Sau khi ưng thuận
và hứa vâng phục Đức Giám Mục, tiến chức đến quỳ gối đặt tay
vào lòng bàn tay Đức Giám Mục. Rồi cộng đoàn đọc kinh cầu Các
Thánh, cả triều thần thánh, cộng đoàn Dân Chúa đều tập hợp và
cầu nguyện cho tiến chức đang nằm phủ phục dưới đất. Đó là hình
ảnh tuyệt đẹp, gây xúc động trong ngày thụ phong linh mục.
Tiến chức nằm phủ
phục dưới đất với cảm thức sâu xa về “cái bình sành dễ vở” nơi
con người của mình. Thân phận con người với những giới hạn của
bản thân luôn mỏng dòn, yếu đuối. Nhờ lời chuyển cầu của các
Thánh và lời cầu nguyện của cộng đoàn dân Chúa mà tiến chức
đón nhận thánh chức Linh mục. Đón nhận hồng ân diệu vợi mà Thiên
Chúa trao ban. Tiến chức từ thân phận
“bụi tro” được Chúa thương
yêu “nâng lên hàng tư tế”, rồi được Chúa
“chọn làm bạn nghĩa thân tình” và còn “ban
muôn thiêng dẫn đưa”.
Qua Bí Tích Truyền
Chức Thánh, linh mục được trao ban những sứ vụ chính yếu là
rao giảng Tin mừng, cử hành các Bí tích và dẫn dắt đoàn chiên
Chúa giao phó. Cả ba chức năng ấy gắn liền và hòa trộn lẫn nhau
chẳng khác nào việc hô hấp, tiêu hóa và tuần hoàn trong cùng
một cơ thể. Lời Chúa không ngừng lại ở ngưỡng cửa Bí tích, mà
luôn âm vang mạnh mẽ vì tất cả các Bí tích đều là những Bí tích
đức tin. Cũng vậy, chức vụ chủ chăn quy tụ Dân Chúa để cử hành
Thánh Thể. Một khi đã dành ưu tiên cho việc phúc âm hóa và quan
tâm đến các con chiên lạc, thì các bổn phận khác sẽ được bảo
đảm và hòa chung trong một chức vụ chăn chiên. Như vậy, linh
mục là người quy tụ mọi người trong Đức Kitô Giêsu, xây dựng
cộng đồng, mở rộng cộng đồng ấy và liên kết với mọi cộng đồng
trên thế giới. Nói cách khác, linh
mục là người đào tạo và làm tăng trưởng Thân Thể Chúa Kitô.
Hội nghị Về Ơn Gọi
III được tổ chức tại Montreal Canada từ Thứ Năm 18/4/2002 hôm
nay tới hết Ngày Chúa Nhật, 21/4/2002. Chủ đề là “Vocación,
Don de Dieu, Given for God’s People - Ơn Gọi, Tặng Ân Thiên
Chúa ban cho Dân Ngài". Hội Nghị này
phát xuất từ lời kêu gọi của ĐTC Gioan Phaolô II. Hai hội nghị
trước được tổ chức lần nhất tại Mỹ Châu Latinh (São Paulo năm
1994) và lần hai tại Âu Châu (Rôma năm 1997). ĐTC đã nhắn nhủ
Hội Nghị Về Ơn Gọi III này như sau:
"Linh
mục đại diện cho Chúa Kitô trong vai trò làm Đầu, làm Chủ Chiên,
làm Tư Tế và Phu Quân, và được kêu gọi để tác hành ‘in persona
Christi Capitis’ (với tư cách Chúa Kitô Thủ Lãnh) vào những
giây phút linh thánh nhất trong việc linh mục phục vụ Giáo Hội”.
Như vậy, linh mục
vừa là người được rửa tội, vừa là người được truyền chức. Trước
hết và luôn luôn, linh mục ở trong cộng đoàn tư tế của dân Chúa,
là chi thể cùng với các chi thể khác trong thân mình của Đức
Kitô. Bởi đó, linh mục trở nên Tư Tế để thánh hoá Dân Chúa đựoc
trao phó cho ngài.
1.
Linh mục được thánh hiến cho Thiên Chúa để trở thành tư tế lo
việc phụng tự
Ngày xưa, Thiên Chúa
đã tuyển chọn các tư tế trong 12 gia tộc Israel. Mỗi tộc trưởng
nộp một cây gậy ghi tên của mình và đặt trước Hòm Bia Thiên
Chúa. Ngày hôm sau, một trong số 12 cây gậy đã đâm chồi và nở
hoa. Đó là cây gậy của ông Aaron, tộc trưởng Lê-vi. Ông Aaron
đã được tuyển chọn để trở thành tộc trưởng của gia tộc tư tế.
Từ đó, các thầy Lê-vi trong gia tộc được thánh hiến cho Thiên
Chúa để trở thành tư tế lo việc phụng tự (Ds 17,16-26).
Thiên Chúa vẫn tiếp
tục kêu gọi và tuyển chọn các linh mục để thánh hiến và sai
đi. Chiếc gậy trong tay người lữ hành đã nở hoa và vẫn mãi nở
hoa trên cuộc hành trình tình yêu.
Người ta mua một
chiếc xe mới liền đến xin Linh Mục làm phép xe cho họ; người
ta mua một ảnh tượng mới cũng tới xin Linh mục làm phép cho
họ; người ta mới mua được chiếc ghe, chiếc thuyền cũng tới xin
Linh mục làm phép; người ta mới cất một căn nhà đẹp cũng đến
xin Linh Mục làm phép nhà cho họ; Linh Mục đến thăm nhà, họ
cũng mời Linh Mục chúc lành cho họ và gia đình...
Không phải người
ta tin dị đoan, nhưng người ta tin Chúa Giêsu nơi con người
của Linh Mục, người ta xác tín Linh Mục là người của Chúa Kitô
đang thay mặt Ngài để giáng phúc cho họ, do đó, dù biết rằng
Linh Mục vẫn chỉ là một con người như họ, có những bất toàn
và những thói hư tật xấu, nhưng họ vẫn tin tưởng và yêu mến
Chúa Kitô nơi vị mục tử của mình.
Trong sắc lệnh về
“Chức vụ và Đời sống linh mục”,
Công Đồng Vatican II có dạy: “Vì được
liên kết với chức Giám Mục, nên chức năng của các linh mục cũng
tham dự vào quyền bính mà chính Đức Kitô đã dùng để kiến tạo,
thánh hóa và cai quản thân mình Người. Vì vậy, chức linh mục
tuy dựa trên các Bí tích khai tâm Kitô giáo (rửa tội, thêm sức
và Thánh Thể), nhưng lại được một Bí tích riêng in dấu đặc biệt
khi họ được Chúa Thánh Thần xức dầu và làm cho nên giống Chúa
Kitô Linh Mục, hầu làm cho họ có khả năng nhân danh Đức Kitô
Đầu mà hành động”.
Trong quyển sách
tựa đề “Hình ảnh mới của Hội Thánh”,
Đức cha Ancel viết như sau: “Muốn
hiểu các linh mục, phải nhìn vào Giám Mục; muốn hiểu các Giám
Mục, phải nhìn vào các tông đồ;muốn hiểu các tông đồ, phải nhìn
vào Đức Kitô xét như Đầu của thân thể, là Đấng sáng lập và cứu
chuộc Hội Thánh, một Hội Thánh đang nhờ trung gian của Chúa
Thánh Thần mà Người đã sai đến để giảng dạy, thánh hóa và dẫn
đưa mọi người về với Chúa Cha”.
2.
Linh mục là người thánh hóa Dân Chúa
Các linh mục được
Thiên Chúa hiến thánh để tham dự đặc biệt vào chức linh mục
của Chúa Kitô. Với nhiệm vụ cử hành các việc thánh, linh mục
hành động như những thừa tác viên của Đấng, nhờ Thánh Thần,
vẫn không ngừng thi hành chức vụ để mưu ích cho chúng dân Chúa.
Nhờ phép rửa, linh mục dẫn đưa con người gia nhập vào Dân Thiên
Chúa; nhờ Bí tích thống hối, linh mục giao hòa tội nhân với
Thiên Chúa và Hội Thánh; nhờ việc Xức dầu bệnh nhân, linh mục
xoa dịu những ai đang đau đớn; nhất là nhờ việc cử hành Thánh
lễ, linh mục tiến dâng hy lễ của Đức Kitô cách Bí tích. Như
thế, tiệc Thánh Thể là trung tâm của cộng đoàn tín hữu mà chủ
sự là linh mục. Ngoài ra, kinh Nhật Tụng hay Phụng Vụ Các Giờ
Kinh làm cho linh mục kéo dài thánh lễ suốt ngày, đồng thời
qua đó, các linh mục nhân danh Giáo Hội, thành khẩn cầu cùng
Thiên Chúa cho toàn dân đã được trao phó cho các Ngài, và hơn
nữa, các Ngài cầu cho toàn thể thế giới.
Đức Thánh Cha Gioan
Phaolô II đã gặp gỡ hàng giáo sĩ của Giáo Phận Rôma vào buổi
sáng ngày 14/2/2002 theo truyền thống hằng năm, tại Sảnh Đường
Clementine. Ngài nhấn mạnh ơn gọi
linh mục “là một mầu nhiệm”, một
mầu nhiệm chính con người hiến thân cho Chúa Kitô để
“Người có thể sử dụng họ như là một dụng cụ cứu độ…
Nếu
không nhận thức thấy mầu nhiệm của việc ‘trao đổi’ này thì cũng
không thể nào hiểu được làm thế nào một người trẻ, sau khi nghe
lời mời gọi ‘hãy theo Thày!’ lại có thể từ bỏ hết mọi sự vì
Chúa Kitô với niềm xác tín rằng, khi bước theo con đường này,
bản vị con người của họ sẽ hoàn toàn được thể hiện. Như thế
chúng ta đã thấy rõ được lý do tại sao việc dấn thân trước hết
và chính yếu cho ơn gọi chính là việc cầu nguyện… Cầu nguyện
cho ơn gọi không phải là và không thể là hoa trái của việc chịu
vậy sau khi đã làm mọi sự có thể với một thành quả nho nhoi…”
Thế giới ngày nay
đang cần đến các linh mục can đảm, yêu thương, những người không
sợ đem tình yêu Thiên Chúa đến với mọi người, giúp thánh hoá
họ, đặc biệt là những ai đang lầm than trong nghèo đói hay đang
vất vả vật lộn với những khó khăn. Đức Thánh Cha Bênêđictô đã
nói như trên với các chủng sinh chủng viện Almo Capranica của
giáo phận Rôma hôm 20/1/2006. Đức Thánh Cha kết luận rằng các
chủng sinh càng "hướng cái nhìn về Chúa Kitô" và "sống
kết hiệp với Ngài", họ càng dễ "trung thành theo bước
chân của Ngài".
3.
Linh mục cần nương tựa vào Chúa để trở thành chỗ tựa nương cho
mọi người
Những người theo
Chúa luôn được mời gọi đi vào cuộc hành trình mục tử của Chúa.
Vì thế, ơn gọi linh mục không gì khác hơn là ơn gọi mục tử:
đi theo Chúa là vị "Mục Tử Nhân Lành" (Ga 10,11) để
trở thành "mục tử như lòng Chúa mong ước" (Gr 3,15).
Như thế, cuộc đời linh mục là cuộc hành trình mục tử gồm hai
khía cạnh: được Chúa dìu dắt để dắt
dìu người khác, được mời gọi trở nên "chiếc gậy mục tử"
của Chúa. Vì thế, chiếc gậy không còn là biểu tượng
"uy quyền hay thống trị", nhưng luôn mang ý nghĩa
"đỡ nâng và dẫn đường".
Cuộc đời linh mục
luôn nở hoa yêu thương giữa trần thế, luôn tỏa hương thơm đức
ái cho mọi người. Linh mục là nhịp cầu yêu thương cho Chúa Giêsu
Mục Tử tiếp tục đến với nhân loại hôm nay. Linh mục trở nên
người "Mục Tử Mới" cho thời đại: biến
đời mình thành "đồng cỏ xanh tươi" với trái tim luôn
tuôn trào "nguồn suối mát" và vắt kiệt đời mình nên
"chén rượu đầy tràn chan chứa" cho mọi người.
Dù thế nào, linh mục vẫn bước đi không ngại ngùng vì tin rằng
"lời nguyện hiến tế" của Chúa dành cho các môn đệ
ngày xưa, vẫn còn tiếp tục dành cho người linh mục hôm nay:
để tình cha đã yêu thương con ở trong họ (Ga 17,26).
Ơn
gọi linh mục chính là một cuộc hành trình tình yêu.
Cuộc hành trình nào mà chẳng có gian truân.
Cuộc ra đi nào mà không phải từ bỏ?
Cuộc hành trình ơn
gọi linh mục có khi đầy gian khó như cuộc hành trình của ngôn
sứ Êlia trên núi Hôreb: để giữ gìn Giao Ước và đức tin, ông
đã bị truy đuổi đến kiệt sức trong cơn tuyệt vọng. Nhưng Chúa
đã sai thiên sứ đến nâng đỡ để ông tiếp tục cuộc hành trình
(1V 19,1-8).
Cuộc hành trình ơn
gọi linh mục cũng đầy thử thách như cuộc hành trình của tổ phụ
Abraham: lên núi sát tế Isaac, người con trai duy nhất. Chúa
đã ban ơn cho ông vì đã thấy lòng tin mạnh mẽ của ông (St 22,1-14).
Cuộc hành trình ơn
gọi linh mục cũng có lúc đầy gian nan như cuộc hành trình tông
đồ của thánh Phaolô. Ngài đã chiến đấu không ngừng, đã chạy
đến cùng đường và giữ vững đức tin (2Tm 4,7).
Dù cuộc hành trình
ơn gọi đầy thử thách và hy sinh, Chúa vẫn đồng hành và nâng
đỡ linh mục. Có cây gậy của Chúa giữ gìn, bảo vệ, linh mục luôn
an tâm vững bước (Tv 23,4). Hoa vẫn nở trên những nẻo đường
gập ghềnh sỏi đá của đời linh mục. Vì thế, cuộc đời linh mục
chính là một lời ngợi ca không ngừng: lòng nhân hậu và tình
thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời (Tv 23,6).
Nếu thánh Phaolô
đã nhận xét về mình trong câu bất hủ: “Nay
tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà Chúa Kitô sống trong tôi”,
thì linh mục
cũng có thể khiêm tốn tự hào nói lên: Nay tôi nói và làm, nhưng
không còn là tôi, mà Chúa Kitô nói và làm qua tôi.
Xin chúc quí tân
linh mục luôn là Vị Thánh Linh Mục để các vị có thể thực sự
trở thành Vị Linh Mục Thánh, thánh hoá Dân Chúa qua tác v ụ
Tư Tế.