THÁNH CHIẾN
Đối với nhiều Kitô hữu Việt Nam, từ ngữ “thánh
chiến”, “thập
tự chinh”, hay “đạo quân thánh giá” đôi khi được nghe và
đọc thấy đâu đó. Nhưng rất ít người để ý tìm hiểu về lịch
sử, nguồn gốc, và ý nghĩa của những từ ngữ này. Vì thiếu
hiểu biết nên phần đông đã có những cái nhì, lối giải thích
sai lạc. Bài viết sau đây chỉ mong đóng góp một chút vào
những lối nhìn và suy tư ấy; đặc biệt, trong lúc mà thế giới
Hồi Giáo, nhất là những nhóm Hồi Giáo Cực Đoan đang hô hào
“Jihad” - thánh chiến chống lại Công Giáo và Tây Phương.
Tài liệu trong bài viết này được trích dịch và tóm lược từ
Wikipedia, the free encyclopedia.
Cái
nhìn tổng quát:
Thánh chiến là một chuỗi những cuộc viễn
chinh mang hình thức tôn giáo, và thường được phê chuẩn, tán
thành của Giáo Hoàng. Những cuộc viễn chinh ấy bao gồm những
sắc thái tôn giáo, quân sự và hành hương. Thoạt đầu mục đích
của những cuộc chiến này chủ ý là giải phóng Giêrusalem và
Đất Thánh khỏi tay và sự chiếm đóng của Hồi Giáo trong khi
ủng hộ Đế Quốc Byzantine chống lại “ghaoáat” (những nhà cai
trị Hồi Giáo) thuộc các triều đại Thổ Nhĩ Kỳ ở thế kỷ 11, 12,
và 13. tới tận Anatolia. Norman F. Cantor đã viết về thánh
chiến như sau: “Cần phải nhìn lại cái lý tưởng thánh chiến
nguyên thủy trong việc chống cự giữa những người Kitô hữu và
Hồi Giáo tại Tây Ban Nha và coi xem quan niệm về một cuộc thánh
chiến đã phát xuất từ xuất xứ này như thế nào”.
Sơ lược lịch sử:
Một cách tổng quát, những nguồn gốc của
các cuộc thánh chiến xuất phát từ những mở mang trong miền
Tây Âu trước đó ở thời Trung Cổ cũng như sự suy thoát của Đế
Quốc Byzantine ở miền tây. Khởi đầu từ cuộc chiến chống lại
người Hồi Giáo Moors giữa những kỵ sĩ của Tây Ban Nha và Bồ
Đào Nha và các lính viễn chinh khắp nơi ở Âu Châu.
Năm
1009 Fatimid caliph al-Hakim bi-Amr Allah đã cướp bóc khách
hành hương ở
Giêrusalem và tàn phá
thánh đường Mộ Thánh. Tuy những người thừa kế Al-Hakim đã
cho phép kiến thiết lại sau đó do hoàng đế Byzantine, nhưng
biến
cố này đã khơi ngòi cho những cuộc thánh chiến sau này.
Năm
1063, Giáo Hoàng Alexander II đã ban phép lành cho những
nghĩa binh Kitô Giáo, bảo đảm ơn phúc cả
khi sống cũng trường hợp bị tử thương trong khi chiến đấu
chống lại những người Hồi Giáo. Những tranh chấp từ các hoàng
đế
Byzantine đem lại sự đe dọa bởi người Thổ Nhĩ Kỳ xẩy ra vào
thời Hoàng Đế Michael và Giáo Hoàng Gregory VII năm 1074,
và năm 1095 giữa Hoàng Đế Alexius I Comnenus và Giáo Hoàng
Urban
II.
Các
cuộc thánh chiến đến cuối thế kỷ 11 chủ đích vẫn chỉ căn cứ
trên lãnh vực tôn giáo. Những nghĩa
binh tham chiến phải đọc lời thề và nhận lãnh cây thánh giá
từ tay Giáo Hoàng hoặc đặc sứ của ngài. Họ được gọi là “binh
sĩ của Giáo Hội”, khởi đi từ khoảng năm 1075 và tiếp tục
cho đến cuộc thánh chiến lần thứ nhất. Chiến đấu để lấy lại
Đất
Thánh gồm Giêrusalem nơi Chúa chết, phục sinh và lên trời,
và thành Antioch, một thành phố Kitô Giáo đầu tiên từ tay
những người Hồi Giáo. Cuộc Thánh Chiến lần thứ nhất này xẩy
ra vào
thế kỷ 12.
Thật
ra Đạo Hồi đã hiện diện nơi Đất Thánh từ khi người Ả Rập chiếm
Palestine ở thế kỷ thứ 7 sau Công
Nguyên. Sự hiện diện này không gây ra những hiểu lầm, ngộ
nhận, hoặc tranh chấp giữa họ và những người Kitô Giáo. Nhưng
từ
khi những người Hồi Giáo và những người ngoài Công Giáo quá
khích như Viking và Magyar xâm chiếm Đất Thánh và sự chiến
thắng của các binh sĩ Hồi Giáo đã làm cho Đế Quốc Chính Thống
Đông Phương bị đe dọa. Và xẩy ra năm 1009, khi Fatimid caliph
của Cairo, al-Hakim bi-Amr Allah phá hủy thánh đường Mộ Thánh
tại Giêrusalem.
Cuộc
Thánh Chiến I khởi đầu khi Alexius I xin Giáo Hoàng Urban II
gửi các binh lính giúp ông ngăn chặn
sự xâm nhập Đế Quốc Byzantine. Nhưng Giáo Hoàng Urban II
và Alexius I đã không những chống lại để bảo vệ Đế Quốc Byzantine,
mà còn lấy lại Giêrusalem nữa.
Ngoài
những biến cố quân sự thời Trung Cổ. Có ít nhất 9 cuộc Thánh
Chiến lớn từ thế kỷ
11 đến thế
kỷ 13, và một số những cuộc thánh chiến nhỏ như những cuộc
thánh chiến ở Baltic và Đức, thánh chiến với người Tatars,
và thánh chiến ở Balkans. Những cuộc chiến này tiếp tục cho
đến thế kỷ 16, thời kỳ Đổi Mới và Phục Hưng, khi mà không
khí chính trị và tôn giáo Âu Châu hoàn toàn khác với thời Trung
Cổ.
Những
cuộc Thánh Chiến:
Cuộc Thánh Chiến 1:
Sau khi Hoàng Đế Byzantine là Alexius
I xin giúp để chống lại người Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1095,
tại Công Đồng Clermont, Giáo Hoàng Urban II đã kêu gọi toàn
thể các Kitô hữu tham dự cuộc chiến chống lại Thổ Nhĩ Kỳ. Đạo
quân thánh chiến đã chiến thắng đạo quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Dorylaeum
và Antiock, sau cùng đã khởi hành vào Giêrusalem. Năm 1099,
đã chiếm Giêresalem, tàn sát và hủy diệt dân chúng tại đây.
Kết quả của cuộc Thánh Chiến I là hàng loạt những cuộc thánh
chiến khác.
Cuộc
Thánh Chiến 2:
Sau một thời gian sống thân thiện, bình
an giữa những người Hồi Giáo và Kitô Giáo tại Đất Thánh, Bernard
của Clairvaux đã phát động cuộc thánh chiến thứ hai khi thành
Edessa bị quân Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng. Liên quân Đức và Pháp
dưới quyền chỉ huy của Louis VII của Pháp và Conrad III của
Đức đã vào miền Tiểu Á năm 1147, nhưng không đạt được những
chiến thắng lớn lao, và đã tham chiến một trận tại Damascus.
Năm 1150, hai vị hoàng đế trở về quê hương mà không mang lại
một chiến thắng nào.
Cuộc
Thánh Chiến 3:
Năm 1187, Saladin, Sultan của Ai Cập đã
tái chiếm Giêrusalem. Giáo Hoàng Gregory VIII đã kêu gọi thánh
chiến. Cuộc thánh chiến được điều động bởi một số những thủ
lãnh quan trọng nhất Âu Châu gồm: Philip II của Pháp, Richard
I của Anh, Frederick I của Rôma.
Frederich
bị chết đuối tại Cilicia năm 1190. Philip rời khỏi chiến
trường năm 1191 sau
khi đạo binh
thánh chiến đã tái chiếm Acre từ tay người Hồi Giáo. Thập
tự quân tiến về biển Địa Trung Hải. Họ đã đánh bại quân Hồi
Giáo
gần Arsuf và bao vây Giêrusalem. Nhưng vì thiếu lương thực
và nước uống, nên không mang lại kết quả. Richard rời khỏi
chiến trường sau khi đã hưu chiến với Saladin. Trên con
đường trở về, thuyền của Richard bị gẫy ở Áo. Ông bị Quận Công
Leopold bắt vào trao cho Henry VI con của Frederick để lấy
tiền thưởng.
Năm 1197, Henry tự mình muốn tham dự thánh chiến, nhưng
ông
đã chết vì sốt rét.
Cuộc
Thánh Chiến 4:
Thập niên trước đó, Giêrusalem lại rơi
vào tay người Hồi Giáo, và năm 1202, Giáo Hoàng Innocent III
đã hô hào thánh chiến để chiếm lại Đất Thánh và Giêrusalem
khỏi tay người Ai Cập. Dân Veneti dưới quyền Enrico Dandolo
nắm quyền kiểm soát đạo binh và hướng về Zana, một thành phố
Kitô Giáo, rồi sau đó đến Constantinople, ở đó ông muốn đặt
hoàng đế lưu vong Byzantine lên ngôi, nhưng không thành công.
Sau những hiểu lầm và tranh cãi, thành này bị thất thủ vào
năm 1204.
Cuộc
Thánh Chiến 5:
Bằng những cuộc cung nghinh, cầu nguyện
và giảng huấn, Giáo Hội đã khởi động một cuộc thánh chiến bằng
đường bộ để chiếm lại Giêrusalem. Đầu tiên, lực lượng thánh
chiến xuất phát từ Hung Gia Lợi, Áo Quốc, cộng tác với những
lực lượng của vua Giêrusalem và Hoàng Tử của Antioch. Tiếp
theo là những lực lượng của đạo quân đã chiếm được Damietta
tại Ai Cập vào năm 1219, nhưng rồi do sự hối thúc vội vàng
của Pelagius, đại diện Giáo Hoàng, đạo binh thập tự đã bị tiêu
tán tại Cairo và Nile.
Cuộc
Thánh Chiến 6:
Năm 1228, chuyến thuyền của Hoàng Đế Frederick
II đã khởi hành từ Brindisi tới Syria mặc dầu bị vạ tuyệt thông
của giáo hoàng. Nhờ ngoại giao, ông đã chiến thắng. Giêrusalem,
Nazareth, và Bethlehem đã được giải thoát trong vòng 10 năm.
Đây là cuộc thánh chiến đầu tiên không được khởi động do giáo
hoàng.
Cuộc
Thánh Chiến 7:
Louis IX của Pháp đã tổ chức một cuộc
thánh chiến chống người Ai Cập từ năm 1248 đến năm 1254.
Cuộc
Thánh Chiến 8:
Do Louis IX phát động vào năm 1270. Chiến
thuyền khởi hành thừ Aigues-Mortes, mục đích là đến để hỗ trợ
những thập tự quân ở Syria. Tuy nhiên, lại hướng về Tunis,
ở đó Louis IX đã trải qua 2 tháng trước khi băng hà. Cuộc thánh
chiến này được coi như cuộc thánh chiến thứ 7, nếu cuộc thánh
chiến thứ 5 và thứ 6 được coi như những cuộc thánh chiến riêng
rẽ. Và cuộc thánh chiến 9 cũng được coi là một phần của cuộc
thánh chiến 8 này.
Cuộc
Thánh Chiến 9:
Hoàng đế tương lai của Anh là Edward I
cũng đã tham dự một cuộc thánh chiến khác vào năm 1271, sau
khi được sự hợp tác của Louis trong cuộc thánh chiến thứ 8.
Với sự đầu hàng của Antioch vào năm 1268, Tripoli năm 1289,
và Arce năm 1291, nền cai trị của Kitô Giáo tại Syria đã biến
mất.
Ngoài
ra như đã trình bày trên, còn có các cuộc thánh chiến ở Baltic
và người Đức . Cuộc thánh chiến
với người Tarars ở thế kỷ 14, và ở Balkans.
Ảnh
hưởng của các cuộc thánh chiến:
Các cuộc thánh chiến đem lại những ảnh
hưởng lớn lao về lịch sử. Về chính trị và về tôn giáo. Theo
truyền thống, người Công Giáo vẫn cho những cuộc Thánh Chiến
như thế là những cuộc chiến tranh tự vệ chống lại sự đe dọa
của Hồi Giáo và “sự thống trị của Hồi Giáo”. Ngược lại, người
Hồi Giáo coi Saladin như một anh hùng chống lại những đạo quân
thập tự. Ngay trong thế kỷ 21 này, tại một vài nơi trong thế
giới Ả Rập, những phong trào như Ả Rập Tự Trị, phong trào Pan-Islam
vẫn tiếp tục gọi sự tham dự của Tây Phương là “thánh chiến”.
Và thánh chiến đối với thế giới Hồi Giáo là những hành động
xâm lấn tồi tệ và dã man của những Kitô hữu Tây Phương. Điều
này được chứng minh rất rõ ràng khi Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI
đã trích dẫn một đoạn trong một tác phẩm có “động chạm” đến
Hồi Giáo. Những người Hồi Giáo cực đoan và cuồng tín vì thế
không ngần ngại phát động một cuộc thánh chiến “jahad” đối
với Công Giáo và Tây Phương.
Thật
ra, một sự tranh chấp và ảnh hưởng bằng những va chạm của gươm
đao, của đổ máu trong suốt
hơn
3 thế kỷ nếu có tạo ra một sự ngộ nhận hay thù oán thì cũng
là chuyện bình thường. Tuy nhiên, thế giới không thể sống
mãi với quá khứ căm thù và chia rẽ ấy mà cần đối thoại và tìm
ra
con đường sự thật. Đáng tiếc, ở đây ý tưởng tốt của vị Giáo
Hoàng đã bị bóng ma thánh chiến ám ảnh và đã đưa đến sự hiểu
lầm, chống đối.