Chiêm niệm
Bảy
Sự Thương Khó của Đức Mẹ
Cuộc đời đức Mẹ Maria
là cuộc đời của bà Mẹ có trăm nghìn đau khổ nối tiếp nhau kể
ra không hết. Tước hiệu Đức Bà Sầu
Bi (Our Lady of Sorrows) phần nào nói lên lòng thương
cảm và tôn kính của Kitô hữu đối với Đức Bà. Lòng tôn kính này
phổ biến rộng rãi từ thế kỷ XII. Để Kitô hữu có thể chiêm niệm
sự đau khổ của Đức Mẹ một cách cụ thể, Hội Thánh chọn bảy sự
thương khó tiêu biểu gắn liền với lịch sử cứu độ của Đức Giêsu
để tưởng niệm.
1.
Lời Tiên Tri Của Thầy Cả Simêôn (Sử liệu: Luca
2:22-35; Maria Agreda: The Mystical City of God)
Sau
khi sinh nở được 40 ngày, Đức Maria phải làm lễ thanh tẩy và
dâng con trai đầu lòng lên Thiên Chúa theo luật Do Thái. Thánh
gia hành lễ tại đền Giêrusalem. Trong đền thờ có lão thầy thượng
phẩm Simêôn vẫn hằng cầu nguyện xin được gặp Đấng Cứu Độ trước
khi ông lìa trần. Một đêm, Thánh Linh cho biết ông sẽ thấy Đấng
Kitô vào ngày mai. Hôm sau ông đứng sẵn trước bàn thờ hằng giờ
chờ đợi. Ông thấy thánh gia đi tới có hào quang phủ xung quanh.
Ông nhận ra ngay con trẻ Giêsu là Đấng Mêsia. Ông ẵm Hài Nhi
và xúc động nói: “Giờ đây tôi tớ Chúa
xin được ra đi vì mắt tôi đã thấy ơn cứu độ.” Rồi
ông nói với Đức Maria: “Hài nhi sẽ
là dấu cho người ta chống đối và là sinh mệnh cho nhiều người
ngã xuống hay chỗi dậy trong dân Israen. Còn bà! Một lưỡi gươm
sẽ xuyên thấu hồn bà, nhờ vậy mà ý nghĩ trong những tâm hồn
khác được phơi bày.”
Tuy
được Thánh Linh chỉ dẫn nhưng phát ngôn của Simêôn chỉ là một
trực giác siêu hình, không phải là một hiểu biết, nên ông không
thể giải thích. Cả Simêôn lẫn Đức Bà đều cảm nhận một cái gì
cao cả bao la và hàm chứa nhiều điều không thể khai triển. Những
điều này may ra có thể hiểu được khi chúng ứng nghiệm trong
thời gian. Hài Nhi Giêsu được xác định là một đối tượng bị khổ
nạn (trong xứ Israen) và sẽ mang lại đau khổ cho cha mẹ. Đây
là một đau khổ nội tại, như một thiên mệnh. Có bà mẹ nào không
đau lòng khi biết số phận tương lai con mình như vậy. Nỗi khổ
nạn của Hài Nhi không thể tránh vì nó không phải là một tai
nạn nhưng là nền tảng siêu việt phát sinh ra sự sống cho nhiều
người. Cũng vậy lưỡi gươm đâm thấu tim đức Maria không thể bỏ,
vì nó là nguồn vận hành cho các ý nghĩ (ý thức về Thiên Chúa)
của nhiều tâm hồn được nẩy nở. Đức Maria âm thầm chịu đựng sự
đau khổ từ phút nghe Simêôn nói. Đức Mẹ hồi hộp không biết cái
gì sẽ xảy ra trong ngày mai, nên chỉ biết kéo dài sự thổn thức
lo lắng cho đến hết đời mình.
2.
Lẩn Trốn Qua Ai Cập (Sử
liệu: Mt 2:13-18; Maria Agreda: The Mystical City of God; The
Revelations of St. Bridget)
Khi
Đức Giêsu sinh ra, vua Hêrốt được ba đạo sĩ cho biết có vua
Do Thái mới ra đời. Hoảng sợ bị mất ngôi, Hêrốt ra lệnh tìm
giết Hài Nhi. Sau buổi lễ thanh tẩy nói trên được 5 ngày, thánh
Giuse được thiên sứ báo tin dữ trong giấc mộng. Nửa đêm, thánh
vội vàng thu tóm đồ đạc, lén lút mang Hài Nhi và mẹ Người trốn
sang Ai Cập. Gia tài của thánh gia chỉ có 1 con lừa và ít mẩu
bánh khô. Bấy giờ trời còn trong mùa Đông giá buốt, Đức Mẹ chỉ
là cô gái yếu đuối 17 tuổi, còn Hài Nhi thì mới sinh. Cuộc đi
trốn bằng đường bộ dài 400 dặm xuyên qua sa mạc và những cánh
rừng hoang. Họ đi ban ngày, ban đêm ngủ trên cát sa mạc hay
dưới gốc cây trong rừng sâu. Đức Giuse lấy chiếc áo của mình
phủ lên vài cây cọc để làm lều cho Đức Mẹ và Hài Nhi trú thân.
Sau 30 ngày lạc lõng, đói khát, và giá lạnh, thánh gia thất
thểu tới thành Hêlipôli (Thành Mặt Trời), Ai Cập. Thánh gia
lưu trú tại đó trong 7 năm trời. Cuộc sống của kẻ di cư hết
sức bơ vơ và cùng cực. Đức Giuse làm công thợ mộc và đức Maria
đan áo để sinh sống. Đức Giuse thường bị ông chủ bạc đãi không
trả tiền công. Nhiều lần cả nhà phải nhịn đói, không có đến
một mẩu bánh nhỏ cho Hài Nhi ăn.
Vì
Thiên Chúa truyền cho thánh Giuse đi trốn, nên Đức Mẹ chấp nhận
nỗi đau khổ với lòng khiêm nhường vâng theo Thánh Ý. Không phải
Đức Mẹ không muốn một hoàn cảnh tốt đẹp hơn theo bản tính tự
nhiên của con người, nhưng đức tin và đức cậy thuần khiết giúp
Đức Mẹ vượt lên trên những ước vọng cá nhân trần thế. Vì thế
Đức Mẹ càng nhẫn nhục trong đau khổ thì lại càng chìm sâu trong
tình yêu Thiên Chúa. Nhờ đó Đức Mẹ sống trong Thiên Chúa một
cách sâu xa. Thánh Benard nói: “Nếu
không có đức khiêm nhường thì đức Maria cũng không được Thiên
Chúa chấp nhận,” bởi vì Thiên Chúa đã phán: “Ai
là kẻ được Ta đoái nhìn, ấy là người khốn khó trong tâm hồn
khiêm nhường.” (Is 66:2).
3.
Đức Mẹ Lạc Con Trong Ba Ngày (Sử liệu: Lc 2:41-50;
Maria Agreda: The Mistical City of God)
Lúc
Đức Giêsu lên 12 tuổi, Thánh Gia tới đền Giêrusalem để dự lễ
Vượt Qua. Tới nơi gia đình tách ra làm hai, vì theo tục lệ phái
nam và phái nữ có chỗ thờ tự riêng trong đền thờ. Xong lễ hai
ông bà ra về. Bà tưởng Con đi với ông, trong khi ông tưởng Con
đi với bà. Sau một ngày đường ông bà gặp nhau bấy giờ mới biết
không có Con Trẻ đi theo. Từ đó Đức Mẹ sầu khổ khóc lóc não
ruột không ngừng, bà nghĩ rằng có thể nhà vua tìm ra Con Trẻ
và đã bắt mang đi. Cả ngày hôm sau ông bà tìm kiếm khắp chỗ,
hỏi thăm họ hàng và những người quen nhưng không ai biết gì.
Điều đó càng khiến ông bà sợ hãi hơn. Trong 3 ngày thất lạc
con, Đức Mẹ không ăn và không ngủ. Đức Giuse cũng đau khổ hầu
chết. Cuối cùng ông bà thẫn thờ trở lại đền thờ tìm dấu vết
Con Trẻ. Họ ngạc nhiên thấy Con vẫn còn ở đó đang ngồi nghe
giảng và đặt ra những câu hỏi làm kinh ngạc người nghe.
Đức
Giêsu Hài Đồng vắng mặt trong 3 ngày. Đó là thời gian Đức Mẹ
nghiệm ra ý nghĩa sự hiện hữu của mình. Đức Mẹ, hơn ai hết,
đã được thiên sứ Gabrien mặc khải Hài Nhi là Đấng Kitô. Vì vậy
sự gần gũi với Hài Nhi mang đầy đủ ý nghĩa của sự sống và sức
mạnh nâng đỡ sự hiện hữu. Tuy nhiên Đức Mẹ chưa tiếp cận được
sự siêu việt Hài Nhi là nền tảng chân lý của tôn giáo, là Logos
thành nhân. Cho nên khi Hài Nhi đi sâu vào nội dung tôn giáo,
“Con phải lo việc cho Cha,” Đức Mẹ chưa lãnh hội được trọn vẹn.
Đức Mẹ chỉ thấy rằng mất con là mất tất cả, vì xa lìa Con là
điều bất hạnh không thể chịu đựng nổi. Khi Hài Nhi vắng mặt,
lúc ấy không phải lúc Hài Nhi bị lạc nhưng chính Đức Mẹ là người
bơ vơ vì bị lạc mất điểm tựa.
4.
Gặp Con Vác Thập Giá (Sử liệu: Mt 27:27-31; The
Revelations of St. Bridget)
Tin
Đức Giêsu bị kết án tử hình được thánh Gioan chạy về báo cho
Đức Mẹ, lúc ấy đang tạm trú ở nhà bà Martha. Đức Bà vội cùng
thánh Gioan và bà Mađalêna theo dấu máu rơi trên mặt đất chạy
theo Đức Giêsu. Đức Mẹ gặp Con khi Người đang oằn lưng đi siêu
vẹo vác cây gỗ nặng trên vai, lê bước đến núi Calvariô. Đức
Giêsu lúc ấy không còn nhận ra hình dạng con người. Đầu Người
bị quấn bởi một vòng gai to, tóc rối bù quyện với máu, áo tả
tơi, từ đầu đến chân mang đầy vết bạo hành, máu tươi còn nhỏ
giọt. Bao quanh Người là nhóm lính mang những khí cụ xử tử như
dây thừng, búa đinh, và giáo mác. Một số khác vung roi xích
sắt vùn vụt và chửi bới ầm ĩ. Đức Giêsu dừng lại, đầu rũ xuống
ngực, Người cố gắng lấy tay gạt máu phủ mắt để thấy Đức Mẹ.
Hai Mẹ Con đứng lặng nhìn nhau. Không gian ngưng đọng. Một tên
lính vừa cười ngạo ha hả vừa rung chuỗi đinh trước mặt Đức Mẹ.
Đức Giêsu ngã qụy xuống, cây gỗ dộng mạnh trên vai, đầu cây
gỗ đập vòng gai đâm sâu vào đầu Người. Đức Mẹ chạy lại quì xuống
ôm lấy Con. Bọn lính la hét xô Đức Mẹ ra. Thánh Gioan và bà
Mađalêna dìu Đức Mẹ ra ngoài. Đức Giêsu gượng dậy cúi mặt tiếp
tục bước đi.
Đức Giêsu tự đến Giêrusalem nộp mình để bị xử tử. Như vậy cuộc
khổ nạn của Người không phải là một định mệnh, nhưng là một
hy sinh cho tình yêu trong ý thức tự do. Cuộc chịu nạn này đã
cứu vớt nhiều người, nhưng lại bắt đầu từ lỗi lầm của những
kẻ hãm hại người. Sấm ngôn của Simêon đã được giải. Về phần
Đức Mẹ, sợ hãi và đau đớn đến cùng tận là tất cả những gì có
thể nói về Người vào lúc ấy. Nhưng cũng như Đức Giêsu, sự hiện
hữu của Đức Mẹ không phải là để lãnh bản án đau khổ để rồi chết.
Vì nếu thế sự hiện hữu chỉ là cuộc sống đầy bi thương tang tóc
và không có hy vọng. Sự đau khổ của Mẹ là một đồng cảm và chỉ
có nơi những người yêu nhau. Tình yêu là sức mạnh vô cùng mãnh
liệt, vượt khỏi sự sợ hãi đau khổ và sự chết, là căn nguồn cho
hiện hữu trường cửu của người biết đặt hy vọng vào Thiên Chúa,
Đấng vô hạn và trường cửu.
5.
Đứng Dưới Chân Thập Giá (Sử liệu: Ga 19:25-30;
The Revelations of St. Bridget)
Tiếng
búa đóng đinh trên tay và chân Đức Giêsu tạo nên cơn khủng hoảng
cùng cực trong tâm não Đức Mẹ. Máu tươi từ những mũi gai trên
đầu chảy phủ đầy mặt Đức Giêsu. Để có thể nhìn Đức Mẹ, Người
phải cong môi thổi cho dòng máu chảy vào mắt lệch qua bên. Đức
Giêsu cảm thương Đức Mẹ và Đức Mẹ thương xót Đức Giêsu. Tim
hai Người cùng bị xé nát. Đức Giêsu trối Đức Mẹ cho thánh Gioan
vì Đức Giuse đã qua đời. Khi Người mở miệng nói, máu trong miệng
ứa ra. Đức Giêsu quằn quại đau đớn trên cây Thập Giá 3 tiếng
đồng hồ. Một số thượng tế và biệt phái buông lời phạm thượng
và ném đất cát vào mặt Người. Cuối cùng Người nói, “Lạy
Cha Con phó Linh Hồn Con trong tay Cha,” Người rướn
mình lên lần cuối, rồi đầu gục vào ngực. Thân thể Người rũ xuống,
một màu tử khí lan ra bao trùm thân xác. Mắt Đức Mẹ tối xầm
lại, toàn thân lạnh toát tê cứng, Người ngã xuống và chết lịm.
Khi Đức Mẹ tỉnh dậy, Mẹ thấy một tên lính đến đâm lưỡi giáo
vào sườn Đức Giêsu. Lưỡi giáo xuyên thấu ngực xé rách trái tim
làm hai mảnh. Máu và nước còn sót lại trong tim vọt ra từ lỗ
đâm. Trái tim Đức Mẹ lúc ấy cũng đau xé ra như bị lưỡi giáo
đâm vào vậy.
Nếu
không có Thiên Chúa nâng đỡ, Đức Mẹ đã tắt thở vì quá đau khổ
và sợ hãi. Đức Mẹ đã chết trong lúc vẫn sống. Thánh Bonaventura
luận rằng Thập Giá trên núi Calvariô chính là bàn thờ, trên
đó Đức Giêsu và Đức Mẹ cùng hiến tế để tôn thờ Thiên Chúa. Vì
vậy Đức Mẹ chính là là Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo. Xưa Ađam và
Evà đã bán thế giới với giá một trái táo. Nay Ađam mới và Mẹ
đã cứu chuộc thế giới bằng một trái tim. Từ đây tội lỗi của
nhân loại được tha thứ. Thánh sử Gioan dẫn ra biểu tượng quan
trọng khi Đức Giêsu thiết lập liên hệ mẹ con giữa Đức Mẹ và
môn đệ Gioan. Thánh Origen luận rằng Đức Gioan đại diện cho
các Tông Đồ, tức Hội Thánh. Như vậy Đức Giêsu đặt giáo hội vào
tay Đức Mẹ. Đức Mẹ là Mẹ giáo hội, nên cũng là Mẹ các giáo hữu.
Sau đó thánh Rupert giải thích rằng lời nói của Đức Giêsu đã
mặc khải rằng Đức Mẹ là Mẹ thiêng liêng của cả nhân loại.
6.
Đón Chờ Hạ Xác Đức Giêsu (Sử liệu: Mc 15:42-46;
Ga 19: 38-40; The Revelations of St. Bridget)
Vào
buổi chiều, có 3 ông là Gioan, Giuse Arimathê, và Nicôđêmô đến
hạ xác Đức Giêsu. Các ông gỡ vòng dây gai quấn ở đầu và rút
những chiếc đinh đóng ở tay và chân Đức Giêsu ra, rồi đỡ xác
Người từ từ hạ xuống. Đức Mẹ đón lấy xác Con rồi ẵm vào lòng.
Các cơ bắp của Đức Giêsu đã co rút cứng lại nên xác Người vẫn
giữ nguyên dạng như khi bị đóng đanh. Mắt còn mở và miệng còn
há ra. Đức Mẹ vừa khóc vừa vuốt mắt và miệng Đức Giêsu cho khép
lại. Đức Mẹ cũng muốn xếp hai tay Đức Giêsu đặt trước ngực,
nhưng Người chỉ có thể đặt hai tay Con úp vào bụng, vì tay Đức
Giêsu đã đông cứng.
Sự
nhập thế của Ngôi Lời chấm dứt bằng tặng phẩm Người dâng lên
Chúa Cha là tình yêu và đức vâng lời cho đến mức chết. Đức Giêsu
là tượng hữu hình của Thiên Chúa vô hình. Cuộc tử nạn của Người
trên Thập Giá là tượng hữu hình tình yêu toàn vẹn của Thiên
Chúa hiến cho loài người (Mt 26:28; Mc 14:24; Lc 22:20; Ga 10:15;
Pl 2:18). Đức Mẹ, hơn ai hết, đã biết rõ sự sống của loài người
bắt đầu bằng cái chết của hữu thể Đức Giêsu, nhưng điều đó không
làm giảm sự đau khổ của Đức Mẹ. Mẹ đau xót vì Con bị chính những
kẻ thọ ân bạc đãi và bỏ rơi. Nhờ cuộc hiến tế trên Thập Giá
mà loài người được liên kết với Thiên Chúa qua Đức Giêsu và
qua Giáo Hội của Người. Vì Đức Mẹ là nơi hoàn hảo để Thiên Chúa
siêu việt nhập thế, nên đồng thời Đức Mẹ cũng là nơi liên kết
của Giáo Hội và nhân loại.
Cảnh
tượng Đức Mẹ đón chờ hạ xác Đức Giêsu đã gây xúc động cho rất
nhiều nghệ nhân, trong số đó có Michael Angelo. Ông tạc bức
tượng Pieta diễn tả cảnh Đức Mẹ ẵm xác Đức Giêsu. Pieta trở
thành tuyệt phẩm vô giá của nghệ thuật nhân loại.
7.
Táng Xác Đức Giêsu (Sử liệu: Mt 27: 59-60; The
Revelations of St. Bridget)
Đức
Mẹ lấy vải rửa sạch mọi vết thương. Các ông Gioan, Giuse Arimathê,
và Nicôđêmô mang xác Đức Giêsu vào trong một ngôi mộ bằng đá
do ông Giuse Arimathê mua sẵn. Họ tẩm xác Đức Giêsu bằng dầu
thơm rồi lấy tấm vải trắng bọc lại. Khi đặt xác Đức Giêsu vào
mồ, Đức Mẹ ước ao họ để Đức Mẹ ở trong mồ với Con, nhưng các
ông Gioan, Giuse Arimathê, và Nicôđêmô dìu Đức Mẹ ra ngoài.
Họ im lặng vần một phiến đa to che cửa vào nhà mồ. Sau đó họ
chia tay nhau. Tông đồ Gioan đưa Đức Mẹ về nhà mình.
Nếu
thánh Giuse còn sống, hay nếu đức Maria còn vài người được thánh
kinh viết là “anh chị em của Đức Giêsu,” như một số người cố
tình hiểu như vậy, chắc chắn đã không có cảnh Đức Mẹ đi theo
thánh Gioan. “Từ đấy tông đồ [Gioan]
đưa Bà về nhà mình” (Ga 19:27), Thánh Kinh không
cho biết họ ở Giêrusalem hay ở một địa phương nào đó.
Thánh
Bridge cho biết Đức Mẹ nói với bà, “Con
thấy chăng, những đau khổ Con Ta chịu là vì con.”
Sự liên hệ giữa nhân loại và Thiên Chúa là một huyền nhiệm của
tình yêu. Thiên Chúa chết vì yêu nhân loại là một trong những
huyền nhiệm mà chúng vẫn chưa có thể hiểu hết được sự bao la
của ân sủng này. Tuy Đức Mẹ không nhắc đến Người, nhưng chúng
ta đều biết Đức Mẹ đã thông phần đau khổ với Chúa Kitô. Vì vậy
chúng ta cũng có thể nói: "Đức
Mẹ đã chịu đau khổ là vì chúng ta.” Chính vì vậy
mà vào thế kỷ IX một số thần học gia đã khởi xướng chủ đề: Đức
Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc (Coredemtrix) (1).
Hội
Thánh thành lập hai thánh lễ kính Đức Bà Đau Khổ. Cả hai lễ
đều bắt nguồn từ điều luật 11 của công đồng Côlôn (Cologne,
năm 1423). Điều luật này quy định thành lập lễ kính Đức Bà Đau
Khổ. Ý niệm khởi đầu chỉ hướng về mối đau khổ tổng thể, cụ thể
hơn là tôn kính Đức Mẹ đau khổ đứng dưới chân Thập Tự Giá. Thánh
lễ được cử hành vào ngày thứ Sáu của tuần thứ 3 sau lễ Phục
Sinh. Năm 1482, bảy sự thương khó của Đức Mẹ mới được khai triển
và truyền giảng ở Âu Châu. Năm 1725 đức Benêdíc XIV chuyển lễ
Đức Bà Đau Khổ qua ngày thứ Sáu trong tuần Thương Khó, trước
lễ Lá. Đó là lễ thứ I. Năm 1912 Giáo Hoàng Pio X quyết định
toàn thể giáo hội cử lễ tưởng niệm một lần nữa vào ngày 15 tháng
9 hằng năm, sau lễ kính Thánh Giá. Đó là lễ thứ II. Cả hai thánh
lễ đều dùng bài thơ “Stabat Mater” (Mẹ Sầu Bi đứng dưới chân
Thập Giá) của Giacopone da Todi (1360), tu sĩ dòng Phanxicô,
làm thánh ca cho buổi lễ.
Đỗ
Trân Duy