận như thế mà không sợ sai lầm.
Diễn
từ của Đức Thánh Cha tại Đại Học Regensburg rất súc tích, lời
kêu gọi đối thoại thật rõ ràng (với người quen suy tư),
và vấn đề đặt ra cho thấy tư duy của một nhà thần học triển
nở cao độ. Tiếc thay, một số người chỉ nhắm vào hoặc “chỉ muốn
nghe” “dừng lại” ở một câu trích dẫn trong bài diễn văn đó,
để lên án hoặc xuyên tạc thiện ý của diễn giả, và trong khi
đó thì một số quần chúng bị xách động để nhìn thấy vấn đề hạn
hẹp, để rồi bạo lực đã xảy ra.
Câu
hỏi của Đức Bê-nê-đi-tô XVI đã không chỉ dành cho thế giới
Hồi giáo, nhưng đặt vấn
đề cho xã hội phương Tây, nơi mà Thiên
Chúa đã và đang bị gạt ra ngoài tư duy, khỏi chính sách lập
pháp để đề cao một xã hội thế tục hoàn toàn. Vấn đề cũng lộ
rõ thêm khi đối diện với một xã hội tục hoá như thế, thì một
thế giới Hồi giáo lại rất trung thành với sách Qur’am chỉ nhìn
và hành xử theo một cung cách đức tin, có thể bị biến dạng
bởi sự từ chối lý trí trong đức tin này, sẽ là một vấn đề lớn
cho thế giới. Khi tôn trọng niềm tin của nhau, chúng ta cũng
cần có lý trí, nếu không, thì khá nhất là so sánh niềm tin
của “tôi” khác niềm tin của “anh”, mà tệ hơn là niềm tin của
“tao” đối đầu với niềm tin của “mày.” Khi nhìn nhau bằng kẻ
thù, dù dựa trên một niềm tin nào đi nữa, thì con người rất
dễ trông nhờ vào bạo lực để giải quyết những xung đột, những
căng thẳng mà người ta không thấy lời giải đáp nào hơn là nghiền
nát kẻ thù. Nếu phải đến như thế, như chúng ta vẫn thấy mỗi
ngày trong những xung đột của thế giới, thì văn
minh tiến bộ của con người chỉ là con số không to tướng, và
người ta chỉ thấy tương lai sẽ lập lại những Hiroshima, Pearl
Harbor, 9/11, và của chiến tranh tương tàn không bao giờ ngưng
nghỉ. Lúc bấy giờ, chúng ta chỉ có thể thốt lên, “Than ôi,
cái thời chưa khai hoá!”
Giuse Nguyễn An
Ghi chú:
1.
Bài nói chuyện của Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI là một diễn
từ mang tính triết học và thần học. Đọc và thông hiểu
được trọn vẹn bài diễn văn này không dễ dàng như đọc chuyện
Da Vinci Code. Thế nhưng, đang khi Da Vinci Code đầy những
xuyên tạc, bóp méo và kết hợp thực hư lẫn lộn thì tác giả
không những không bị đe doạ mạng sống, mà còn thu lợi nhuận
khổng
lồ. Trong khi đó, khi trình bày trong một môi trường học
thuật và nghiên cứu, thì câu Đức Giáo Hoàng trích dẫn trong
bài nói
chuyện, lời nói của một vị Hoàng đế nước By-zan-tin vào thế
kỷ 14, lại bị lên án nặng nề. Đức Giáo hoàng đã bị đe dọa,
nhiều nhà thờ Công giáo bị ném bom, một nữ tu người Ý đã
bị hạ sát. Câu trích dẫn trong bài diễn văn của Đức Bê-nê-đic-tô
XVI như sau: “Hãy chỉ cho tôi những điều mới mẻ mà Mô-ha-mét
đã mang lại, ta chỉ thấy xấu xa và vô nhân, chẳng hạn như
lệnh
truyền rao giảng đức tin bằng gươm giáo.”
Một
số bình luận gia cho rằng với cương vị một lãnh tụ tôn giáo,
Đức Giáo Hoàng không nên đề cập đến câu trích này.
Còn nếu đã trích, vẫn theo ý kiến một số người, thì nên
nhấn mạnh
đây là câu trích, không phải ý kiến riêng mà Ngài đồng
tình. Hoặc Đức Thánh Cha có thể nói thêm rằng trong quá khứ,
người
Công giáo cũng đã có những lần dùng lưỡi gươm bên cạnh
thập giá để truyền đạo. Tuy nhiên, để chuẩn bị cho câu trích
này,
Đức Giáo hoàng cũng đã trích một phần câu 256, chương 2
sách Qur’am của Mô-ha-mét. Trọn câu viết rằng, “Không có cưỡng
bức trong tôn giáo. Sự thật không thể sai lầm: ai từ bỏ
tà
đạo,
và tin vào Allah thì đã nắm chắc được Điều đáng tin cậy
không gì bẻ gẫy được, và Allah nghe và biết mọi sự.”
2. Anh chị em Hồi giáo, gọi là Muslim, có nghĩa là người
quy phục Thiên Chúa, cũng thờ một Thiên Chúa. Đó là những
người
tin vào đạo Hồi, gọi là Islam, tiếng Ả rập mang ý nghĩa
phó thác, tùng phục, dấn thân và hoà bình. Đạo Hồi tin
ngôn sứ
Giê-su, nhưng không tin Chúa Giê-su là con Thiên Chúa,
vì họ tin chỉ có một Thiên Chúa. Người Hồi giáo cũng tin
rằng
Thiên
Chúa Allah là duy nhất, sách Qur’am là kinh cao quý nhất,
và ngôn sứ cuối cùng là Mô-ha-mét. Tuy có hơn 1 tỷ 200
triệu người
Muslim trên khắp thế giới, nhưng chia ra hai phái chính
là Sunni (90%) và Shi’ism (10%).
3.
Theo như giải thích chính thức của Hội đồng Giáo dục Hồi giáo
tại Hoa kỳ, danh
từ Jihad tiếng Ả rập có nghĩa
là “cố
gắng, phấn đấu.” Các nghĩa khác cũng bao gồm kiên trì,
đấu tranh. Thường được hiểu đây là nỗ lực cố gắng cho
bản thân,
nhưng cũng có thể là chiến đấu để bảo vệ mạng sống, tài
sản, đức tin của mình hay của người khác. Vì thế, cũng
theo Hội
đồng này, không nên dùng từ Jihad để nói lên ý “thánh
chiến.” Tuy nhiên, trên thực tế, các phái Hồi giáo quá khích
hay
dựa vào khái niệm này để tạo ra những cực đoan bạo động.