Lễ
Thánh Giuse Thợ - 1.5.2007
LỄ
VẬT TỪ LÒNG CUỘC ĐỜI
Giáo Hội luôn thích
nghi với hoàn cảnh. Ngày xưa Giáo Hội đã đem tinh thần Phúc
âm thấm nhập vào những ngày lễ của dân ngoại, biến các đền thờ
của họ trở thành những thánh đường Ki-tô giáo. Ngày nay, Giáo
Hội sáng tác những bản thánh ca mang âm điệu của thời đại, để
đem đạo vào đời và lôi cuốn giới trẻ.
Cũng
trong chiều hướng ấy, năm 1955, Đức Thánh Cha Pi-ô XII, đã thiết
lập một ngày lễ có tính chất cách mạng, đó là ngày lễ Thánh
Giu-se lao động vào ngày 1.5. Ngài giới thiệu với giới lao động
một mẫu gương toàn hảo, đó là Thánh Giu-se một người thợ khiêm
nhường và kiên nhẫn, công chính và can đảm, đã hy sinh cho Chúa
và cho người khác, âm thầm chịu đựng mọi khổ đau và túng cực,
vui vẻ thỏa mãn những đòi hỏi của khách hàng, xứng đáng làm
bổn mạng cho giới thợ thuyền.
Còn
chúng ta, chúng ta nghĩ gì về lao động? Con người phải làm việc
như sách Sáng Thế Ký đã nói : Thiên
Chúa dựng nên con người và đặt vào vườn địa đàng để chăm sóc
và gìn giữ. Lúc ban đầu, lao động chưa phải là một
hình phạt, hay khổ đau, đó là một sinh hoạt bình thường mang
lại hạnh phúc và những thành quả tốt đẹp.
Thế
nhưng, sau khi con người phản bội cùng Thiên Chúa, thì lao động
trở thành một gánh nặng: Con người
phải đổ mồ hôi mới có cơm gạo mà ăn cho đến lúc trở về với cát
bụi. Sự phản bội của con người đã thay đổi bản chất
của công việc, con người bị cưỡng bức làm việc trong mệt mỏi
lâu dài.
Tiếp
đến, Chúa Giê-su đã mặc lấy thân phận con người, trở nên giống
chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Ngài đã cầm lấy cái cưa, cái đục
của người thợ mộc, để nâng lao động lên một bậc cao quý, biến
nó trở thành những phương tiện thánh hóa và cứu độ. Từ nay giới
lao động không còn là một hạng cùng đinh bị khinh chê, nhưng
đã tìm thấy vinh quang của mình. Nếu chúng ta làm việc như Chúa
Giê-su và như Thánh Giu-se, chúng ta sẽ được cứu thoát. Nếu
chúng ta đi đúng con đường của Thiên Chúa, thì lao động sẽ đem
lại những lợi ích to lớn.
Trước
hết trên bình diện cá nhân. Lao động là một định luật của nhân
loại, nó đem đến cho chúng ta những phương tiện để sinh sống
như Thánh Phao-lô đã dạy : ai không làm thì không đáng ăn. Hay
như người Việt Nam cũng bảo: Tay làm
hàm nhai, tay quai miệng trễ. Hay: Lao
động là vinh quang, lang thang là chết đói.
Tiếp
đến, trên bình diện xã hội. Đời sống chúng ta là một cuộc vay
trả trả vay. Chúng ta sống nhờ người khác thì đến lượt chúng
ta, chúng ta cũng phải giúp đỡ họ. Chúng ta hưởng dùng xăng
dầu, đường muối của người khác, thì chúng ta có bổn phận phải
cung cấp lúa gạo, thịt cá, là kết quả lao công của chúng ta.
Cái triết lý bánh u đi báng qui lại mãi mãi vẫn là một triết
lý thực tiễn nhất trong sinh hoạt xã hội.
Rồi
trên bình diện luân lý. Nhờ làm việc mà chúng ta tránh được
biết bao tật xấu, như tục ngữ đã bảo: Nhàn
cư vi bất thiện. Hay như một câu danh ngôn tây phương
cũng nói: Sự nhàn rỗi là mẹ sinh ra
các nết xấu.
Và
sau cùng, trên bình diện siêu nhiên. Khi chúng ta lao động là
chúng ta cộng tác với Thiên Chúa trong công cuộc sáng tạo, đồng
thời khi chúng ta lao động chúng ta phát triển được những khả
năng và nhân đức, chẳng hạn như kiên nhẫn, cố gắng, trách nhiệm…
Hơn
thế nữa, nếu chúng ta làm việc vì lòng yêu mến Chúa, thì lúc
đó việc làm sẽ trở nên một lời kinh, một phương tiện thánh hóa
bản thân. Vì thế, người ta thường bảo : làm việc là cầu nguyện.
Là
người Ki-tô hữu, chúng ta phải cầu nguyện nhờ làm việc và trong
lúc làm việc. Nếu chúng ta tách biệt lao động và cầu nguyện
thì chúng ta đã bé cái lầm. Trái lại, giữa lao động và cầu nguyện
có một sự liên hệ mật thiết, và giúp đỡ lẫn nhau.
Hơn thế nữa, chúng ta có thể biến chính những việc làm vất vả
của chúng ta trở thành một lời kinh và biến những giọt mồ hôi
trở thành một của lễ. Hãy làm việc vì lòng yêu mến Chúa, nhờ
đó mà việc làm của chúng ta dù nhỏ bé cũng có một giá trị to
lớn trước mặt Thiên Chúa.