Kỷ
niệm Giỗ 2 năm ĐTC Gioan Phaolô II
CÁI
CHẾT LÀM RUNG CHUYỂN ĐỊA CẦU
Một
vì sao lặn
Đức
Thánh Cha Gioan Phaolồ Đệ Nhị băng hà lúc 9 giờ 37 phút tối
– giờ thành phố Roma – nhằm thứ bảy ngày 2 tháng 4 năm 2005,
đúng 46 ngày sau khi mừng lễ sinh nhật thứ 85 của Ngài.
Theo
truyền thống bắt buộc, vào lúc Ngài từ trần, các cộng sự viên
gọi tên Ngài ba lần: “Karol! Karol!
Karol!” Khi Ngài không đáp lại, họ tuyên bố Ngài
đã ly trần. Rồi cũng theo truyền thống, chiếc nhẫn giáo hoàng
của Ngài được cởi ra và đập vỡ tan.
Ngài
ra đi cũng như khi Ngài còn sống, mọi việc đều được diễn tiến
theo sự lượng định của Ngài. Ngài đã về lại Tòa Thánh Vatican
sau khi lưu ngụ ở bệnh viện Gemelli tại Roma lần thứ hai ngay
trước lễ Phục Sinh và Ngài đã khước từ trở lại đó khi cảm
thấy sức khỏe trở nên suy yếu một cách nhanh chóng. Ngài biết
mình sắp lìa đời và đã chuẩn bị ra đi.
Ít
phút sau khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ Đệ Nhị băng hà, Đức
Tổng Giám Mục Leonardo Sandri – một giáo sĩ cao cấp của Tòa
Thánh Vatican – đã bước ra ngoài và công bố việc Đức Thánh
Cha từ trần cho hằng chục ngàn người tụ tập ở Công Trường
Thánh Phêrô. Một giờ sau đó, các chuông Vatican ngân lên báo
tin buồn cho dân thành Roma và toàn thế giới.
Vào
sáng Chúa Nhật hôm sau, dân chúng tụ tập đông đảo tham dự
Thánh Lễ ngoài trời, khởi đầu thời gian thọ tang chính thức.
Sau đó trong ngày, thi hài của Đức Thánh Cha được đặt ở đại
sảnh, nơi Ngài thường có những cuộc triều yết chung.
Bắt
đầu là cuộc kính viếng dành riêng cho những giáo sĩ cao cấp
– các vị hồng y và giám mục – thuộc Tòa Thánh Vatican. Kế
đó là các viên chức trọng yếu của chính phủ Ý do tổng thống
Carlo Ciampi và thủ tướng Silvio Berlusconi cầm đầu.
Thi
hài của Ngài mang phẩm phục màu đỏ và trắng của giáo hoàng.
Đầu Ngài đội vương miện màu trắng viền vàng, được đặt trên
ba cái gối lấp lánh màu vàng. Cây gậy mục tử bằng bạc nằm
bên cánh tay trái Ngài.
Các
ống truyền hình của báo giới Ý đua nhau thu hình, khởi đầu
tiến trình hầu như không ngừng nghỉ về đám táng của Đức Thánh
Cha. Phát ngôn viên Tòa Thánh Vatican – tiến sĩ Joaquin Navarro-Walls
– sau đó thông báo là Tòa Thánh đã phân phát ba ngàn năm trăm
bản thông tin chính thức cho các nhà báo.
Mọi
nẻo đường đưa đến Roma
Về
sau, thi hài Đức Thánh Cha được an vị trong Vương Cung Thánh
Đường Thánh Phêrô từ trưa thứ hai ngày 4 tháng 4 cho tới khi
an táng vào thứ sáu ngày 8. Một dòng thác người đổ về Công
Trường Thánh Phêrô để được chiêm ngắm thi hài của Đức Thánh
Cha, dù trong giây phút ngắn ngủi.
Nửa
triệu người đã lặng lẽ đi qua linh cữu của Ngài ngày thứ ba
và hôm sau một triệu người khác cũng đã đi qua. Trong số những
người đến kính viếng thi hài Đức Thánh Cha, có những viên
chức cao cấp của các chính phủ trên thế giới. Tổng thống George
W. Bush, tổng thống phu nhân là Laura, các cựu tổng thống
George H. W. Bush và Bill Clinton đã quì cầu nguyện bên thi
hài Ngài ngay sau khi đến Roma vào chiều tối thứ tư.
Cùng
với những ngày trôi qua, khách hành hương đã đến bằng máy
bay, xe lửa, xe buýt, xe hơi và cả xe gắn máy nữa. Thời gian
phải đứng xếp hàng càng ngày càng lâu hơn đối với những ai
hy vọng được chiêm ngắm thi hài Đức Thánh Cha. Vào ngày thứ
hai, thời gian chờ đợi thông thường là 5 giờ đồng hồ. Qua
ngày thứ tư, thời gian đó kéo dài hơn 10 tiếng.
Sự
chen chúc đã trở nên tồi tệ cho đền nỗi vào ngày thứ năm tờ
báo hằng ngày ở Roma “Il messagero”
đã chạy tít lớn là “Xin
Khách Hành Hương Dừng Lại!” Lời kêu gọi đó hoàn
toàn vô hiệu.
Người
ta tin tưởng có tới bốn triệu người đã tới Roma để tiễn biệt
người Cha thương mến nằm trong Vương Cung Thánh Đường, sau
khi phải đi qua các máy dò bằng kim khí và những máy rà quang
tuyến tối tân.
Bảo
vệ Roma an toàn và khỏi ứ đọng
Với
những đoàn khách hành hương đông đảo tuôn về Roma tham dự
đám táng Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ Đệ Nhị, Hội Đồng Thành
Phố Roma đã dẹp bỏ hết những bảng “STOP” để giữ cho thành
phố không những an toàn mà còn xê dịch được.
Roma
vốn có một dân số ba triệu bảy trăm ngàn người. Một số ước
lượng từ ba tới bốn triệu người tới tham dự đám táng. Khi
dân số thành phố đông gấp đôi, Roma phải cần tới mười lăm
ngàn cảnh sát viên và nhân viên quân đội tuần tiễu các đường
phố, chỉ dẫn dân chúng đi đến Vương Cung Thánh Đường Thánh
Phêrô.
Những
viên chức thành phố cung cấp cho khách hành hương những chai
nước uống và chăn đắp nếu họ phải nghỉ đêm dọc đường để giữ
chỗ theo hàng lối cho ngày hôm sau. Vì những phòng ốc trong
các khách sạn đã được mướn hết nên thành phố Roma đã dựng
lên những lều trại để cung ứng cho đoàn người đông đảo và
dân thành Roma cũng cung cấp giường chõng cho khách hành hương.
Hằng
trăm ngàn dân Ba-Lan đã nhảy lên xe buýt hay xe lửa và trực
chỉ Roma để vinh danh một người đồng hương lừng danh và quý
mến của họ.
Để
bảo vệ khoảng tám mươi vị nguyên thủ quốc gia đến Roma tham
dự đám tang, những chiếc trực thăng cảnh sát và những chiến
đấu cơ không lực Ý tuần tiểu trên không phận Roma.
Khi
cử hành Thánh Lễ an táng, một vùng trời năm dặm trên không
trung Roma được đóng lại đối với mọi không lưu, ngoại trừ
máy bay truyền hình, những trực thăng tuần tiễu và một máy
bay thám thính AWACS của Khối Liên Phòng Đại Tây Dương tuần
thám. Tàu hải quân Ý tuần hành vùng duyên hải và canh gác
dọc theo sông Tiber.
Lực
lượng cảnh bị quốc gia Ý trấn đóng hầu hết mọi ngõ ngách quan
trọng trong thành phố Roma. Những lính thiện xạ được trấn
đóng trên các cao ốc để quan sát Công Trường Thánh Phêrô.
Ngay
cả những vị thượng khách cũng phải đi qua những máy dò kim
khí và những túi xách của họ cũng phải cho qua những máy rà
quang tuyến X, trước khi vào chỗ ngồi bên cánh phải quan tài
trong Thánh Lễ an táng.
Các
cơ sở thương mại và học đường ở Roma đều đóng cửa trong ngày
lễ an táng và mọi lưu thông bằng xe cộ đều bị cấm chỉ trong
khu vực bao quanh Công Trường Thánh Phêrô. Những xe hơi sang
trọng đưa đón các vị chức sắc các giáo hội hay những nhân
viên chính phủ chỉ dừng lại cho khách lên xuống và di chuyển
ngay.
Vì
Công Trường Thánh Phêrô không thể dung chứa hết dân chúng
tham dự đám tang nên hai mươi bảy màn ảnh truyền hình cỡ lớn
được dựng lên trong thành phố để trực tiếp truyền hình cho
dân chúng theo dõi diễn tiến buổi lễ.
Thành
phố Roma có thể hãnh diện vì đã cố gắng điều hướng một cách
tốt đẹp những đoàn khách hành hương đông đảo như thế. Mặc
dù trên mấy triệu người tràn qua biên giới trong vài ngày
thôi, nhưng không xảy ra một biến cố trầm trọng nào.
Điều
không may duy nhất – nhưng không quan trọng mấy – đó là sau
khi Thánh Lễ an táng chấm dứt, vì sự khiếm khuyết trong vấn
đề thông tin, một máy bay F-16s của Ý Đại Lợi vội vàng cưỡng
bách một phi cơ nhỏ đã bay lạc vào không phận bị cấm chỉ phải
hạ cánh ở một phi trường kế cận.
Dòng
người đủ loại
Đối
với dân chúng thành phố Roma, dòng thác người đổ vào Công
Trường Thánh Phêrô đã mang nhiều sắc thái đặc biệt. Dân chúng
Hoa Kỳ mặc áo quần cụt, người Phi châu mang sắc phục bản xứ,
người Phi Luật Tân với áo sơ mi vẽ những bông hồng sặc sỡ,
những tu sĩ mặc áo dòng tự đan dệt lấy và đi dép. Hầu hết
đều trang bị điện thoại cầm tay. Trong đám đông đó, có cả
những người cỡi xe gắn máy và mặc áo da nữa.
Ngạc
nhiên biết bao, bên cạnh những người Âu châu tuôn đến Roma,
có rất nhiều người khác đến từ những nơi rất xa xôi. Một chị
trẻ tuổi đến từ Congo đã giải thích cho một phóng viên tạp
chí “Le Monde” của Pháp
như sau: “Đức Thánh Cha không bao
giờ ngừng đến thăm dân chúng khắp nơi trên địa cầu. Khi nghe
tin Ngài qua đời, dân chúng đã rời bỏ làng mạc của mình để
trả lại cho Ngài những gì mà Ngài đã trao ban cho họ.”
Vào
ngày tang lễ, dân chúng đã chui ra khỏi những túi ngủ ở bên
các vệ đường vào lúc năm giờ sáng và bắt đầu tiến về Công
Trường Thánh Phêrô. Cơ quan công quyền đã đóng lại các nẻo
đường chính của thành phố Roma. Sự lưu thông bằng xe hơi bị
cấm chỉ, ngoại trừ những đoàn xe hộ tống đưa đón các nhân
vật cao cấp thuộc các chính phủ của nhiều quốc gia.
Vị
thế của Đức Thánh Cha trên hiện trường quốc tế
Vị
thế của Đức Thánh Cha trên thế giới đã được phản ảnh bởi số
chức sắc các tôn giáo và thủ lãnh các quốc gia tham dự Thánh
Lễ an táng. Khoảng một ngàn bốn trăm nhân viên cao cấp của
các chính phủ gồm có bốn vị hoàng đế, năm bà hoàng hậu, bốn
mươi bốn vị quốc trưởng, hai mươi lăm thủ tướng, các tổng
trưởng, bộ trưởng và các đại sứ đại diện cho hơn 140 quốc
gia bên cạnh Tòa Thánh. Họ ngồi bên phải quan tài của Đức
Thánh Cha Gioan Phaolồ Đệ Nhị được an vị trước Vương Cung
Thánh Đường.
Phía
đối diện là sáu trăm vị chức sắc các tôn giáo khác bao gồm
đại diện các Giáo Hội Chính Thống, Chính Thống Giáo Đông Phương,
Anh Giáo, Tin Lành và những cộng đoàn truyền bá Phúc Âm của
Hoa-Kỳ. Mười cộng đoàn Do-Thái Giáo và mười cộng đoàn Hồi
Giáo cũng gởi đại diện, cũng như sự có mặt của các đại diện
Phật Giáo, Silks và Ấn Giáo.
Ngồi
sau quan tài là những giáo sĩ cao cấp của Tòa Thánh Vatican
được sắp xếp theo thứ tự đẳng cấp giáo sĩ.
Đứng
trên bình diện chính trị, những vị thủ lãnh các quốc gia là
những người có quyền thế – kể cả quyền sinh sát – nhưng họ
đều đến nghiêng mình trước một nhân vật chỉ có quyền uy tinh
thần mà thôi. Đấy là những người, trong một hoàn cảnh khác,
có khi chẳng muốn nhìn mặt nhau, nhưng đều trịnh trọng đến
nơi đây để trao nhau những cái bắt tay xã giao và những lời
thăm hỏi có tính cách lịch sự, dù chỉ trong giây lát.
Tổng
thống George W. Bush với tổng thống phu nhân là Laura ngồi
một bên và bên kia là các cựu tổng thống Bush cha và Bill
Clinton. Họ ngồi hàng ghế thứ hai, không xa tổng thống Pháp
là Jacques Chirac mà có lúc đã cúi xuống hôn tay bà bộ trưởng
Condolezza Rice của Hoa Kỳ.
Dư
luận cũng bàn tán, vì một sự sắp xếp vô tình hay hữu ý nào
đó mà Tổng thống Mỹ phải ngồi gần Tổng thống Mohamad Khatami
của Iran. Dư luận cũng chú ý đến một vị trưởng giáo Do Thái
ngồi bên cạnh các trưởng giáo Đạo Hồi hay các lãnh tụ Ả Rập.
Họ không nói với nhau một lời và họ cũng chẳng nói gì với
Tổng thống Hamid Karzai của Á Phú Hãn.
Tổng
thống Horst Koehler, thủ tướng Gerhard Schroeder và ngoại
trưởng Joschka Fischer đại diện cho Đức quốc. Thủ tướng Tony
Blair và hoàng tử Charles đại diện cho Anh quốc. Hoàng tử
Charles là người đã hoãn lại hôn lễ một ngày để tham dự đám
tang. Hoàng đế Juan Carlos của Tây Ban Nha đã tham dự cùng
với nữ hoàng Sophia.
Còn
có tổng thống nước Brazil là Luiz Inacio da Silva, tổng thống
nước Ukraine là Viktor Yushchenko, tổng thống nước Iran là
Mohammad Khatami, tổng thống nước Zimbabwe là Robert Mugabe
và thủ tướng Canada là Paul Martin. Tổng Thư Ký Liên Hiệp
Quốc là ông Kofi Annan đại diện cho cộng đồng thế giới. Ông
Lech Walesa – sáng lập viên Công Đoàn Đoàn Kết và là cựu tổng
thống tiên khởi của Ba Lan sau khi chế độ Cộng Sản của nước
nầy sụp đổ – đã tháp tùng tổng thống đương nhiệm.
Các
đệ nhất phu nhân hay hoàng hậu, đều khoác khăn choàng đen.
Đẹp nhất, như một tài tử điện ảnh Mỹ, là hoàng hậu Raina của
xứ Jordan. Nghiêm chỉnh nhất là hoàng hậu Paola của Bỉ và
phu nhân tổng thống Pháp là Bernadette Chirac. Dịu dàng và
kín đáo là ngoại trưởng Condoleezza Rice của Hoa Kỳ.
Nghi
thức khâm liệm
Trước
khi quan tài được khiêng ra Công Trường Thánh Phêrô, Đức Tổng
Giám Mục Stanislaw Dziwiz, theo nghi lễ cổ truyền, đã che
mặt Đức Thánh Cha bằng một tấm lụa trắng. Đức Tổng Giám Mục
Piero Marini, trưởng ban nghi lễ, để hai đồ vật trong quan
tài. Đó là một túi nhỏ đựng những đồng tiền Vatican bằng vàng
và bạc được đúc trong triều đại giáo hoàng của Đức Thánh Cha
Gioan Phaolô Đệ Nhị và một ống bằng kim khí lưu giữ tiểu sử
của Ngài viết bằng La ngữ.
Tài
liệu nầy được đọc lên trước khi đặt vào trong quan tài. Tài
liệu ghi lại “cuộc đời và những
thành quả quan trọng nhất của Đức cố Giáo Hoàng”,
theo đó Ngài đã qua đời ngày 02 tháng tư năm 2005, lúc 9 giờ
37 phút tối và “toàn thể Giáo Hội,
đặc biệt là giới trẻ, đã đồng hành trong cuộc ra đi của Ngài
bằng lời cầu nguyện”. Tài liệu còn ghi tiếp: “Đức
Thánh Cha Gioan Phao-Lồ Đệ Nhị là vị Giáo Hoàng thứ 264. Ngài
sống mãi trong con tim của Giáo Hội và của cộng đồng nhân
loại.”
Đó
là một triều đại giáo hoàng dài hơn 26 năm, “một
trong những triều đại lâu dài nhất của lịch sử Giáo Hội” và
được diễn biến trong một thời điểm có nhiều đổi thay lớn lao
trong lịch sử.
Giữa
những đề tài chính của triều đại giáo hoàng nầy được nổi bật
nhất là lòng yêu thương của Ngài đối với giới trẻ, sự cổ võ
cuộc đối thoại với người Do-Thái và những thành phần các tôn
giáo khác, sự nhiệt thành cầu nguyện bằng tràng chuỗi Mân
Côi và sự “khôn ngoan cùng can đảm”
theo đó Ngài đã đề xướng những giáo huấn của Giáo
Hội Công Giáo.
Kế
đó, Đức Tổng Giám Mục Stanislaw Dziwicz, thư ký riêng của
Đức Thánh Cha trên hơn ba mươi năm và Đức Tổng Giám Mục Piero
Marini, giám đốc nghi lễ của Đức Thánh Cha, đã phủ một tấm
lụa trắng trên khuôn mặt Ngài.
Đức
Hồng Y Eduardo Martinez Somalo, chưởng ấn của Giáo Hội, giải
thích nghi thức đó cho những người hiện diện như sau: “Chúng
ta phủ mặt Ngài với sự tôn kính trong niềm cậy trông sâu xa
là Ngài được chiêm ngắm dung nhan Cha trên trời, cùng với
Đức Trinh Nữ Maria và toàn thể các Thánh.”
Tiếp
theo đó, Đức Hồng Y đã cầu nguyện với Chúa: “Ước
gì diện mạo của Ngài mà ánh sang trần gian không còn chiếu
giải nữa, sẽ được chiếu sáng đến muôn đời bởi ánh sáng chân
thật phát xuất từ nguồn sáng chẳng hề tắt của Chúa. Ước gì
diện mạo Ngài bị che khuất khỏi chúng con, được chiêm ngắm
vẻ đẹp muôn đời của Chúa.”
Sau
đó, Đức Hồng Y Eduardo Martinez Somalo rảy nước thánh trên
thi thể Đức Thánh Cha và tiếp theo, quan tài bằng gỗ bách
được đóng kín lại. Trên quan tài của Đức Thánh Cha có khắc
một cây thánh giá đơn sơ và chữ “M” – chữ tắt của Mẹ Maria.
Đài
truyền hình chính thức của nước Ý là RAI UNO, cho biết một
nắm đất lấy từ Wadowice – thành phố Đức Thánh Cha sinh ra
– đã được pha trộn với đất ở nơi nhà nguyện mà Đức Thánh Cha
được chôn cất và bỏ vào trong quan tài. Tuy nhiên, tiến sĩ
Navarro-Valls cho biết ông không thể kiểm chứng tin nầy.
Thánh
lễ an táng
Khoảng
ba trăm ngàn người đã đứng sát nhau trong hàng cột bao quanh
công trường Thánh Phêrô, trong khi một số khác khoảng hai
trăm năm mươi ngàn người tụ tập tại các nẻo đường bao quanh
Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô. Một nửa triệu người khác
đã tập họp ở những nơi trọng yếu khác trong thành phố để theo
dõi Thánh Lễ qua hai mươi bảy màn truyền hình lớn.
Ở
một địa điểm, một thông dịch viên người Ba Lan cầm máy vi
âm thông dịch cho khách hành hương Ba Lan. Tại một địa điểm
khác, khách hành hương được diễn giải bằng tiếng Đức.
Đúng
mười giờ sáu phút sáng, mười hai vệ binh Thụy Sĩ của giáo
hoàng trong trang phục nghi lễ với găng tay trắng đã khiêng
quan tài ra khỏi Vương Cung Thánh Đường và đặt trên một tấm
thảm Á Đông trải trên nền đá ở trước bàn thờ lộ thiên.
Ánh
mặt trời le lói qua các cụm mây. Một cơn gió lộng thổi qua
Công Trường, cuốn những tà áo đỏ của các vị hồng y. Ở trên
quan tài, Đức Tổng Giám Mục Piero Marini đặt một quyển Thánh
Kinh bọc da màu đỏ mà cơn gió đã lật qua một số trang rồi
tự gập lại.
Một
hồi chuông chiêu mộ ngân lên khi quan tài được đặt xuống một
cách trang trọng. Ca đoàn nhà nguyện Sixtine cất lên bài ca
“Requiem in aeternam” (Xin
Chúa cho Ngài được nghỉ an đời đời) để mở đầu Thánh Lễ do
Đức Hồng Y Ratzinger, Niên Trưởng Hồng Y Đoàn chủ tế.
Ngoài
ra còn có sự tham dự của 163 trong tổng số 183 hồng y trên
toàn thế giới, của 500 giám mục với sắc phục màu đỏ và 3000
linh mục.
Đức
Hồng Y Ratzinger là vị sau nầy sẽ được bầu làm đưong kim giáo
hoàng, với danh hiệu Bênêđitô XVI. Ngài là người xứ Bavaria
và cộng sự viên của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị trong
gần ba thập niên. Ngài đã phục vụ trong chức vị Tổng Trưởng
Thánh Bộ Bảo Vệ Tín Lý và Đức Tin.
Hai
ca đoàn hát lên những thánh ca bằng tiếng La Tinh cùng với
sự hòa nhạc của một cây đàn trong Vương Cung Thánh Đường.
Thánh Lễ được cử hành bằng tiếng Ý và tiếng La Tinh cùng với
việc tuyên xưng đức tin qua Kinh Tin Kính của Công Đồng Nicene.
Những bài Thánh kinh trong Thánh Lễ được đọc bằng tiếng Tây-Ban-Nha,
tiếng Anh và tiếng La-tinh.
Lời
nguyện giáo dân được đọc bằng tiếng Pháp, tiếng Swahili, Tagalog,
Ba-Lan, Đức và Bồ-Đào-Nha. Những lời nguyện đó hướng đến việc
cầu xin cho linh hồn Đức cố Giáo Hoàng được nghỉ an đời đời,
cho Giáo Hội Công Giáo được trung thành và đổi mới, cho sự
hòa bình công chính trên thế giới, cho linh hồn những vị giáo
hoàng đã ra đi trước đây và cho tất cả những linh mục quá
cố, cho tất cả những giáo hữu đã qua đời và cho mọi người
hiện diện trong dịp lễ an táng nầy.
Trong
Thánh Lễ, Công Trường Thánh Phêrô bị tràn ngập bởi rừng cờ
xí tung bay trước gíó, trong đó có nhiều cờ trắng đỏ của Ba
Lan. Một số lá cờ của Ba Lan in hình chim đại bàng, biểu hiệu
tinh thần quốc gia và sự tự do. Những lá cờ khác thuộc những
thành phố Ba Lan rất khăng khít trong con tim của Đức Thánh
Cha khi sinh thời.
Dân
chúng đã trưng lên những biểu ngữ với hàng chữ “Santo
Subito” với ý nghĩa là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô
Đệ Nhị cần được phong thánh ngay.
Đức
Hồng Y Ratzinger đã thuyết giảng trong hai mươi phút bằng
tiếng Ý. Đối với vị giáo sĩ nầy mà bình thường tỏ ra lạnh
nhạt và khó lay chuyển, đó là một kinh nghiệm hết sức xúc
động. Ngài đã thuyết giảng như sau:
"Hãy
theo Thầy!" Khi Chúa Giêsu
Phục Sinh, Ngài đã nói những lời nầy với vị Tông Đồ Phêrô.
Đó là những lời cuối cùng của Ngài cho vị môn đệ nầy là người
được Ngài chọn để chăn dắt đoàn chiên.
"Hãy
theo Thầy!" Câu nói nền
tảng của Chúa Kitô có thể được xem như là mấu chốt để có thể
hiểu được thông điệp mà Thiên Chúa muốn gởi đến qua cuộc đời
của vị Cha Chung quá cố kính yêu của chúng ta là Đức Thánh
Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị.
Ngày
hôm nay, chúng ta an táng Ngài nơi lòng đất như là hạt giống
của sự bất tử – trái tim của chúng ta trào dâng rất nhiều
nổi buồn đau, nhưng cũng đồng thời chan chứa thật nhiều niềm
hy vọng vui sướng và lòng biết ơn, ngưỡng mộ sâu sắc.
...
... ...
Không
ai trong chúng ta lại có thể quên được Chúa Nhật Phục Sinh
cuối cùng của đời Ngài. Đức Thánh Cha – dẫu đau khổ tột bực
– vẫn một lần nữa tiến ra cửa sổ của Dinh Thự Tông Đồ, và
lần cuối cùng, Ngài chúc phúc cho chúng ta, – urbi et orbi
(cho thành phố Roma và cho toàn thế giới).
Chúng
ta có thể chắc chắn rằng vị Giáo Hoàng khả kính của chúng
ta ngày hôm nay, cũng đang đứng tại cửa sổ nhà Cha, để nhìn
xuống và chúc phúc cho tất cả chúng ta. Vâng, xin hãy chúc
phúc cho chúng con, hỡi Đức Thánh Cha!”
Trong
khi nói như thế, Đức Hồng Y chỉ tay lên cửa sổ Dinh Thự Giáo
Hoàng mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị thường hay đứng.
Đức Hồng Y tỏ ra rất xúc động.
Đức
Hồng Y muốn nhắc lại biến cố trước đây: trong khi các màn
ảnh truyền hình hướng lên cửa sổ căn phòng của Đức Thánh Cha,
Ngài đã được đưa tới đó ngày 27 tháng ba vừa qua để ban phép
lành long trọng nhân lễ Phục Sinh cho Giáo Hội và thế giới,
nhưng Ngài không thể thốt lên lời nào được.
Bài
thuyết giảng của Đức Hồng Y Ratzinger đã bị đứt khoảng mười
ba lần vì những tràng pháo tay nổ vang, một điều ít khi xảy
ra trong những ngôi thánh đường ở Hoa Kỳ, nhưng xảy ra rất
thường ở Âu châu.
Thánh
lễ càng diễn tiến, mây đen trở nên dày đặc và mặt trời thỉnh
thoảng biến mất. Gió thổi lên và làm tung mái tóc bạc phơ
của Đức Hồng Y.
Thánh
lễ tiếp tục, cộng đoàn trao nhau những cái bắt tay chúc bình
an cho những người ngồi bên cạnh: đó là phần lễ nghi do Công
Đồng Vatican II đem vào phụng vụ. Đến lúc rưóc lễ, ba trăm
hai mươi linh mục tỏa ra giữa dân chúng để trao ban Mình Thánh
Chúa cho hằng trăm ngàn người chờ đợi rước lễ.
Trong
Thánh Lễ an táng của Đức Giáo Hoàng – cũng như thánh lễ an
táng của bất kỳ người Công Giáo nào, sau phần rước lễ là nghi
thức “tán dương cuối cùng và vĩnh
biệt”.
Tuy
nhiên, không giống những thánh lễ an táng của hầu hết những
người Công Giáo khác, ở đây Kinh Cầu Các Thánh được hát lên
lúc gần cuối lễ và nghi thức cầu nguyện vĩnh biệt lần nầy
được nối tiếp bởi những lời cầu của Giáo Hội thành phố Roma
là giáo phận của Đức Thánh Cha và bởi những lời cầu nguyện
của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương bởi những giám mục
của họ đứng trước quan tài với lễ phục màu đỏ và vàng hoặc
trắng, đen hay đỏ tươi.
Kế
đó, với trầm hương và nước thánh, Đức Hồng Y Ratzinger đã
làm phép quan tài và ca đoàn hát lên: “Tôi
tin Chúa đã phục sinh và đang sống và một ngày kia tôi cũng
sẽ sống lại với Ngài.” Tang lễ kết thúc với cộng
đoàn cùng hát: “Ước mong các thiên
thần đưa đón cha vào nước thiên đàng; ước mong khi cha đến
nơi, các thánh tử đạo đón tiếp cha và dẫn đưa cha đến đền
thánh Giê-ru-sa-lem.”
Sau
đó Đức Hồng Y Ratzinger và Hồng Y Đoàn trở lại Vương Cung
Thánh Đường Thánh Phêrô, trong khi những vệ binh Thụy Sĩ khiêng
quan tài Đức Thánh Cha lên vai.
Khi
lên đến tầng cấp cao nhất trước Vương Cung Thánh Đường, họ
quay quan tài lại về phía dân chúng để mọi người được chiêm
ngưỡng một lần cuối cùng bằng những tràng pháo tay kéo dài.
Rồi họ từ từ quay quan tài trở lại tư thế cũ và biến dần trong
Vương Cung Thánh Đường.
Giới
trẻ vang lên những tiếng “Gioan
Phaolô! Gioan Phaolô!” bằng tiếng Ý trong khi
các chuông của Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ngân lên
trầm buồn.
Nghi
thức an táng
Đi
theo quan tài Đức Thánh Cha vào bên trong Vương Cung Thánh
Đường Thánh Phê-rô để dự buổi an táng là Đức Hồng Y Martinez
Somalo, ba vị hồng y thâm niên và những phụ tá thân cận nhất.
Đại
diện những cộng đoàn Kitô Giáo khác trong đoàn người đi theo
quan tài Đức Thánh Cha đến mộ phần là Đức Thượng Phụ Đại Kết
Chính Thống Giáo Bartholomew Constantinople, vị lãnh đạo tinh
thần của Chính Thống Giáo thế giới và Đức Tổng Giám Mục Rowan
Williams Canterbury, thủ lãnh Anh Giáo.
Trong
khi đoàn người đi theo quan tài tiến tới hầm mộ ở dưới Vương
Cung Thánh Đường Thánh Phêrô, ca đoàn hát Thánh Vịnh với điệp
khúc “Ước gì Chúa đón cha vào nước
Thiên Đàng.”
Ở
trong nhà nguyện mà Đức Thánh Cha sẽ được chôn cất, một phó
tế đã cầu xin Chúa giải thoát linh hồn Ngài “khỏi
những quyền lực của sự tối tăm, xin tha thứ những tội lỗi
của Ngài, chấp nhận những việc thiện mà Ngài đã làm, xin ban
cho Ngài sự bình an và cho phép Ngài được gia nhập vào đoàn
ngũ các Thánh”.
Tiếp
theo, quan tài được đưa vào hầm mộ dưới lòng Vương Cung Thánh
Đường. Một số hồng y danh dự đứng ngoài hầm mộ. Các vị lấy
nón đỏ trên đầu ra để tỏ dấu hiệu cung kính lần cuối cùng.
Tiến
sĩ Joaquin Navarro-Walls – phát ngôn viên của Tòa Thánh Vatican
– cho biết một cây thánh giá đơn sơ và một tấm bảng bằng đồng
trên đó có khắc tên Đức Thánh Cha được đặt lên đầu quan tài
bằng gỗ bách được đóng kín và đặt trong một quan tài khác
cũng bằng gỗ có viền kẽm. Sau cùng quan tài nầy cũng được
đặt vào một quan tài bằng gỗ khác và được đưa vào lòng đất.
Chính
ngôi mộ đó trước đây đã chôn cất thi hài Đức Thánh Cha Gioan
XXIII cho tới khi Ngài được phong Chân Phước. Từ đó quan tài
của Ngài được dời lên trên lòng Vương Cung Thánh Đường.
Tiến
sĩ Navarro-Valls cho biết thêm là Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ
Đệ Nhị được chôn cất giữa hai phụ nữ duy nhất được chôn ở
trong hầm dưới Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô là Nữ Hoàng
xứ Cyprus và Nữ Hoàng Christina nước Thụy Điển ở thế kỷ thứ
mười bảy.
“Hoàn
toàn im lặng!”
Đức Hồng Y Roger Mahoney của Tổng Giáo Phận Los Angeles đã
nói với “Washington Post” như thế. “Khi
an táng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị xong và ai nấy ra
về hết rồi, chúng tôi đã trở lại phòng thánh và cởi áo lễ
ra, không ai nói với nhau một lời, không một lời nào hết.”
Đây
là tang lễ lớn nhất, đông nhất, của hai ngàn năm lịch sử Giáo
Hội Công Giáo. Lần trước, được coi đông người nhất, là tang
lễ của Đức cố Giáo Hoàng Phaolồ VI vào năm 1978. Năm đó, có
100 ngàn người tham dự.
Tổng
thống Bush có lý, khi nói rằng tang lễ của Đức Thánh Cha Gioan
Phaolồ Đệ Nhị là một trong những biến cố ý nghĩa nhất trong
sự nghiệp tổng thống của ông. Một biến cố mà nhiều người sẽ
ghi nhớ mãi mãi.
Trong
khoảng khắc, Vatican trở thành thủ đô của thế giới, trái tim
của nhân loại. Và những người bình thường đều thấy rằng mình
vừa vĩnh biệt một vị thánh. Thế giới sau này sẽ nhớ đến tang
lễ Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ Đệ Nhị, một biến cố thực sự
toàn cầu, được hai tỷ người – tức một phần ba nhân loại –
cùng trực tiếp theo dõi trên màn ảnh truyền hình.
Dù
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ra đi, nhưng những sách của
Ngài vẫn thuộc loại bán chạy nhất. Từ đầu năm đến nay, “Atria
Books” đã tái bản lần thứ ba cuốn “Memory
and Identity” (Ký Ức và Căn Tính); và “Rise,
Let Us Be on Our Way” (Đứng Dậy, Chúng Ta Cùng
Đi). Cuốn “Crossing the Threshold
of Hope” (Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng) của nhà
xuất bản Knopf biến mất hoàn toàn trên thị trường sau khi
tin Đức Thánh Cha qua đời được loan báo.
Di
chúc của Đức Thánh Cha
Không
tích lũy một chút của cải vật chất nào, Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô Đệ Nhị quan tâm nhiều nhất đến những vấn đề khác trong
di chúc mà Ngài đã viết trong những cuộc tĩnh tâm Mùa Chay
kể từ năm 1971.
Trong
những năm đầu triều đại giáo hoàng, xem ra Ngài nghĩ tới việc
được chôn cất ở Ba Lan và gợi ý là hàng giáo phẩm nơi đó sẽ
lo liệu. Tuy nhiên, càng về sau, Ngài để cho Hồng Y Đoàn có
quyền quyết đoán tối hậu.
Ngài
đã ghi chú là được chôn “dưới đất
không” với một “tấm
bia đơn giản”. Di chúc đó được viết tay bằng tiếng
Ba Lan rồi dịch ra tiếng Ý bởi Tòa Thánh Vatican trước khi
được phổ biến.
Vào
đầu năm 1980, Ngài đã thổ lộ tâm trạng thất vọng đối với Đảng
Cộng Sản Ba Lan. Ngài đã ghi chú như sau: “Hành
trình của Giáo Hội đã trở nên khó khăn và đầy căng thẳng,
đối với giáo dân cũng như giáo sĩ.”
Vào
năm 1990, Ngài cảm tạ Chúa là các chế độ Cộng Sản ở Đông Âu
đã sụp đổ mau lẹ mà không phải qua một trận chiến nguyên tử.
Sau
cuộc ám sát hụt năm 1981, Đức Thánh Cha đã viết là đời sống
của Ngài tùy thuộc vào Thiên Chúa: “Tôi
hy vọng Ngài sẽ giúp đỡ tôi nhận biết tôi phải tiếp tục trong
công tác mục vụ nầy bao lâu. Tôi cầu xin Ngài gọi tôi về khi
chính Ngài muốn thế.”
Trong
di chúc, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đã yêu cầu vị thư
ký riêng của Ngài là Đức Tổng Giám Mục Stanislaw Dziwiz đốt
hết những lời ghi chép của Ngài và phân phát những vật dụng
của Ngài. Hoa hồng thu được từ những quyển sách Ngài viết
đã được chỉ định cho những cơ quan từ thiện.
Ngài
đã kết thúc di chúc của Ngài bằng những dòng chữ sau đây:
“Trong
khi phần cuối cuộc đời dương thế của tôi đang tới gần, với
ký ức buổi ban đầu, tôi hướng về cha mẹ, người anh và người
chị của tôi (mà tôi không được biết vì chị đã qua đời trước
khi tôi sinh ra), với giáo xứ Wadowice mà tôi đã được nhận
lãnh Bí Tích Thánh Tẩy, thành phố thân yêu của tôi, những
người thân thuộc, bạn bè từ thời mẫu giáo, trung học, đại
học, cho tới thời gian bị chiếm đóng, khi tôi là một công
nhân.
Và
rồi giáo xứ Niegowice và giáo xứ Thánh Florian ở Krakow, công
tác mục vụ ở đại học, mọi môi trường… Krakow và Roma… những
người mà bằng một cách đặc biệt được Chúa giao phó cho tôi.
Với tất cả, tôi muôn nói lên một điều: Xin Chúa trả công cho
quý bạn!”
Câu
cuối cùng của di chúc, bằng tiếng Latinh: “In
manus tuas, Domine, commendo spiritum meum” –
với ý nghĩa như sau: “Trong tay
Ngài, lạy Thiên Chúa, con xin phó thác thần trí của con.”
Ba
Lan than khóc
Không
nơi nào mà sự ra đi của Đức Thánh Cha đã có một tác động mãnh
liệt như ở Ba Lan, quê hương của Ngài. Tổng thống Aleksander
Kwasniewski ra lệnh treo cờ rũ và những Thánh Lễ đặc biệt
lôi cuốn từng ngàn người ngay trước khi Đức Thánh Cha được
an táng.
Một
ngày trước lễ an táng, tức thứ năm ngày 7 tháng 4, gần một
triệu người đã tụ họp ở Blonie Meadow ở Krakow, nơi mà Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị thường dâng Thánh Lễ khi Ngài
trở lại thành phố mà Ngài đã làm giám mục, tổng giám mục và
hồng y trong gần hai mươi năm.
Một
số tám trăm ngàn người khác đứng xem lễ an táng trên những
màn ảnh lớn. Dân chúng hát theo những bài thánh ca quen thuộc
được phát thanh. Nhiều người tham dự thuộc thành phần giới
trẻ mà Đức Thánh Cha đã ra sức đem họ trở về và nhiều người
trong đám đó mang áo trắng hay băng trắng để vinh danh Ngài.
Hằng
trăm ngàn người Ba Lan khác tụ tập ở Công Trường Warsaw’s
Pilsudski để canh thức, trong khi cuộc sống công cộng ở thủ
đô và bất cứ ở nơi nào khác trên đất nước Ba Lan đều khựng
lại. Các hãng xưởng, tiệm buôn và học đường ở nơi thủ đô cổ
kính Warsaw đều đóng cửa.
Ở
bên ngoài thánh đường bà Thánh Anna, một biển hoa cùng những
đèn cầy đã tràn ngập các đường sá. Sau Thánh Lễ an táng, pháo
binh Ba Lan đã bắn hai mươi sáu phát sung đại bác, mỗi phát
tượng trưng cho một năm của triều đại Ngài.
Người
Công Giáo và Do Thái Giáo gặp nhau ở nguyện đường duy nhất
của Do Thái tại Warsaw để khóc thương một nhân vật vĩ đại
đã làm rất nhiều ngõ hầu đem hai tôn giáo xích lại gần nhau.
Ở Wadowice là thành phố nhỏ mà Ngài Karol Wojtyla sinh ra
năm 1920, khoảng mười lăm ngàn người tập họp ngoài thánh đường
mà Ngài đã được rửa tội.
Người
Ba Lan không giới hạn việc than khóc ở trong nước mà thôi.
Hàng ngàn người đã sang Roma để tham dự Thánh lễ. Những chuyến
xe lửa đặc biệt đã rời Warsaw tối thứ tư với hành trình hơn
ba mươi tiếng đồng hồ để đến ga Ostia ở ngoại ô kinh thành
muôn thuở mà họ chỉ đến được vào nửa đêm thứ năm.
Hàng
chục người chen chúc nhau trong các toa xe lửa mà không còn
một chỗ trống. Khi xe lửa đi qua Czestochowa, nơi có Thánh
tượng Đức Mẹ Đen mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đã rất
tha thiết, ấp ủ trong lòng, những người trẻ đã hát kinh “Lạy
Cha” và kinh “Kính Mừng”.
Một
sinh viên Ba Lan đã tóm lược cảm tưởng của nhiều người, khi
anh ta nói với ký giả Christophe Chatelot của tạp chí “Le
Monde” là nhóm của anh cảm thấy vừa vui vừa buồn. Có
thể Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị không hiện diện trong
con tim mỗi người Ba Lan, “nhưng
tất cả chúng tôi đều buồn vì đã mất đi một nhân vật vĩ đại
như Ngài”, anh nói.
Tiếng
vọng từ Trung Hoa Lục Địa
Khi
tin tức về sự ra đi của Đức Thánh Cha được loan báo, nhà cầm
quyền Cộng Sản Hoa Lục đã huy động các lực lượng an ninh chìm
nổi theo dõi ngày đêm các cộng đoàn Công Giáo Thầm Lặng.
Về
phía Giáo Hội Yêu Nước của chính phủ, ban đầu nhiều linh mục
còn dè dặt. Tại một nhà thờ trong khu vực thương xá Wangfujing,
gần Thiên An Môn, cha sở chỉ cho dán một thông cáo ở ngoài
cửa nhà thờ để cộng đoàn xúm nhau đọc, ai muốn hiểu sao thì
hiểu, cha sở không dám bình luận thêm. Nhưng đó chỉ là số
ít không đáng kể.
Ngay
tại Vương Cung Thánh Đường phía nam thủ đô Bắc Kinh trong
khu Xuan Wu Men là nhà thờ lớn nhất tại thủ đô Bắc Kinh, vào
sáng Chúa Nhật ngày 3 tháng 4, cha Sun Shangen đã thông báo
việc Đức Thánh Cha qua đời với cộng đoàn như sau: “Thiên
Chúa đã gọi Ngài về yên nghỉ trong vòng tay từ ái. Ngày hôm
nay chúng ta hãy nghĩ đến Ngài trong những ý nguyện của mình.
Chúng ta hãy cầu xin ơn Chúa cho Ngài sớm hưởng phước Thiên
Đàng.”
Cha
Sun Shangen công khai nhắc lại ước mơ chưa tròn của Đức Thánh
Cha là viếng thăm hai nước Á châu: Trung Hoa và Việt Nam.
Đồng thời cha bày tỏ tình hiệp thông hoàn toàn với Tòa Thánh.
Tại
các nhà thờ khác trực thuộc Giáo Hội Yêu Nước được chính phủ
nhìn nhận, các linh mục công khai tán dương công đức của Đức
Thánh Cha và không ngần ngại nhắc đến biến cố các chế độ Cộng
Sản bị sụp đổ tại Đông Âu.
Các
linh mục công khai bày tỏ sự hiệp thông với Tòa Thánh và tổ
chức các buổi cầu nguyện hết sức trọng thể. Các linh mục cũng
nhấn mạnh nhiều lần đến hai chữ “Đừng
Sợ!” mà Đức Thánh Cha thường hay nhắc nhở.
Đối
với Giáo Hội Thầm Lặng, nhà nước Trung Quốc một mặt cảnh cáo
công khai, một mặt theo dõi ngày đêm.
Tại
tỉnh Hà Bắc, nơi tập trung đông đảo dân Công Giáo, công an
ập đến nhà Đức Cha Giuliô Jia Zhiguo. Họ không bắt ngài vì
tình trạng sức khỏe của ngài quá thê thảm. Đức Cha chỉ được
phép dâng Thánh Lễ cầu hồn cho Đức Thánh Cha tại nhà nguyện
riêng với hai người giúp lễ mà thôi, ngoài ra không ai khác
được phép tham dự lễ cầu hồn hết.
Cũng
thế, Đức Cha Giuse Zhang Weizhu của Xianxian cũng bị công
an canh chừng nghiêm nhặt.
Tuy
nhiên, bằng cách nào đó, các linh mục và giáo dân vẫn có thể
làm lễ chui để cầu nguyện cho Đức Thánh Cha. Một giáo dân
cho phóng viên UCAN biết là các tín hữu tại đây đã để hình
Đức Thánh Cha ở chính giữa bàn thờ: “Chúng
tôi cảm thấy an ủi vì trong Thánh Lễ cha sở đọc những bản
tin cho biết trước khi qua đời Đức Thánh Cha trối lại đừng
khóc và hãy vui vẻ.”
Tại
giáo phận Tianjin, Đức Cha Stêphanô Li Side cũng bị canh gác
ngày đêm. Cả Đức Cha phụ tá Melchior Shi Hongzhen cũng bị
canh chừng.
Tại
giáo phận Wenzhou, năm ngàn người Công Giáo thầm lặng đã tham
dự Thánh Lễ cầu nguyện cho Đức Thánh Cha, nhưng phải chia
thành nhiều lễ, mỗi lễ chỉ vài trăm người.
Tại
giáo phận Fuzhou, cách 1630 cây số về phía đông nam Bắc Kinh,
một nữ tu cho biết: “Nhiều người
trong chính quyền địa phương nói họ cũng có cảm tình với Đức
Thánh Cha nên muốn làm gì thì làm.”
Phản
ứng từ phía Nga Sô
Cảm
tình đối với Công Giáo của người Nga gia tăng đáng kể trong
vòng 5 năm qua theo một cuộc nghiên cứu vừa được công bố.
Cuộc
nghiên cứu do cơ quan “Obshczestvennoe mnenie” (Ý
kiến công chúng) cho thấy 30% dân Nga
bày tỏ cảm tình đối với Công Giáo. Con số này gia tăng
đáng kể so với cuộc nghiên cứu được thực hiện vào năm
2000 vì vào năm đó, chỉ có 16%
dân Nga bày tỏ cảm tình với Công Giáo.
Cuộc
nghiên cứu cũng cho thấy số người Nga
“không ưa” Công Giáo đã giảm từ
9% xuống còn 5% trong vòng 5 năm qua.
Cơ
quan “Obshczestvennoe mnenie” cũng cho biết một con
số đáng kể là đến 77% dân Nga đã theo dõi buổi trực tiếp truyền
hình thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị hôm
8/4/2005. Hơn 46% người được hỏi nhận định rằng cái chết của
Đức Thánh Cha là một mất mát lớn lao cho thế giới.
Cuộc
điều tra đã phỏng vấn 1500 người cư ngụ trên 100 thành phố
và làng mạc cho thấy dù Tòa Thượng Phụ Chính Thống Giáo Nga
thường có những lời lẽ không đẹp đối với Công Giáo và cá nhân
Đức Thánh Cha Gioan Phaolồ Đệ Nhị, nhưng Ngài có một ảnh hưởng
sâu đậm đối với người tín hữu Nga, và khơi dậy cảm tình của
họ đối với Giáo Hội Công Giáo.