Văn hóa và xã hội -radio vatican
 

 

 

 


 


vũ văn An 2013 - vietcatholic.net

vietcatholic.net

 

Chung quanh phán quyết về hôn nhân đồng tính của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ
Vũ Văn An -vietcatholic.net 6/27/2013

Đúng như dự đoán của Đức Tổng Giám Mục W.E. Lori (Vietcatholic 25/06/2013), Tối cao Pháp Viện Hoa Kỳ vừa đưa ra hai phán quyết liên quan tới hôn nhân đồng tính theo chiều lỏng lẻo, chấp nhận những cuộc phối hiệp này là hôn nhân. Hai phán quyết này được coi là chiến thắng lớn lao của phe bênh vực hôn nhân đồng tính và là một thất bại chua cay của những người chống đối loại hôn nhân để trong ngoặc kép này. Người mừng người giận đều có lý do cả. Nhưng có người cho rằng đừng nên mừng quá mà cũng đừng nên giận quá. Bởi hai phán quyết ấy không đơn giản chút nào.

Ross Douthat, một nhà bỉnh bút bảo thủ của tờ New York Times, chẳng hạn, cho rằng với hai phán quyết này, những người chống đối hôn nhân đồng tính nên thở phào nhẹ nhõm, vì việc định nghĩa hôn nhân vẫn nằm trong thẩm quyền tiểu bang. Nghĩa là, cuộc đấu tranh chính trị của họ vẫn còn có thể xẩy ra tại các quyền tài phán trong đó, xu hướng toàn quốc ủng hộ hôn nhân đồng tính chưa áp đảo được quan điểm truyền thống. Và cũng chính vì vậy, Douthat khuyên những nhà vận động bảo vệ hôn nhân truyền thống nên giải quyết cuộc tranh luận về hôn nhân tại các thủ phủ tiểu bang hơn là tại Washington D.C.

Nhận định của Douthat không hẳn không có lý. Thực vậy, theo tường thuật của CNA/EWTN ngày 26 tháng 6, các phán quyết này vẫn để các tiểu bang được quyền chọn bất cứ định nghĩa nào họ thấy thích hợp về hôn nhân.

Theo tường thuật của Adam Liptak trên tờ New York Times cùng ngày, hai phán quyết này để nguyên tại chỗ các đạo luật ngăn cấm hôn nhân đồng tính của các tiểu bang, và Tối Cao Pháp Viện từ chối không cho biết liệu việc phối hiệp đồng tính có phải là một quyền theo hiến pháp hay không.

DOMA

Phán quyết liên quan tới DOMA tức Đạo Luật Bảo Vệ Hôn Nhân do TT Clinton ban hành năm 1996 chỉ nhằm mở rộng một số phúc lợi cho những cặp đồng tính “kết hôn” tại các tiểu bang hợp pháp hóa loại “kết hôn” này. Việc này liên quan tới hai người đàn bà sống tại New York: Edith Windsor và Thea Clara Spyer lấy nhau năm 2007 tại Canada. Bà Spyer chết năm 2009, và bà Windsor thừa hưởng tài sản của bà ấy. DOMA cấm không cho Sở Thuế Nội Địa coi bà Windsor là người phối ngẫu sống sót, vì Luật này định nghĩa hôn nhân là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, và bà này phải chịu một khoản thuế là $360,000, một khoản thuế mà người phối ngẫu trong các cuộc hôn nhân dị tính không phải trả. Bà Windsor nạp đơn kiện lên tối cao pháp viện. Phán quyết vừa rồi nhìn nhận cuộc phối hợp của 2 bà là “hôn nhân”, do đó, bà Windsor không phải trả khỏan thuế kia.

Chánh án Kennedy, người viết luận điểm của phe đa số, cho rằng phán quyết này chỉ áp dụng cho những cuộc hôn nhân tại các tiểu bang nhìn nhận “hôn nhân” đồng tính.

Tuy nhiên, chánh án Scalia, thuộc phe thiểu số chống đối, thì cho rằng “phe đa số đã trang bị tốt cho mọi người muốn thách thức bất cứ đạo luật tiểu bang nào nhằm hạn chế hôn nhân vào định nghĩa truyền thống mà thôi”. Đúng mười năm trước đây, chánh án Scalia cũng đã công bố cùng một nhận định như thế trong vụ Lawrence v. Texas, là vụ đã hủy bỏ các đạo luật coi việc làm tình của người đồng tính là một tội phạm. Hồi ấy, ông tiên đoán rằng phán quyết ấy sẽ dẫn tới việc hợp pháp hóa các cuộc kết hợp đồng tính. Lời tiên đoán của ông nay đã thành sự thật.

Ba chánh án Roberts, Thomas và Alito về phe với chánh án Scalia. Các vị cho rằng DOMA được thông qua với sự hỗ trợ của cả hai đảng và được TT Clinton, một tổng thống cấp tiến, ký ban hành, thì không thể bị coi là phi hiến được. Chánh án Roberts nói thêm rằng: ông “không thể nào kết tội các ngành lập pháp là cuồng tín. Vả lại, quan tâm tới tính đồng nhất và ổn định đã biện minh đầy đủ cho quyết định của Quốc Hội” vào năm 1996, là quyết định “vào thời điểm ấy đã được mọi tiểu bang của đất nước chúng ta, cũng như mọi nước trên thế giới tiếp nhận”. Phần mình, chánh án Scalia cho rằng phe đa số đã đơn giản hóa một vấn đề phức tạp cần được giải quyết một cách dân chủ chứ không phải bởi các quan tòa.

Nhưng dù gì, họ vẫn là phe thiểu số (4), lép vế so với phe đa số (5) của các chánh án Kennedy, Ginsburgh, Breyer, Sotomayer và Kagan. Chỉ có điều cần lưu ý là trong phán quyết chống lại Đề Nghị 8 của tiểu bang California, thành phần của hai phe này đã ra khác. Tỷ số đánh đổ Đề Nghị 8 cũng vẫn là 5 chống 4, nhưng 5 đây lại là Roberts, Scalia, Ginsburgh, Breyer và Kagan. Còn 4 đây là Kennedy, Thomas, Alito và Sotomayer. Xem thế, đủ biết các phán quyết về hôn nhân đồng tính không đơn giản.

Đề Nghị 8

Nhưng Đề Nghị 8 ra sao? Đây là một sáng kiến mang ra đầu phiếu nhằm sửa đổi hiến pháp của tiểu bang California để định nghĩa hôn nhân là sự phối hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Nó được các cử tri của tiểu bang thông qua vào năm 2008. Ngay khi được thông qua, những người cổ vũ hôn nhân đồng tính đã kiện chống lại nó và tòa quận hạt (district court) đã lật ngược luật này. Thông thường, các viên chức của California sẽ bảo vệ đạo luật đó nhưng đã từ khước không làm như vậy và một nhóm cá nhân tư đã quyết định làm việc ấy.

Khi phán quyết, Tối Cao Pháp Viện không dựa vào nội dung của luật mà vào phương diện kỹ thuật của nó. Viện cho rằng các cá nhân tư bảo vệ Đề Nghị 8 không có tư cách cần có để bảo vệ nó trước tòa. Họ không có tư cách của nhà nước để thượng tố phán quyết của tòa dưới, nên phán quyết của tòa dưới có giá trị. Kết quả là nếu không có một cách bảo vệ Đề Nghị 8 hợp lệ khác, thì Đề Nghị ấy vô giá trị, và các cặp đồng tính có thể kết hôn hợp pháp tại California.

Như trên đã nói, hai chánh án đánh đổ DOMA để công nhận cuộc “hôn nhân” đồng tính của Windsor và Speyer là Kennedy và Sotomayer nay lại không đánh đổ Đề Nghị 8, nghĩa là trên thực tế vẫn duy trì định nghĩa hôn nhân là sự kết hợp của một người đàn ông và một người đàn bà. Trái lại, hai chánh án Roberts và Scalia từng bênh vực DOMA nay lại đánh đổ Đề Nghị 8 nghĩa là trên thực tế bác bỏ định nghĩa hôn nhân là sự kết hợp của một một người đàn ông và một người đàn bà.

Thành thử, cần phải nghiên cứu hai phán quyết này sâu sát hơn mới mong biết được lý lẽ của các chánh án “tối cao”. Cụ thể, cả hai phán quyết ấy cùng mang lại kết quả thực tế là công nhận hôn nhân đồng tính ở cấp cao nhất, tức cấp liên bang. Điều này được Đức Ông Charles Pope của tổng giáo phận Washington coi là một cơn sóng thần đang cuốn trôi nền văn hóa của ta trong vấn đề này, như thể có một chất ma túy gây ảo giác nào đó đang tác hại trên dư luận Hoa Kỳ.

Theo ngài, những người cổ vũ hôn nhân đồng tính đã chiến thắng nhờ thành công trong việc xoay chuyển các hạn từ thảo luận, không nói tới chính hôn nhân (per se) mà chỉ nói tới quyền lợi của các cá nhân trưởng thành. Quả thế, các luật sư của bên đồng tính cho thấy sở dĩ họ thành công vì họ đã chứng minh được sự thiệt hại của thân chủ họ, trong khi những người chống đồng tính không chứng minh được thiệt hại gì khi cho phép việc công nhận các cuộc kết hợp đồng tính. Như thế, cả về phương diện văn hóa lẫn chính trị, người ta đã tập chú vào quyền lợi của người lớn, chứ không phải quyền lợi của trẻ em. Đức ông cho rằng người Công Giáo chúng ta, khi tranh luận về chủ đề này, cũng phạm vào sai lầm này, chỉ chú trọng tới người lớn mà không đếm xỉa gì tới trẻ em. Ta cần phải chứng minh rằng hôn nhân truyền thống, sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, là tốt nhất cho trẻ em, là công bình đối với các em. Mọi trẻ em đều có quyền được dưỡng dục bởi cha mẹ, những người cam kết sống ổn định với nhau suốt đời.

Phần đồng lõa của Kitô hữu

Terry Mattingly, giám đốc Trung Tâm Báo Chí Hoa Thịnh Đốn tại Hội Đồng Các Cao Đẳng và Đại Học Kitô Giáo, thì nhìn vấn đề dưới khía cạnh khác: sự sa sút trong việc thực hành tôn giáo của người Hoa Kỳ, nhất là người da trắng Hoa Kỳ. Sự sa sút này “có liên hệ với bóng ma tôn giáo trong phán quyết của Tối Cao Pháp Viện liên quan tới DOMA và Đề Nghị 8”.

Ngày nay, gần như không thể thảo luận bất cứ vấn đề nóng bỏng nào về xã hội và luân lý, như vấn đề quyền lợi người đồng tính chẳng hạn, mà lại không chú ý tới những thay đổi vũ bão trong hàng ngũ người Công Giáo da trắng, nhất là những người ít đi tham dự Thánh Lễ. Những người năng tham dự Thánh Lễ thường trung tín hơn đối với các niềm tin Công Giáo. Những người ít tham dự Thánh Lễ khó trung tín hơn.

Phúc trình năm 2010 của Diễn Đàn Pew về Tôn Giáo và Đời Sống Công Cộng cho thấy: những người Hoa Kỳ da trắng Thệ Phản và Công Giáo càng ngày càng ủng hộ hôn nhân đồng tính hơn, dù hầu như mọi thay đổi ý kiến của hai nhóm này đều phát xuất từ những người tham dự phụng vụ không thường xuyên.

Khoảng 49% người Thệ Phản da trắng ủng hộ hôn nhân đồng tính trong khi 38% chống lại. Hai năm trước đây các tỷ lệ ấy khác hẳn: 40% ủng hộ, 49% chống lại. Chỉ vào khoảng 35% người Thệ Phản da trắng đi nhà thờ ít nhất mỗi tuần một lần ủng hộ hôn nhân đồng tính, gần như phần trăm trong các năm 2008-2009 (34%). Nơi những người ít đi nhà thờ hơn, việc ủng hộ ấy tăng lên 11% (từ 42% tăng lên 53%).

Một thay đổi tương tự cũng đã xẩy ra với người Công Giáo da trắng: hiện nay 49% ủng hộ hôn nhân đồng tính trong khi 41% chống đối. Hai năm trước đây, các tỷ số ấy gần như bằng nhau: 44% ủng hộ, 45% chống đối. Cả ở đây, sự ủng hộ cũng gia tăng nơi những người không đi nhà thờ hàng tuần, từ 51% năm 2008-2009 lên 59% năm 2010.

Câu hỏi được Mattingly đặt ra là: Phải nói gì về giới có quyền của Công Giáo Hoa Kỳ liên hệ tới phán quyết của Tối Cao Pháp Viện? Không dám đi sâu vào việc thực hành đạo của từng chánh án tối cao, nhưng trong số 9 chánh án tối cao, hết 5 vị là Công Giáo Rôma: Scalia, Roberts, Thomas, Kennedy và Sotomayer, chưa kể Alito, gia đình gốc Ý, tuy không liệt kê tôn giáo, nhưng phần chắc cũng là Công Giáo. Chỉ có Thomas và Alito là nhất quán không hủy bỏ định nghĩa hôn nhân như sự kết hợp của một người đàn ông và một người đàn bà. Mấy người kia chao đảo giữa duy trì và hủy bỏ. Niềm tin của họ ở đâu?

 

Ngày bi thảm cho Hôn Nhân ở HK.
Trần Mạnh Trác - vietcatholic.net 6/26/2013

Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ngày 26 tháng 6 đã phán quyết với tỷ lệ 5-4 một phần quan trọng của Bộ Luật Bảo Vệ Hôn Nhân (DOMA: Defense of Marriage Act) là vi hiến, chính phủ liên bang phải công nhận những "hôn nhân đồng tính" cuả các tiểu bang.

Tư pháp Anthony Kennedy, viết cho đa số như sau: Bộ Luật Bảo Vệ Hôn Nhân "vi phạm thủ tục cơ bản và nguyên tắc được bảo vệ công bình".

Tòa án nói rằng phần 3 của DOMA, định nghĩa hôn nhân như sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ, vi phạm sự bảo đảm bình đẳng của Hiến pháp Hoa Kỳ.

"Hiệu lực thực tế của bộ luật này là áp đặt một bất lợi, một tình trạng phân biệt đối xử, và do đó, một sự kỳ thị trên tất cả những ai tham gia vào những cuộc hôn nhân đồng tính được hợp pháp hoá bởi quyền lực không thể tranh cãi cuả các Tiểu Bang HK".

Tư Pháp Antonin Scalia, đại diện cho thiểu số bất đồng, đã bác bỏ giả định của phe đa số là bộ luật có mục đích "chê bai", "làm tổn thương", "xuống cấp", "hạ thấp" và "làm nhục" cá nhân đồng tính.

Thay vào đó, ông giải thích, DOMA "chỉ làm một việc là hệ thống hóa một khía cạnh của hôn nhân mà xã hội của chúng ta chưa từng bao giờ đặt câu hỏi trong hầu hết lịch sử của nó - Thực ra, hầu như tất cả các xã hội trong tất cả lịch sử nhân loại cũng đã không bao giờ đặt câu hỏi như thế"

"Nếu một xã hội muốn có thay đổi thì đó là một điều," ông nói, "nhưng lại là một điều khác khi mà một tòa án dùng pháp luật để áp dụng thay đổi" bằng cách tuyên bố những người chống đối (hôn nhân đồng tính) là "kẻ thù của nhân loại."

Những người phản đối "hôn nhân đồng tính" đã lên tiếng lo ngại về quyền tự do tôn giáo nếu hôn nhân được định nghĩa lại.

ở các tiểu bang công nhận "hôn nhân đồng tính," các cơ sở bác ái xã hội cuả Công Giáo đã bị buộc phải đóng cửa vì chỉ đặt con nuôi cho một gia đình có một người mẹ và một người cha. Các cơ quan phi lợi nhuận và chủ doanh nghiệp tư nhân cũng đã phải đối mặt với nhiều áp lực và các vụ kiện buộc họ phải công nhận hôn nhân đồng tính, đi ngược với với niềm tin tôn giáo của họ.

Hậu quả cuả phán quyết về hôn nhân này sẽ có những tác động sâu rộng, vì luật DOMA có ảnh hưởng đến hơn 1.000 luật của liên bang và cả một khối to lớn cuả các quy định liên bang khác.

Cùng ngày, Tòa án tối cao cũng bác bỏ đơn kháng cáo bảo vệ cuộc Trưng Cầu Dân Ý số 8 cuả California (California’s Proposition 8)

Nhắc lại sau khi một tòa án California phán quyết rằng "hôn nhân đồng tính" phải được công nhận trong tiểu bang, những người bảo vệ hôn nhân đã phát động một chiến dịch sửa đổi hiến pháp để công nhận hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ.

Trưng Cầu Dân Ý số 8 đã được phê duyệt bởi cử tri nhưng nhanh chóng bị thách thức tại tòa án. Một tòa cấp dưới đã phán quyết rằng các đề xuất là không hợp hiến, và trường hợp được kháng cáo lên toà trên.

Tòa án tối cao đã bác bỏ kháng cáo dựa trên cơ sở kỹ thuật chứ không phải là trên cơ sở giá trị, có nghĩa là phán quyết của tòa cấp dưới bãi bỏ Trưng Cầu Dân Ý số 8 vẫn có hiệu lực. Nói cách khác vấn đề 'hôn nhân đồng tính' sẽ được đấu lại tại California.

Theo phán quyết này, các tiểu bang có thể chọn định nghĩa hôn nhân cho phù hợp với mình. Về các tiểu bang hợp pháp hóa "hôn nhân đồng tính" thì chính phủ liên bang phải công nhận giá thú cuả họ. Hiện nay, chỉ có 12 tiểu bang và District of Columbia công nhận "hôn nhân đồng tính".

Hội Đồng Giám Mục HK, Đức Hồng Y Timothy Dolan của New York, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ, và Đức Tổng Giám Mục Salvatore Cordileone của San Francisco, Chủ tịch Tiểu ban khuyến khích và bảo vệ hôn nhân, đã nhanh chóng ra một tuyên bố về phán quyết cuả Tối Cao Pháp Viện là một “Ngày bi thảm cho Hôn Nhân và cuả Quốc Gia"
 
Lời tuyên bố như sau.

"Hôm nay là một ngày bi thảm cho hôn nhân và cuả đất nước chúng ta. Tòa án Tối cao đã thực hiện một sự bất công sâu sắc cho người dân Mỹ bằng cách bác bỏ một phần của bộ luật Bảo Vệ Hôn Nhân cuả Liên Bang. Tòa án đã làm sai. Chính phủ liên bang phải tôn trọng sự thật rằng hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ, ngay cả khi các tiểu bang không làm như vậy. Việc bảo tồn tự do và công lý đòi hỏi tất cả các luật lệ, dù là cuả liên bang hay tiểu bang, phải tôn trọng sự thật, kể cả sự thật về hôn nhân. Cũng là bất hạnh khi mà Tòa án đã không nắm lấy cơ hội để bảo vệ cuộc Trưng Cầu Dân Ý số 8 cuả California mà thay vào đó quyết định không đưa ra phán quyết nào về vấn đề này. Lợi ích chung của tất cả mọi người, đặc biệt là cuả các con em cuả chúng ta, phụ thuộc vào một xã hội có sự cương quyết để duy trì sự thật về hôn nhân. Bây giờ là thời gian để nỗ lực hơn nữa trong việc làm chứng cho sự thật này. Những quyết định này là một phần của một cuộc tranh luận chung có những hậu quả nghiêm trọng. Tương lai của hôn nhân và hạnh phúc của xã hội chúng ta đang bị treo trên một sợi dây đu.

"Hôn nhân là định chế duy nhất, kết hợp một người nam và một người nữ trong cuộc sống, cung cấp một nền tảng vững chắc là Có Cha Có Mẹ cho mọi đứa trẻ sinh ra từ sự kết hợp của họ.

"Nền Văn hóa của chúng ta đã quá lâu khinh thường những gì đã được xác nhận qua bản chất cuả con người, kinh nghiệm, sự hợp lẽ, và qua sự thiết kế khôn ngoan của Thiên Chúa: đó là sự khác biệt giữa một người nam và một người nữ là quan trọng, và sự khác biệt giữa một người mẹ và một người cha cũng là quan trọng. Trong khi văn hóa thất bại nhiều trong việc tăng cường hôn nhân, nhưng điều này không phải là lý do để từ bỏ hôn nhân. Bây giờ phải là thời gian để củng cố hôn nhân thêm lên, không phải là lúc để tái định nghiã nó.

"Khi Chúa Giêsu dạy về ý nghĩa của hôn nhân - là suốt đời, là sự kết hợp một vợ một chồng – Chuá đã nhắc lại rằng sự sáng tạo ra con người của Thiên Chúa ngay từ "thuở ban đầu" là có nam có nữ (x. Mt 19). Khi đương đầu với phong tục và pháp luật của thời đó, Chúa Giêsu đã dạy một chân lý phổ biến mà mọi người có thể hiểu được. Sự thật của hôn nhân sẽ tồn tại, và chúng tôi sẽ tiếp tục mạnh dạn tuyên bố với sự tự tin và với lòng từ thiện.

"Bây giờ thì Tòa án tối cao đã ban hành quyết định rồi, với một quyết tâm mới chúng tôi kêu gọi tất cả các nhà lãnh đạo và tất cả mọi người dân của đất nước tốt đẹp này hãy đứng lên để chung nhau kiên định việc thúc đẩy và bảo vệ ý nghĩa độc đáo của hôn nhân: một người nam, một người nữ, cho sự sống. Chúng tôi cũng cầu nguyện cho việc xét lại quyết định của Tòa án và những hậu quả được giải thích rõ ràng thêm."


Đức TGM W. E. Lori và tự do tôn giáo tại Hoa Kỳ
Vũ Văn An - vietcatholic.net 6/25/2013


Việc cổ vũ và bảo vệ tự do tôn giáo đã và đang nhanh chóng trở thành ưu tiên hàng đầu của Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ. Các đe dọa đối với quyền căn bản này rất phổ quát, trầm trọng và còn đang lan rộng, cả ở trong nước lẫn ở ngoại quốc. Các giám mục Công Giáo của Hoa Kỳ đang hết sức lưu ý tới xu hướng này và chúng tôi đã đáp ứng bằng cách bênh vực các nguyên tắc của chúng ta, giáo dục bằng sự kiện và trên hết với lời cầu nguyện.

Điểm chính của cố gắng này là (chiến dịch) Mười Bốn Đêm Cho Tự Do (The Fortnight for Freedom), tức hai tuần tập chú vào tự do tôn giáo. Hai tuần này bắt đầu và chấm dứt vào các ngày lễ nghỉ giầu ý nghĩa trong truyền thống Công Giáo và truyền thống Hoa Kỳ về tự do tôn giáo tức vọng lễ tử đạo của hai Thánh Thomas More và John Fisher (21 June), và Ngày Độc Lập. Hai tuần lễ này cũng bắt đầu và chấm dứt bằng một Thánh Lễ, vốn là nguồn và đỉnh cao của đời sống Kitô hữu. Giữa hai Thánh lễ ấy, các giáo phận và các giáo xứ khắp nước đang bảo trợ các nhóm học hỏi, các cuộc rước, các buổi cầu nguyện liên phái và hàng loạt các sinh hoạt có tính sáng tạo khác nhằm cổ vũ một cái hiểu tốt hơn về tự do tôn giáo.

Với Hai Tuần hàng năm này cũng như các sinh hoạt khác của Ủy Ban Đặc Nhiệm về Tự Do Tôn Giáo của HĐGM Hoa Kỳ, các giám mục đang gieo mầm cho một phong trào về tự do tôn giáo. Với thời gian thích hợp, và với sự hộ giúp của Chúa, phong trào này nhất định sẽ gặt hái được thành quả nơi hàng ngũ giáo dân trong các lãnh vực chính sách và luật lệ, dưới hình thức các đạo luật, các qui định và tài phán có tính bảo vệ hơn.

Nếu người Công Giáo may mắn, ta có thể thấy một số thành quả này sớm hơn, nhưng đại thể, chúng ta nhắm một phương thức dài hạn hơn. Vì chúng ta không chỉ đương đầu với một đe dọa đơn độc cần một giải pháp chuyên biệt, mà là cả một phức thể các đe dọa khác nhau có cùng những nguyên nhân sâu xa hơn. Trong cố gắng dài hạn này, trách vụ trung tâm của các giám mục là truyền bá giáo huấn của Giáo Hội về tự do tôn giáo.

Hạt giống của Phong Trào

Trong “Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo” ( In “Dignitatis Humanae”), Công Đồng Vatican II rất đúng khi tuyên bố rằng “con người nhân bản có quyền hưởng tự do tôn giáo”, nghĩa là: mọi người “không bị cưỡng bức bởi bất cứ cá nhân nào hay nhóm xã hội nào hoặc quyền lực nhân bản nào, khiến họ phải hành động trái với các niềm tin riêng của họ, bất kể trong chốn tư riêng hay nơi công cộng, bất kể một mình hay trong liên hợp với người khác, trong các giới hạn chính đáng”.

Các vị giáo hoàng liên tiếp vốn tái khẳng định cam kết của Giáo Hội đối với nguyên tắc này. Viết cho Tổng Thư Ký LHQ năm 1978, Tân Giáo Hoàng vừa được bầu lên là Đức Gioan Phaolô II xác quyết rằng tự do tôn giáo “là nền tảng của mọi quyền tự do khác và được liên kết chặt chẽ với tất cả các quyền tự do này vì chính phẩm giá của con người nhân bản”. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI cũng nhấn mạnh tới tính tối thượng của nó. Nói với ngoại giao đoàn hồi Tháng Giêng năm 2012, Đức Bênêđíctô gọi tự do tôn giáo là “quyền đầu tiên trong các nhân quyền, vì nó phát biểu thực tại nền tảng nhất của con người”. Rồi, trong cuộc tông du Lebanon sau đó trong cùng năm, Đức Bênêđíctô mô tả tự do tôn giáo là “quyền thánh thiêng và bất khả chuyển nhượng” và là “tuyệt đỉnh của mọi quyền tự do khác”.

Gần đây nhất, trước đám đông 200,000 người tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô vào đêm Vọng Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nồng nàn ôm hôn Paul Bhatti, em trai Shahbaz Bhatti, viên chức chính phủ Pakistan bị ám sát năm 2011 sau khi thúc đẩy việc sửa đổi các đạo luật chống lộng ngôn. Đức Phanxicô tuyên bố rằng “Ta phải cổ vũ tự do tôn giáo cho mọi người… Mọi người nam nữ phải được tự do tuyên xưng đức tin của mình, bất kể đức tin đó là gì”. Cùng ngày, Đức Thánh Cha đã nêu lên vấn đề tự do tôn giáo trong cuộc gặp mặt với Thủ Tướng Angela Merkel của Đức.

Các thách đố xa gần

Các huấn giáo của giáo hoàng trên đây không bỗng nhiên mà có, nhưng đã nói lên một quan tâm vốn đang lớn mạnh. Một phúc trình công bố hồi Tháng Chín năm 2012 của Nghị Hội về Tôn Giáo và Đời Sống Công thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Pew đã phân tích sự vi phạm các niềm tin và thực hành tôn giáo khắp thế giới. Phúc trình này cho hay 75 phần trăm dân số thế giới đang sống tại các quốc gia nơi mà các chính phủ, các nhóm xã hội hay các cá nhân đang hạn chế khả năng tự do thực hành đức tin của người dân.

Người Hoa Kỳ may mắn không phải đương đầu với loại bách hại tôn giáo có tính bạo lực vốn thấy ở nhiều quốc gia, như Ai Cập, I-rắc và Miến Điện, đó là chỉ kể một vài điển hình gần đây. Hoa Kỳ vốn thừa hưởng một truyền thống lâu dài được pháp luật mạnh mẽ bảo vệ tự do tôn giáo, từ các điều khoản về tôn giáo của Đệ Nhất Tu Chính Án và Đạo Luật Phục Hồi Tự Do Tôn Giáo ở cấp liên bang, tới các đạo luật tương tự ở cấp tiểu bang. Tuy nhiên, gần đây, truyền thống này đã và đang bị thách thức bằng những hành động mà dù không bi đát như những gì đang xẩy ra tại các quốc gia khác, nhưng vẫn kéo theo những áp chế ngược với lương tâm. Thí dụ, ta đã thấy khuynh hướng đang gây xáo trộn trong việc rút gọn tự do tôn giáo, khiến nó chỉ còn là tự do thờ phượng bên trong bốn bức tường nhà thờ, hội đường hay đền thờ. Lối nhìn này được phát biểu trong các luật lệ nhằm chỉ bảo vệ các nơi thờ phượng khỏi bị áp chế ngược với lương tâm, trong khi để mặc các các người và các nhóm tôn giáo phải chịu sự áp chế như thế.

Mọi người có thiện chí phải chống lại khuynh hướng trên. Dù tự do tôn giáo chắc chắn có bao gồm tự do thờ phượng, nó cũng bao gồm cả quyền của người ta được tự do đem đức tin của mình ra sống thực bất chấp họ đóng vai trò gì trong xã hội, trong các thừa tác vụ phục dịch xã hội và nơi thương trường, hay trong văn hóa và khu vực công. Các niềm tin tôn giáo, những thứ vốn lên khuôn trọn cuộc sống ta, cả bên trong lẫn bên ngoài đền thánh, chính là các viên đá góc của rất nhiều chính nghĩa lớn lao, từ việc hủy bỏ chính sách nô lệ, tới quyền bỏ phiếu của phụ nữ và phong trào dân quyền. Dù tiếng nói của Mục Sư Martin Luther King Jr. vang lên từ tòa giảng Nhà Thờ Baptist Ebenezer, nhưng nó cũng đã vang lên tại các con phố của Birmingham, Selma và Washington, D.C. Tự do tôn giáo đích thực bao gồm tự do được công bố và thực hành đức tin tôn giáo, không chỉ nơi tư riêng mà cả nơi công cộng nữa.

Các hậu quả trong đời thực

Các hạn chế tự do tôn giáo gần đây tại Hoa Kỳ đã và đang ảnh hưởng tới các bệnh viện, trường học, đại học, các kinh doanh do gia đình sở hữu và các tín hữu cá nhân muốn sống thực Tin Mừng. Thí dụ, một vài tiểu bang đã thông qua các đạo luật ngăn cấm các hành động bị ngành lập pháp tiểu bang coi là “chứa chấp” các di dân không có giấy tờ nhưng đều là những hành động được Giáo Hội coi như bác ái và chăm sóc mục vụ Kitô Giáo căn bản đối với di dân.

Tại Alabama, các giám mục Công Giáo, cùng với các giám mục Episcopal và Methodist đã đệ đơn chống lại các đạo luật ấy. May mắn, các tòa liên bang vừa ngăn cản một số các đạo luật lầm lẫn này, dù vì những lý do khác, nhưng Giáo Hội vẫn tiếp tục cảnh giác để sứ vụ cung cấp thực phẩm, nhà ở và các chăm sóc khác cho bất cứ ai cần đến không trở thành một vi phạm hình sự.

Nạn nhân việc buôn bán người cũng đang đau khổ trong bàn tay của chủ nghĩa duy tục cực đoan. Sở Di Dân và Tị Nạn của các Giám Mục Hoa Kỳ đã tạo được một tiếng tăm rất tốt như là người cung cấp dịch vụ có nhiều chuyên môn lâu đời trong việc tích cực phục vụ các nạn nhân của cảnh nô lệ hiện đại. Năm 2006, Sở đã bắt đầu quản trị một chương trình của liên bang nhằm cung cấp việc quản trị sâu sắc từng trường hợp một (case management) cho số người dễ bị thương tổn nhất này.

Nhưng vào năm 2011, bất chấp nhiều năm quản trị xuất sắc, chính phủ liên bang đã thay đổi khế ước để buộc Sở này phải làm dễ việc ngừa thai và phá thai như điều kiện duy trì khế ước. Cho dù đơn của cơ quan Công Giáo này được các nhà đánh giá độc lập với chính phủ phê điểm khách quan cao hơn nhiều so với hai tổ chức nạp đơn khác, nhưng đơn ấy vẫn bị bác vì đã bác bỏ, không chịu vi phạm giáo huấn Công Giáo. Như thế, không những Sở Di Dân và Tị Nạn bị loại khỏi chương trình của chính phủ vì niềm tin tôn giáo của mình, mà các nạn nhân của việc buôn bán người cũng bị từ khước việc phục vụ của những “nhà thầu” có khả năng nhất.

Chỉ thị gây tranh cãi

Chỉ thị (mandate) của Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Bản có lẽ là đe dọa nổi tiếng và gây tranh cãi hơn cả đối với tự do tôn giáo tại Hoa Kỳ ngày nay. Đây là đòi hỏi, được áp đặt bằng qui định của ngành hành pháp dưới đạo luật cải tổ chăm sóc y tế năm 2010. Chỉ thị này đòi gần như mọi chủ nhân toàn quốc, trong đó có các cơ sở bác ái, bệnh viện và trường học tôn giáo, phải tài trợ hay làm dễ cả các việc như triệt sản, ngừa thai và phá thai trong các khế ước bảo hiểm cho nhân viên và con cái họ, cũng như việc giáo dục và huấn đạo nhằm cổ vũ các việc trên.

Chỉ có các nơi thờ phượng và các khu vực sát cạnh các nơi ấy là được miễn chước, được coi là chủ nhân tôn giáo. Thoạt đầu, Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Bản đề nghị định nghĩa “các chủ nhân tôn giáo” bằng một qui định phức tạp, nhưng nay họ đã đề nghị một qui định đơn giản hơn. Nhưng trong cả hai đề nghị, việc miễn chước rất hạn hẹp và chỉ phản ảnh quan điểm hiện hành đã nhắc trên đây tức coi tự do tôn giáo chỉ là tự do thờ phượng không hơn không kém.

Ta đang tiến tới gần ngày 1 tháng 8, 2013, ngày chỉ thị trên trở thành hiệu lực đối với các thừa tác phục vụ không thể thiếu của ta. Các cơ chế này rõ ràng có tính tôn giáo và rõ ràng sử dụng nhân viên, ấy thế mà vẫn bị Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Bản coi không phải là chủ nhân tôn giáo. Bởi thế, các thừa tác đó không được miễn chước, chỉ được “thỏa hiệp” (accommodated). Trong khi phức tạp và chưa hoàn bị trong một số khía cạnh, thỏa hiệp này còn gặp ít nhất hai vấn đề chính sau đây: thứ nhất, khi các chủ nhân “được thỏa hiệp” cung cấp cho nhân viên họ một khế ước bảo hiểm sức khỏe tổng quát không bao gồm các mục có vấn đề nêu trên, họ cũng phải cung cấp cho nhân viên một “phiếu không tốn tiền” để họ được bảo hiểm riêng về các mục đó; thứ hai, ít nhất trong một số trường hợp, chủ nhân “được thỏa hiệp” sẽ trợ cấp các “phiếu không tốn tiền” kia qua tiền đóng bảo hiểm. Như thế, dù qui định được đề nghị này đòi các công ty bảo hiểm phải chứng thực rằng họ không buộc các chủ nhân phải trả phí khoản cho việc bảo hiểm ngừa thai, thì trên thực tế các chủ nhân cũng đã phải “gián tiếp” tài trợ cho việc bảo hiểm ngừa thai rồi.

Chủ nhân nào cưỡng lại việc bắt buộc phải làm dễ và/hoặc tài trợ các mục hàng và dịch vụ đi ngược lại giáo huấn Giáo Hội sẽ phải trả những món tiền phạt rất nặng nề. Nếu họ từ chối không cung cấp bảo hiểm sức khỏe cho nhân viên, họ sẽ bị phạt tới 2,000 dollars cho mỗi nhân viên mỗi năm; nếu họ tiếp tục cung cấp cho nhân viên những khế ước bảo hiểm tuyệt vời nhưng không có các điều khoản bị họ phản đối, họ sẽ bị phạt 100 dollars cho mỗi nhân viên mỗi ngày.

Buộc định nghĩa lại ‘hôn nhân’

Thách thức duy nhất lớn lao hơn đối với tự do tôn giáo tại Hoa Kỳ có lẽ sẽ là phán quyết của Tối Cao Pháp Viện nhằm tái định nghĩa hôn nhân hợp pháp để bao gồm các người sống trong các mối liên hệ đồng tính, biến nó thành một vấn đề thuộc luật hiến pháp liên bang. Nếu điều này thực sự xẩy ra, thì trong mọi phạm vi của luật pháp, trong đó các thừa tác vụ của Giáo Hội hay các doanh nghiệp đặt căn bản trên đức tin bị qui định bởi luật lệ, và trong đó, tư cách hôn nhân là điều đáng kể như trong việc làm, nhà ở, giáo dục, nhận con nuôi và nhiều lãnh vực khác nữa, thì nhà nước sẽ buộc Giáo Hội phải coi là có gia đình những người mà Giáo Hội không thể coi như thế. Còn nếu các tổ chức này phản kháng, thì các chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương sẽ phạt họ bằng cách thu hồi giấy phép hay giấy công nhận chính thức (accreditation), các khế ước với chính phủ của họ và các phúc lợi cũng như việc được lui tới các cơ sở công cộng. Bất chấp sự kiện Giáo Hội mạnh mẽ khẳng nhận phẩm giá bình đẳng của mọi người, không phân biệt xu hướng tính dục, việc Công Giáo dựa vào nguyên tắc mà bác bỏ, không coi các mối liên hệ đồng tính là “hôn nhân”, vẫn bị trừng phạt như là cuồng tín rành rành.

Như thế, ta sẽ thấy tại khắp nước điều ta đã thấy tại các tiểu bang từng định nghĩa lại hôn nhân. Các cơ quan bác ái Công Giáo đăng ký tại Quận Columbia và Illinois nào từ chối không chịu trao trẻ em cho các cặp đồng tính sẽ bị loại ra ngoài các dịch vụ nhận con nuôi ngay lập tức sau khi hôn nhân được tái định nghĩa hoặc các cuộc kết hợp dân sự được thiết lập. Tại Massachusetts, các thẩm phán hòa giải (justice of peace) hiện đang phải cử hành các cuộc “hôn nhân” đồng tính, cho dù bị tôn giáo hay luân lý phản đối, nếu không sẽ bị kiện về tội kỳ thị. Gần đây hơn, Delaware minh nhiên áp đặt cùng một đòi hỏi như thế khi định nghĩa lại hôn nhân. Tại các tiểu bang khác, chủ nhân các cơ sở kinh doanh gia đình nào cung cấp các dịch vụ cưới xin như chụp hình và cung cấp bông đã bị các cặp đồng tính thưa kiện, thậm chí cả các bộ trưởng tư pháp tiểu bang nữa, khi họ từ khước không tham dự các buổi lễ cưới xin của người đồng tính.

Với Hai Tuần Lễ của chúng ta, ngày có hiệu lực của chỉ thị Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Bản chỉ còn khoảng một tháng. Và Tối Cao Pháp Viện chắc chắn sẽ ra phán quyết cho hai vụ “cưới xin” đồng tính trong Hai Tuần Lễ này. Hai thời điểm chủ yếu ấy đối với tự do tôn giáo tại Hoa Kỳ, và có lẽ do quan phòng, chúng rất gần với Hai Tuần Lễ của chúng ta, sẽ giúp minh họa việc cần đến Hai Tuần Lễ này một cách liên tục. Riêng Hai Tuần Lễ mà thôi sẽ không, và sẽ không thể, giải quyết được những vấn đề nghiêm trọng về tự do tôn giáo, nhưng nó có thể giúp ta làm chậm đà phát triển của chúng và đặt nền móng cho việc giải quyết chúng ở các thế hệ sắp đến.

William E. Lori, TGM Baltimore, đăng trên tạp chí America, 1-8 tháng 7, 2013. Ngài là chủ tịch Ủy Ban Đặc Nhiệm của HĐGM Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo.

 

Tình hình các Kitô hữu tại Đất Thánh
Vũ Văn An 6/23/2013

Tuần vừa qua, có tin cộng đồng Kitô hữu tại Giải Gaza gồm chừng 3,000 người trong tổng số 1 triệu 700 ngàn dân đang gặp một đe dọa mới: chính phủ Hamas vừa ra lệnh cấm các trường hỗn hợp nam nữ. Điều này có nghĩa: năm trường Kitô Giáo tại Giải, trong đó, 2 trường là Công Giáo và 3 trường là Thệ Phản, sẽ bị đóng cửa. Các viên chức nhấn mạnh rằng quyết định này không nhằm chống các Kitô hữu, nhưng trên thực tế các định chế giáo dục của họ là những định chế duy nhất tại đây dạy cả nam sinh lẫn nữ sinh.

Thượng phụ Latinh của Giêrusalem là Fouad Twal dự tính gặp thủ tướng của Gaza để xin duyệt lại động thái này. Cùng với nhiều vấn đề khác, ngài sẽ nhấn mạnh tới sự kiện: các trường Kitô Giáo này phần lớn phục vụ dân chúng Hồi Giáo.

Chính phủ Do Thái vội vàng lên tiếng cho rằng động thái trên rất đáng chú ý. Điều ấy dễ hiểu, vì bất cứ điều gì khiến người ta nghĩ xấu về chính phủ Hamas đều có lợi cho phía Do Thái. Bình tâm mà xét, phía Do Thái cũng đối xử với Kitô Giáo tương tự không kém phía Hamas.

Trong khi đó, nhiều Kitô hữu gốc Ảrập, phụ họa với các thiện cảm viên cấp tiến của họ tại Phương Tây, thường hay nhấn mạnh tới tác động tiêu cực của chính sách an ninh Do Thái và hạ thấp vai trò của phe quá khích Hồi Giáo. Ngược lại, người Do Thái và các đồng minh của họ luôn hô hoán rằng số dân Kitô Giáo tại Do Thái hiện đang gia tăng đáng kể trong khi ấy nhấn mạnh tới những điều họ coi là tội ác của người Palestine.

Thực tế ra, các Kitô hữu gặp nhiều khó khăn từ cả hai phía, và thường vì những lý do rất tương tự nhau. Dù sao, họ cũng là thiểu số trong các xã hội phần lớn được định nghĩa bằng tôn giáo, nơi sự ngờ vực “người khác” được thổi phồng bằng sợ sệt. Nói không sợ ngoa rằng ở cả hai nơi ấy, Kitô hữu đều cảm thấy khá bất an.

Phía Do Thái

Ở Do Thái, Kitô hữu được hưởng nhiều an ninh và tự do hành động hơn phần lớn các nơi khác tại Trung Đông. Thí dụ, vùng phía bắc Galilê hiện là nơi sinh sống rất an toàn cho Kitô hữu. Tại Nadarét, vị thị trưởng ba nhiệm kỳ là một Kitô hữu Chính Thống Hy Lạp, dù đến 2/3 dân chúng trong thành phố theo Hồi Giáo.

Điều cũng đúng là dân số Kitô Giáo tại Do Thái quả có gia tăng. Khoảng 50,000 Kitô hữu mới đã định cư gần đây tại Do Thái từ các lãnh thổ trước đây thuộc Liên Bang Xô Viết. Thêm vào đó, còn có các di dân từ Balkan và từ Á Châu, nhất là Phi Luật Tân. Ấy thế nhưng, nhiều Kitô hữu tại Do Thái, nhất là các tín hữu gốc Ảrập, không mô tả tình huống của họ bằng các hạn từ tươi rói.

Bêlem cho ta lý do tại sao. Năm 1947, Kitô hữu tại đó chiếm từ 70 tới 85 phần trăm dân số, nay thì người ta tin họ chỉ chiếm không hơn 15 phần trăm. Cuộc thăm dò Zogby năm 2006 cho thấy 78 phần trăm Kitô hữu của Bêlem cho hay họ rời cư vì sự chiếm đóng của Do Thái trong khi chỉ có 3.2 phần trăm rời cư vì các phong trào duy Hồi Giáo.

Một khó khăn thường được trích dẫn là việc tới lui các địa điểm thánh. Người Palestine sống tại West Bank và tại Đông Giêrusalem được cấp các thẻ cư trú khác nhau, và họ không được phép di chuyển từ nơi này tới nơi khác nếu không có phép đặc biệt. Thành thử, các Kitô hữu tại Bêlem gần như không thể tới Giêrusalem để thờ phượng tại Nhà Thờ Mộ Thánh. Điều này đúng cho cả dịp Phục Sinh dù được cấp giấy phép, vì Lễ Phục Sinh trùng với Lễ Pesach của Do Thái, lúc lệnh cấm ra vào vì an ninh được áp dụng.

Chính sách cư trú cũng có thể ảnh hưởng tai hại đối với các gia đình. Theo báo cáo, có khoảng 200 gia đình Kitô hữu trong vùng phải sống xa nhau, các thành viên phải chia nhau sống giữa West Bank và Giêrusalem. Một số làng trong vùng sống dưới quyền kiểm soát quân sự, do đó, các thành viên của gia đình cũng khó có thể di chuyển tới lui.

Các khó khăn khác bao gồm việc Kitô hữu mất đất đai cho việc xây dựng các tường ngăn an ninh của Do Thái hay cho việc mở rộng các khu định cư của Do Thái. Năm 2012, chẳng hạn, 3,000 mẫu Anh của các gia đình Kitô hữu ở Beit Jala đã bị trưng thu để tiếp tục mở rộng khu định cư Gilo và các tường phân cách.

Hana Bendcowsky, thuộc Trung Tâm Liên Hệ Kitô Giáo và Do Thái Giáo tại Giêrusalem, cảnh báo về các thái độ cứng rắn của người Do Thái đối với Kitô Giáo. Bà cho hay một cuộc thăm dò vào năm 2009 cho thấy người Do Thái cỡ tuổi từ 18 tới 29 có những quan điểm tiêu cực đối với Kitô hữu hơn các thế hệ đàn anh đàn chị của họ. Họ có khuynh hướng coi các Kitô hữu sống giữa họ như “đa số đe dọa tới hai lần”: lần thuộc thế giới Ảrập lần thuộc thế giới Tây Phương Kitô Giáo.

Riêng đối với người Công Giáo, họ cũng khá thất vọng đối với những cuộc thương thuyết dai dẳng từ năm 1993 về Thoả Hiệp Căn Bản (Fundamental Agreement) giữa Do Thái và Tòa Thánh, chủ yếu nhằm qui định tư cách thuế khóa và luật lệ cho các tài sản của Giáo Hội. Trong khi các cuộc đàm phán vẫn dậm chân tại chỗ, thì phía Do Thái lại đơn phương công bố các địa điểm quan trọng của Kitô Giáo như Núi Tabor và Capernaum là các công viên quốc gia, bất chấp quyền kiểm soát của tôn giáo này.

Bernard Sabellah, một nhà khoa bảng Kitô Giáo và là thành viên của Hội Đồng Lập Pháp Palestine, nhấn mạnh rằng một cuộc thăm dò gần đây cho thấy 26 phần trăm thanh niên Kitô Giáo tại Do Thái muốn rời cư, một phần trăm y hệt đối với các thanh niên Kitô Giáo tại các lãnh thổ Palestine.

Các nhà thờ Kitô Giáo và các thánh điểm khác cũng đã trở thành mục tiêu cho các cuộc tấn công trả đũa, do các người Do Thái mới định cư và các thiện cảm viên của họ thực hiện chống lại các nhóm bị họ coi là chống đối các khu định cư này. Tháng 12 vừa qua, quân phá hoại đã phun sơn lên Đan Viện Thánh Giá, một nhà thờ Chính Thống Giáo Hy Lạp tại Giêrusalem, với những hàng chữ như “Giêsu là con trai một con điếm” và “Giêsu là một con vượn”.

Một cuộc tấn công tương tự khác vừa xẩy ra ngày 13 tháng 6 vừa qua, khi một nghĩa trang Chính Thống Giáo ở Jaffa đã bị phạm thánh với những từ ngữ như “trả thù” phun sơn lên trên các nấm mồ. Các nhà cổ vũ nhân quyền đã lên tiếng yêu cầu chính phủ phản ứng chống lại các vụ khiêu khích này giống như cách họ phản ứng chống lại các vụ bài Do Thái xưa nay. Nhưng nhà cầm quyền Do Thái chỉ ra thông báo lên án các vụ phạm thánh ấy mà thôi.

Phía Palestine

Việc cấm các trường hỗn hợp nam nữ công bố vào đầu tháng 6 này chỉ là thử thách mới nhất đối với các Kitô hữu tại Giải Gaza. Năm 2007, tiệm sách Kitô Giáo duy nhất tại đây đã bị ném bom và chủ nhân của nó, Rami Ayyad, bị bắt cóc và hạ sát. Trước đó, tiệm sách từng bị ném bom hai lần, vào tháng 2 năm 2006 và tháng 4 năm 2007.

Nhân chứng cho hay Ayyad bị đánh trước khi bị các tên cuồng tín Hồi Giáo giết chết. Họ tố cáo anh âm mưu truyền bá Kitô Giáo. Với tên Tiệm Sách Thầy Giáo, tiệm được Hội Thánh Kinh Palestine, một chi nhánh của Giáo Hội Baptist ở Gaza, thiết lập năm 1998.

Sau cuộc tấn công trên, Sheik Abu Saqer, lãnh tụ nhóm duy Hồi Giáo Jihadia Salafiya, nhóm bị tình nghi chủ mưu vụ ném bom tiệm sách năm 2007, đã chối băng mình không can dự gì vào việc sát hại Ayyad nhưng tố cáo các nhà lãnh đạo Kitô Giáo tại Gaza mưu toan “cải đạo và khuyến dụ người Hồi Giáo trở lại bằng tài khoản của người tin lành Mỹ”. Dù các viên chức Hamas lên án vụ tấn công và thề sẽ bảo vệ các Kitô hữu, tiệm sách không còn là mối quan tâm của họ nữa.

West Bank cũng không thiếu nguy hiểm, bất chấp các cố gắng liên tiếp của chính phủ Fatah nhằm rao hàng thiểu số Kitô Giáo như một bằng chứng của chính sách cởi mở và xứng đáng trở thành một nhà nước của họ.

Năm 2011, nhà báo Ý Francesca Paci tường trình rằng áp lực xã hội đang gia tăng nhanh chóng nhằm chống lại các cuộc hôn nhân hỗn hợp giữa người Hồi Giáo và người Kitô Giáo. Điều này có nghĩa những cặp không kết hôn nhưng có con càng ngày càng có khả thể bỏ rơi những đứa con này. Bà cũng cho biết: chủ nhân các xưởng rượu nho, những người xưa nay vốn sản xuất rượu nho cả hàng mấy thế hệ, đang phải đương đầu với nhiều áp lực gia tăng phải đổi qua việc kinh doanh trồng ôliu, là ngành được chấp nhận hơn về luân lý nhưng ít lợi nhuận hơn nhiều.

Và sau đây là một số điển hình khác:

Năm 2003, một thiếu nữ Kitô Giáo 17 tuổi tên là Rawan William Mansour đã bị hiếp ở West Bank, mà người ta cho rằng bởi hai thành viên của Fatah. Những người này không bao giờ bị truy tố, còn Mansour thì bị buộc phải trốn qua Jordan vì sợ trở thành nạn nhân của một vụ giết người để bảo vệ danh dự.

Năm 2005, hai thiếu nữ Kitô Giáo nữa, vốn là hai chị em ruột, đã bị hiếp và bị giết. Tháng 9 năm 2006, 7 nhà thờ Kitô Giáo bị ném bom nhân những cuộc biểu tình để phản đối các nhận định gây tranh cãi của Đức Bênêđíctô XVI về Hồi Giáo. Năm 2010, viện mồ côi Kitô Giáo duy nhất tại West Bank bị đóng cửa vì áp lực của Bộ Xã Hội Palestine.

Các phúc trình cho hay: áp lực chống Kitô hữu mỗi ngày một gia tăng, nhất là liên quan tới các biến cố chống lại tín hữu Hồi Giáo. Các người trở lại Kitô Giáo luôn luôn bị khối đa số kỳ thị, thậm chí các thành viên của chính gia đình họ cũng bách hại họ nữa, nếu tôn giáo của họ bị bại lộ.

Bất cứ ai công khai tự nhận là Kitô hữu đều gặp nguy hiểm. Tháng 2 năm 2011, một y sĩ giải phẫu Kitô Giáo tên là Maher Ayyad bị tấn công khi xe ông bị ném bom. Dù Ayyad không bị thương, nhưng chiếc xe bị hư hại nặng. Ayyard nói rằng sau vụ tấn công, ông bắt đầu nhận được những tin nhắn cảnh cáo ông phải ngưng không được cải đạo nữa, dù ông chối mình không theo đuổi bất cứ công việc truyền giáo nào.

Majed El Shafie, chủ tịch Một Thế Giới Tự Do Quốc Tế, cho hay: những cuộc tấn công như trên càng ngày càng trở nên thông thường hơn. Ông bảo “Các Kitô hữu ở Palestine đang phải đương đầu với nhiều cuộc bách hại. Nhà cửa, thánh đường của họ bị tấn công hầu như mỗi ngày”.

Nói cách khác, ít nhất trong các hoàn cảnh hiện nay, việc đạt được tư cách nhà nước đi chăng nữa cũng khó có thể chấm dứt được các khó khăn mà các Kitô hữu Palestine hiện đang phải chịu đựng. Ngoại trừ bị áp lực của Phương tây ra, tình thế chỉ càng ngày càng tệ hại hơn.

Tóm lại, cả phía Do Thái lẫn phía Palestine đều cần phải làm nhiều hơn nữa để bảo vệ các nhóm tôn giáo thiều số, nhất là các Kitô hữu. Nhấn mạnh tới thiếu sót của bên này hơn bên kia chỉ là chuyện chính trị, chứ không hề là phân tích nghiêm túc.

 

Bên lề Đại Hội Giới Trẻ:
Giáo Hội Ba Tây, Ngũ Tuần và Canh Tân Đặc Sủng
Vũ Văn An 6/21/2013

Ngày Giới Trẻ Thế Giới sắp tưng bừng khai mạc tại Rio de Janeiro, Ba Tây. Chủ đích của Đại Hội này dĩ nhiên là để củng cố thế hệ Công Giáo Ba Tây tương lai. Nhiều tín hữu Ba Tây hy vọng rằng Đại Hội sẽ là biểu hiệu cho một tập chú mới của Vatican đối với mối đe dọa từ hai phía Ngũ Tuần (pentecostalism) và duy tục (secularism) mang lại.

Sự xâm thực của Ngũ Tuần

Paulo Prada của tờ Globe, ngày 8 tháng 4 năm 2005, 6 ngày sau khi Đức Gioan Phaolô II băng hà, thuật lại cảnh một linh mục trẻ cử hành thánh lễ cầu nguyện cho ngài tại nhà thờ Santo André ở São Paulo, thành phố lớn nhất Ba Tây như sau: “Khi chừng 60 giáo dân đang ngâm nga một khúc bình ca, thì vị mục tử, mặc phẩm phục đỏ, theo chân nhóm giúp lễ tiến lên bàn thờ chính. Cách đó ít dặm, một nhà truyền giảng tin mừng của Ngũ Tuần, mặc quần dài trắng, áo sơ mi bông, ôm lấy trán một thiếu phụ. Nhẩy phụ họa với tiếng hô “hãy đốt, hãy đốt, hãy đốt” và “hãy đốt ma qủy trong người đàn bà này” của ông, khoảng 700 tín hữu làm rúng động cả nhà thờ, một tòa nhà rộng bằng một sân bóng đá có cả bãi đáp trực thăng trên nóc”.

Prada cho rằng: “Cái rúng động ấy đang làm rung chuyển cả nền đất quanh Giáo Hội Công Giáo Ba Tây. Chân móng của Vatican ở đây và ở khắp Châu Mỹ La Tinh đang lung lay vì bị các tín ngưỡng khác sói mòn và xâm thực. Tại một vùng thường bị khuấy động bởi khó khăn kinh tế và bạo lực, nhiều giáo sĩ Công Giáo tin rằng người ta rời bỏ Đạo Công Giáo để chạy theo điều họ cho là tín ngưỡng mềm dẻo hơn, có bản vị hơn, hoặc tệ hơn nữa, họ còn bác bỏ cả việc thờ phượng nữa”.

Các vị giáo phẩm Ba Tây rất ý thức hiện tượng này. Đức Cha Nelson Westrupp, đứng đầu một giáo phận phụ cận, nơi dân số lên tới 3 triệu, cho hay: “niềm tin đã trở thành chủ quan, cá nhân hóa, và vật chất hóa, và điều này đang làm yếu Giáo Hội Công Giáo”.

Thực vậy, bất chấp bức tượng khổng lồ Chúa Kitô Cứu Chuộc với cánh tay giang rộng nhìn xuống toàn cảnh Rio de Janeiro, Ba Tây không còn là một quốc gia Công Giáo như trước nữa. Lý do: sự gia tăng cực nhanh của Thệ Phản Tin Lành, hầu hết thuộc chi Ngũ Tuần, và nhịp tăng đều đặn của những người coi mình không thuộc bất cứ tôn giáo nào. Theo thống kê năm 2010, số người Công Giáo là 123 triệu, chiếm 64.6%, số người Thệ Phản là 42,300,000 chiếm 22.2%, số người vô tín ngưỡng là 15,000,000 chiếm 8%. Năm 1970, tỷ số dân Công Giáo không phải là 64.6% mà là 90%, tỷ số Thệ Phản không phải 22.2% mà chỉ trên dưới 10%, còn tỷ lệ người vô tín ngưỡng không phải là 8% mà chỉ là 0.8%. Sự gia tăng này khiến có người gọi São Paulo là “thủ đô Ngũ Tuần của thế giới” và khiến Đức HY Cláudio Hummes, cựu tổng giám mục São Paulo, nhận định “chúng tôi lo ngại tự hỏi: Ba Tây còn là một quốc gia Công Giáo bao lâu nữa”.

Các nhà xã hội học liên kết hiện tượng trên với việc rời cư. Vì trong mấy thập niên gần đây, hàng triệu nông dân rời bỏ xóm làng tới sinh sống tại các thành phố lớn như São Paulo và Rio de Janeiro, nơi các đòi hỏi và nhịp độ đời sống khiến người ta ít có cơ hội tìm tới giáo xứ.

Còn đối với những ai muốn tìm sự hướng dẫn tâm linh, thì các Giáo Hội Tin Lành sẵn sàng chào đón “một cách hợp khẩu vị”. Thực vậy, với nền thần học tạo thế năng (empowerment theology), tức chủ trương cho rằng việc thờ phượng có thể dẫn tới thành công và lợi lộc bản thân, các Giáo Hội tin lành quả tìm được đất phát triển rực rỡ tại các đô thị Ba Tây. Fernando Altemeyer, một nhà thần học tại Đại Học Công Giáo São Paulo nhận định rằng: “Lối sống đô thị là lối sống tiêu thụ. Còn người Tin Lành thì giảng dạy rằng thịnh vượng phát sinh nhờ đức tin”.

Đạo Công Giáo coi phương thức ấy chỉ là những vá víu tâm linh tạm thời. Tập chú vào thịnh vượng bản thân là quên mất mục tiêu rộng lớn hơn của Kitô Giáo nhằm phúc lợi phổ quát của mọi người. Linh mục Fernando Sapaterro, vị linh mục cử hành lễ cầu nguyện cho Đức Gioan Phaolô II tại nhà thờ Santo André, cho rằng “mục tiêu là cứu rỗi nhân loại, chứ không phải lợi lộc bản thân”.

Đó không hẳn là nhấn mạnh của người Thệ Phản, vì theo họ, xã hội được thăng tiến nhờ sự thịnh vượng của các cá nhân. Mục sư Estevam Hernades, lãnh đạo Giáo Hội Tông Truyền Tái Sinh Trong Chúa Kitô, một hệ phái Ngũ Tuần với hơn 1,200 thánh đường tại Ba Tây, Uruguay, và Argentine, đặt câu hỏi: “Liệu xã hội có khá hơn không khi người ta cứ mãi nghèo khổ? Đức tin vào Chúa Giêsu cải thiện mọi khía cạnh của cuộc sống ta”.

Một khuynh hướng nữa mà Ba Tây chỉ đang mô phỏng các nơi khác, nhất là Âu Châu và Bắc Mỹ, là khuynh hướng cá nhân hóa đức tin để phù hợp với các đòi hỏi ngừa thai, đồng tính, và buông thả tình dục. Sonia Barros, 29 tuổi, một vú em sống tại Rio de Janeiro chẳng hạn, độc thân nhưng sống chung với một bạn trai. Được dưỡng dục trong đức tin Công Giáo, nhưng ít khi đi nhà thờ vì cô bảo: “tôi muốn đi lễ nhiều hơn nhưng người ta bảo tôi sống trong tội lỗi. Đạo Công Giáo nên khoan dung hơn một chút”.

Khuynh hướng cá nhân hóa ấy xem ra khá được các Giáo Hội Thệ Phản hỗ trợ. Marilda Paulino, một nữ y tá 33 tuổi chẳng hạn, đã rời bỏ Công Giáo để gia nhập một cộng đoàn Tin Lành. Theo cô: “tôi không cần một trung gian để dạy tôi điều đúng điều sai. Đức tin không phải là về vị mục tử, hay về một vị thánh nào, mà chỉ là giữa Thiên Chúa và tôi mà thôi”.

Trước những khuynh hướng như thế, nhiều giới Công Giáo Ba Tây đã đưa ra nhiều thử nghiệm để “bình dân hóa” sức lôi cuốn của đạo mình. Prada trưng dẫn ngôi nhà nguyện của quân đội tại trung tâm São Paulo nơi người ta tôn kính Thánh Expeditus, được họ coi như thánh bổn mạng của cấp cứu.

Dù các nhà thần học và các nhà giáo sử không thống nhất ý kiến về căn tính đích thực của vị thánh này, kể cả việc ngài có thực hay không nữa, nhưng nhiều người vẫn kéo nhau tới xin đủ mọi ơn từ việc làm, tình yêu, tới khỏi bệnh và thoát khỏi mọi lo lắng khác. Patricia Aparecida Gobbo, một cảnh sát viên 22 tuổi, người cũng tới “cầu xin” tại ngôi nhà nguyện này, phát biểu: “người ta cần không những học lý mà còn cần được thỏa mãn về phương diện tôn giáo. Đạo Công Giáo đôi khi quá cứng ngắc”.

Canh tân đặc sủng hành động

Dĩ nhiên sáng kiến trên đây không có thế giá, mà chỉ là một phát khởi bình dân, phản ảnh não trạng của người dân Ba Tây muốn pha trộn tín ngưỡng cổ truyền của thổ dân với tín lý Công Giáo. Một số giới Công Giáo Ba Tây có thế giá đã mạnh dạn đi vào hang cọp để hạ cọp. Trong các giới ấy có phong trào Canh Tân Đặc Sủng, mà một trong các đại diện có tiếng hiện nay là Gleuson Gomes, 35 tuổi, một linh mục với lối cử hành “không theo Thánh Lễ Chúa Nhật bình thường”.

Phong trào Canh Tân Đặc Sủng sử dụng nhiều phương pháp từng làm cho các buổi phụng vụ của Ngũ Tuần trở thành lôi cuốn tại Ba Tây: sử dụng âm nhạc, để cử tọa tham dự nhiều hơn và bầu khí tươi sáng toàn diện hơn. Chính vì thế, có người gọi canh tân đặc sủng ở Ba Tây là “Công Giáo Ngũ Tuần”. Và Công Giáo này đang có tác dụng.

Larissa Rodrigues, 16 tuổi, nói rằng nhà thờ của cô xưa nay vẫn vắng cho tới hai năm trước đây khi cha Gleuson xuất hiện. Trước đó, “Người ta đã muốn đóng cửa nhà thờ. Vì đâu có ai lui tới. Nhưng khi cha (Gleuson) tới, nó khá hơn nhiều. Bây giờ thánh lễ chật kín”.

Cha Gleuson cũng không “dấu diếm” gì. Ngài bảo: “Cộng đoàn này cần được hồi sinh. Nên Đức Giám Mục sai tôi tới đây, do hình thức mục vụ Canh Tân Đặc Sủng của tôi. Hình thức này dễ hơn cho tín hữu tham dự. Chúng tôi có khả năng thiết lập một cộng đoàn tại giáo xứ này, một cộng đoàn sốt sắng và tham dự nhiều hơn”.

Và người Ba Tây đủ cỡ tuổi đua nhau trở lại nhà thờ, hết tuần này tới tuần nọ. Arthur Machado là một người trong số này. Anh bảo: “bạn phấn khích vì toàn bộ cộng đoàn thích nó. Nó sống động. Ai cũng hiểu nó, không có những thứ hắc búa long trọng”.

Đã đành là nhiều giới thẩm quyền tỏ ý cau mày trước một vài thực hành của Canh Tân Đặc Sủng, như “nói tiếng lạ”, chẳng hạn, làm máng chuyển Chúa Thánh Thần và niềm tin vào việc chữa lành. Nhiều người coi hình thức này như một thứ thương mãi hoàn toàn.

Tuy nhiên, không vị linh mục Đặc Sủng nào của Ba Tây nổi tiếng bằng linh mục Marcelo Rossi. Trong thập niên qua, ngài đã xây dựng được cả một “đế quốc” đa truyền thông, gồm album, phim ảnh và sách vở, bán ra hàng triệu cuốn, với một hiện diện mạnh trên liên mạng.

Dù bị một số giáo phẩm chỉ trích, Giáo Sư Andrew Chesnut của Đại Học Virginia Commonwealth vẫn cho rằng Cha Rossi và các vị Canh Tân Đặc Sủng khác đang giữ cho Đạo Công Giáo sống động tại đây và Vatican biết rõ điều này. Theo ông, “Nhiều vị giám mục Ba Tây không phải là Canh Tân Đặc Sủng nhưng đã hiểu được rằng nó là cách tốt nhất để chặn đứng làn sóng ồ ạt người Công Giáo gia nhập các Giáo Hội Ngũ Tuần. Bởi thế, theo quan điểm định chế, đây là điều có tính hết sức chiến lược mà Giáo Hội có thể làm để chặn đứng việc người Công Giáo chạy qua các Giáo Hội Ngũ Tuần”.

Theo ông, phương thức không truyền thống của Canh Tân Đặc Sủng không hạ giá sứ điệp Công Giáo. Ông hoài nghi ý niệm cho rằng người Công Giáo không phải là Âu Châu cần thực hành đức tin với các chuẩn mực do Âu Châu áp đặt. Học giả về tôn giáo là Cecilia Mariz của Đại Học Công Rio de Janeiro đồng ý như vậy. Bà cho rằng phương thức của Canh Tân Đặc Sủng thích hợp hơn với Ba Tây và nhiên hậu đem được người ta trở về với Giáo Hội Công Giáo.

Maritz nói rằng: “Có một sự gần gũi giữa sức lôi cuốn của canh Tân Đặc Sủng và sức lôi cuốn của văn hóa Ba Tây. Nó là một cảm nghiệm tôn giáo rất sống động, rất vui tươi. Nó rất xúc cảm”.

Cha Gleuson chắc chắn đồng ý như thế. Ngài cho rằng lối hát karaôkê (sing-along) của ngài là phương tiện hữu hiệu chuyên chở sứ điệp Công Giáo. Dù sao, theo ngài, phụng vụ Đặc Sủng vẫn… là một Thánh Lễ. “Nó đem tới cho giới trẻ sức sống động, một niềm hạnh phúc thiêng liêng. Bạn cảm nhận lời thánh một cách sâu sắc hơn”.

Ngày Giới Trẻ Thế Giới sắp tới sẽ là một thử nghiệm xem mối liên hệ của Vatican với Canh Tân Đặc Sủng tiến xa bao nhiêu. Cha Gleuson là một trong các mục tử của Canh Tân Đặc Sủng đang cố gắng động viên hàng chục ngàn bạn trẻ tham gia biến cố trọng đại này.

Thí nghiệm hồi sinh Đạo Công Giáo

Ngày 14 tháng 2 năm nay, nghĩa là 3 ngày sau khi Đức Bênêđictô XVI tuyên bố từ nhiệm, Simon Romero của tờ New York Times có tường trình một thí nghiệm để hồi sinh Đạo Công Giáo tại Ba Tây trước làn sóng xâm thực của Ngũ Tuần.

Romero cũng vẽ lại viễn tượng không mấy tốt đẹp của Giáo Hội Công Giáo tại Ba Tây trước cuộc tấn công vũ bão của Ngũ Tuần và duy tục. Nhưng ông nhấn mạnh tới các cố gắng tích cực nhằm chặn đứng các cuộc tấn công ấy. Ông tập chú vào công trình của cha Marcelo Rossi, vị “linh mục, vốn là một huấn luyện viên trước khi đi tu làm linh mục, say sưa hát những bài hát kiểu nhạc rock trước 25,000 người thờ phượng”.

Linh mục Rossi đã bán hơn 12 triệu CD và từng cử hành Thánh Lễ tại sân túc cầu với hàng chục ngàn tín hữu tham dự. Cũng như các linh mục thuộc Phong Trào Canh Tân Đặc Sủng khác, Thánh Lễ được cha cử hành thuộc loại “Thánh Lễ Giải Phóng”, giống các buổi trừ qủy theo nhóm, trong đó, cộng đoàn được hoan nghinh nói tiếng lạ, một hình thức cử hành bị nhiều vị giáo phẩm cau mày phê phán nhưng đang thu hút nhiều người thờ phượng.

Almir Belarmino, 53 tuổi, kỹ thuật viên tại nhà máy xử lý chất thải, một trong 1,200 người tham dự buổi tĩnh tâm do Canh Tân Đặc Sủng tổ chức, nhận định rằng “Nhờ phong trào này, nhiều người đã tìm về với Giáo Hội. Tại sao không nhẩy múa tại nơi mà sự hiện diện của Chúa thật cao cả như thế này? Vui tươi và phấn khởi vốn là thành phần trong việc thờ phượng của chúng tôi”.

Thực ra việc các linh mục pha trộn các thực hành mới vào các buổi phụng vụ của họ là điều không mới lạ gì tại Ba Tây. Bởi trên thực tế, nhiều người tự hào là Công Giáo nhưng vẫn thực hành các tôn giáo phát xuất từ Phi Châu như nhóm Candomblé chẳng hạn là nhóm pha trộn các thánh của Công Giáo với các thần minh của Phi Châu. Stephen Selka, một chuyên viên tại Đại Học Indiana về các tôn giáo của các cộng đồng Phi Châu lưu vong, cho hay: “Thực hành tôn giáo tại Ba Tây thường có tính lai giống khá cao”.

Tuy nhiên, các Giáo Hội tin lành cực kỳ thành công tại Ba Tây mới là thúc đẩy chính. Dựa vào lá phiếu có ảnh hưởng lớn tại Quốc Hội Ba Tây, các Giáo Hội này đang mở rộng hoạt động của họ ở khắp Mỹ Châu La Tinh và Phi Châu, thậm chí còn lấy được thông hành ngoại giao cho các nhà giảng thuyết hàng đầu của họ, giống như các đại diện của Vatican nữa.

Họ xây dựng nhiều đại giáo đường. Tại São Paulo chẳng hạn, Giáo Hội Hoàn Vũ của Nước Chúa, một tổ chức Ngũ Tuần đa quốc được thiết lập tại Ba Tây từ năm 1977, đang chi ra 200 triệu dollars để xây một đền thờ 10,000 chỗ ngồi theo mẫu Đền Thờ của Salômôn. Các ca sĩ của họ cũng có rất nhiều người ái mộ, như Aline Barros chẳng hạn, một ca sĩ hát nhạc phúc âm được giải Grammy, với cả triệu người theo dõi trên Twitter. Các nhà giảng thuyết trên TV của họ như Silas Malafaia, một nhà lãnh đạo Ngũ Tuần tại Rio de Janeiro, đang thu hút thật nhiều khán thính giả.

Dĩ nhiên, cũng phải kể đến sự phát triển của chủ nghĩa duy tục, một sự phát triển mà Andrew Chesnut coi là nhanh nhất. Mới đây, tức năm 1980, những người vô tín ngưỡng và những người không xếp mình vào bất cứ tôn giáo nào là con số không đáng kể, nhưng nay, họ chiếm tới 15% dân số. Thêm vào đó, còn có những người Công Giáo ít đi nhà thờ và không hài lòng với một số chính sách cứng rắn của Vatican.

Theo Stoyan Zaimov của tờ Christian Post Reporter (5/11/2012), thì trước những áp lực trên, đáp ứng của Cha Rossi, ngoài hình thức truyền thông chuyên biệt của ngài cũng như hình thức cử hành đặc biệt của Canh Tân Đặc Sủng, còn là một cái gì thật lớn lao để có thể đương đầu với sự dửng dưng quá phổ quát hiện nay đối với các giá trị luân lý và tôn giáo, một vấn đề được ngài xếp vào hạng trầm trọng nhất trong xã hội Ba Tây. Đối với ngài, “một ngọn nến chiếu sáng, 10 ngọn nến chiếu sáng, nhưng 100,000 ngọn nến sẽ chiếu sáng hơn nhiều”. Đó chính là ý niệm đứng đàng sau ngôi đền thánh vĩ đại Mẹ Thiên Chúa của cha, đang được xây dựng tại São Paulo: dự trù sẽ có 6,000 chỗ ngồi và chỗ đứng cho 14,000 người khác, khu đất bên ngoài Đền Thánh có thể chứa hơn 80,000. Theo AP, Đền Thánh này tọa lạc trên một khu đất rộng tới 323,000 bộ vuông (30,000 mét vuông), chính đền thánh rộng 8,500 mét vuông, chiều cao kể cả cây Thánh Giá là 45 mét và có người xếp Đền Thánh này vào hàng 10 thánh đường lớn nhất thế giới. Theo mô tả của AP, Đền Thánh trông giống một sân basketball hơn là một nơi thờ phượng.

Thánh Lễ khai mạc Đền Thánh hồi tháng 11 năm 2012 lôi cuốn hơn 50,000 người tham dự. Cha Rossi dùng mọi biểu tượng để duy trì các tín hữu còn lại đừng rơi vào sự dửng dưng tôn giáo. Thí dụ: ngày khai mạc Đền Thánh được tổ chức vào ngày lễ nghỉ của Ba Tây gọi là Finados, Ngày Người Chết: “ Một ngày, một ngày đã chết, nay được biến đổi!” Ngài nói với người thờ phượng như thế.

Và quả thực, buổi lễ đã đánh tan hình ảnh tẻ nhạt của một Giáo Hội già nua. Ca hát vang dội, vẫy vẫy khăn tay và nhịp theo dàn nhạc rock, 20,000 tín hữu chật ních Đền Thánh ngâm ngợi trước ống kính truyền hình, nhiều người nước mắt tuôn tràn trong khi vị linh mục của họ chào đón từ bục giảng. Hơn 30,000 người khác tụ họp ở bên ngoài, nơi trẻ em leo lên cây để nhìn rõ đoàn người hân hoan bên trong đền thánh.

Một thế giới đa nguyên

Nghĩ gì về Cha Rossi thì tuỳ ý, nhưng quan điểm của ngài không hẳn là hẹp hòi khi cho rằng các vấn đề rộng lớn hơn tại Ba Tây hiện nay không hẳn là Ngũ Tuần cho bằng người Ba Tây đang quay mặt khỏi các tôn giáo có tổ chức. Thực thế, một cuộc nghiên cứu năm 2011 của Qũy Getulio Vargas, dựa vào thống kê, cho thấy người Công Giáo Ba Tây bỏ đạo để trở thành vô tín ngưỡng, chứ không hẳn chạy qua các tôn giáo khác.

Đấy cũng là nhận định của Peter Berger, giáo sư xã hội học và thần học tại Đại Học Rutgers và Đại Học Boston. Berger cho rằng hiện tượng Rossi hay nói chung các linh mục Canh Tân Đặc Sủng hiện nay ở Ba Tây chỉ là chuyện bên lề. Bởi Canh Tân Đặc Sủng không hẳn là chuyện chỉ xẩy ra tại Ba Tây. Nó cũng xẩy ra tại khắp Châu Mỹ La Tinh, tại Châu Phi và cả tại Phi Luật Tân nữa.

Vả lại, theo Berger, Rôma vẫn có chính sách rửa tội cho một số ngày lễ của ngoại giáo trong lịch phụng vụ của mình, nghĩa là chấp nhận một số thực hành của ngoại giáo. Thành thử ông tự hỏi các cố gắng trên liệu có hồi sinh được Đạo Công Giáo tại Ba Tây hay không? Theo ông, có thể có chút đỉnh trong tương quan với Ngũ Tuần. Còn duy tục thì sao? Berger cho rằng tại Ba Tây, ý niệm duy tục không hẳn có cùng một ý nghĩa như ở Âu Châu. Đã đành triết lý của August Comte, một triết gia duy tục, rất được ưa chuộng tại Ba Tây trong thế kỷ 19. Khẩu hiệu “Trật Tự và Tiến Bộ” (Ordem e Progresso) của ông đã được thêu trên quốc kỳ Ba Tây. Nhưng theo Berger, phần lớn trong số 15% người dân Ba Tây tự nhận không thuộc tôn giáo nào không có cùng những lý do ý thức hệ như Comte. Nên họ khó bị lôi kéo trở lại Công Giáo nhờ các trống phách và ca hát kiểu Rossi hay các tiếng lạ kiểu Ngũ Tuần.

Nói cho cùng, Ngũ Tuần và Duy Tục, dù theo nghĩa nào, cũng chỉ là các biểu hiện của cùng một thách thức bên dưới: tức thách thức của chủ nghĩa đa nguyên hiện đại. Kể từ Phong Trào Ánh Sáng, đa số người ta đều nghĩ rằng hiện tượng thế tục hóa, theo nghĩa sa sút tôn giáo, là hậu quả tất yếu của hiện đại hóa. Lịch sử tôn giáo từ đầu thế kỷ 20, tức từ lúc Nietzsche tuyên bố Thiên Chúa đã chết, cho thấy ý niệm đó không đúng bao nhiêu. Tại phần lớn các nơi trên thế giới, tôn giáo đã phát triển một cách rực rỡ, nhiều nơi phát triển như chưa bao giờ có. Hiện đại hóa có phát sinh ra việc thế tục hóa ở một số nơi, nhưng ở nhiều nơi khác, không hề có hiện tượng ấy. Điều nó nhất thiết phát sinh ra là chủ nghĩa đa nguyên, tức việc tràn lan các thế giới quan khác nhau, các nền luân lý và các lối sống sống chung với nhau trong cùng một xã hội. Nhiều chế độ đã tìm cách dẹp bỏ chủ nghĩa đa nguyên, nhưng nó vẫn sống, đặt cho tôn giáo một thách thức hết sức nền tảng; nhưng thách thức này khác với thách thức của duy tục.

Bản chất của thách thức này là đánh đổ đặc tính trong đó bất cứ truyền thống tôn giáo nào cũng coi mọi việc như chuyện đương nhiên. Điều này không có gì khó hiểu cả. Ý niệm về thực tại của ta từ căn cội vốn được tạo nên nhờ hành động qua lại với người khác, khi ta còn nhỏ kinh qua điều các nhà tâm lý gọi là “xã hội hóa đệ nhất đẳng”. Sau này, khi đã trưởng thành, các ý niệm này được duy trì, bị thay đổi hay bác bỏ nhờ hành động qua lại với những người ta quan tâm. Diễn trình này có một hiệu quả rất đơn giản nhưng vô cùng quan trọng: khi môi trường xã hội của ta còn thống nhất và ổn định, thế giới quan của ta được duy trì bằng một cảm thức hết sức chắc chắn. Nhưng khi môi trường ấy ra đa dạng và bất ổn, ta cảm thấy chẳng còn gì là chắc chắn nữa. Ta khám phá ra có nhiều cách “trí tri” thực tại. Đấy là lúc nói theo Pascal, cùng một điều có thể đúng ở bên này Dẫy Pyrénées, nhưng lại sai ở bên kia Dẫy ấy. Con người hiện đại, từ nay, có cả hàng núi cao các giải pháp trong đầu. Chọn lựa giữa các giải pháp ấy cho tình huống riêng của mình là một nhiệm vụ khó khăn. Chính vì thế mà đa số con người hiện đại lo âu xao xuyến (nervous).

Sống bên kia Pyrénées, tức Tây Ban Nha, trong thế kỷ 19, chẳng hạn, thì làm người Công Giáo là việc đương nhiên, vì ai ai cũng Công Giáo cả. Có một gia đình Do Thái Giáo thật đấy, nhưng đã bị trục xuất từ lâu. Có anh chàng lạc giáo “dở hơi” thật đấy, nhưng anh ta đã bị Tòa Lạc Giáo tống giam rồi. Nay thì môi trường xã hội đã ra khác: mùa hè nào, du khách từ thập phương cũng kéo tới; phần lớn nhà cửa được người Đức giầu có tạo mãi, mà người Đức thì phần đông là Thệ Phản; ông thị trưởng lại là một người vô thần, và đôi khi cả ông linh mục cũng không khác bao nhiêu! Tốt nghiệp trung học, tôi không những biết đọc biết viết mà còn thích đọc mọi chuyện, khắp nơi trên thế giới. Tôi còn sử dụng liên mạng, Twitter; đi làm hay đi du lịch đó đây; làm quen cả với một phụ nữ Phi Luật Tân tới đây làm vú em. Tôi có còn là Công Giáo nữa hay không? Thống kê liệt kê tôi như thế. Nhưng tôi nào có nghĩ đến tôn giáo bao nhiêu, quên hầu hết các giáo huấn luân lý Công Giáo. Đạo Công Giáo quả không còn là chuyện đương nhiên nữa.

Đa nguyên là thế. Và đấy mới là thách đố thực sự của Công Giáo Ba Tây. Về phương diện này, Berger cho rằng Giáo Hội Công Giáo đã thực hiện nhiều thích ứng đối với chủ nghĩa này, nhất là trong việc Vatican II khẳng định tự do tôn giáo, ngược hẳn với các động thái trước đây của Đức Piô IX với Danh Mục Các Sai Lầm (1864), trong đó đáng chú ý nhất là sai lầm 80, một sai lầm cho rằng “Giám mục Rôma có thể và nên tự hoà giải và chấp nhận tiến bộ, chủ nghĩa tự do và nền văn minh hiện đại”. Bản Danh Mục cũng kết án việc tách biệt nhà nước và Giáo Hội, quyền tự do của cá nhân trong việc chọn lựa tôn giáo. Suốt từ đó cho tới đầu thế kỷ 20 (ủng hộ kế hoạch của Franco muốn biến Tây Ban Nha thành một quốc gia Công Giáo), Đạo Công Giáo luôn kình chống chủ nghĩa đa nguyên, coi nó như kẻ thù. Nhưng từ Vatican II trở đi, Giáo Hội Công Giáo rất tích cực trong việc cổ vũ tự do tôn giáo, các nhân quyền khác và nền dân chủ, cũng như phát huy đối thoại, hơn là tranh cãi, với các cộng đồng tín ngưỡng khác.

Việc trên không dễ. Nhiều giám mục Ba Tây đã tìm cách đối thoại với Ngũ Tuần, nhưng nhiều vị khác vẫn tiếp tục coi họ như các “môn phái” (sects) cần kết án và chống lại. Thành thử thanh thỏa với cuộc cách mạng đa nguyên sẽ là thách đố lớn cho Công Giáo trong nhiều năm sắp tới.

Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh giữa Công Giáo và Ngũ Tuần Ba Tây, với tư cách một nhà xã hội học tôn giáo, Berger nghĩ rằng ta nên áp dụng một vài phạm trù lấy từ kinh tế thị trường: nếu nhãn hiệu tôn giáo của bạn bị một nhãn hiệu khác cạnh tranh, thì bạn luôn bị cám dỗ mô phỏng một số đặc điểm của nhãn hiệu kia. Trong tình thế này, có thể có người thích sự pha trộn của bạn. Nhưng cũng có người, nhất là những người vốn thích nhãn hiệu trước đây của bạn, sẽ thấy việc pha trộn này tởm gớm. Bởi thế, theo Berger, nghiên cứu thị trường, cũng có tên là khoa học xã hội thực nghiệm, sẽ giúp các giám mục Ba Tây thấy rõ con số những người tới với mình vì nhạc rock trong Thánh Lễ và con số những người rời bỏ mình vì cùng một lý do. Dĩ nhiên, người ta hy vọng các ngài sẽ xem sét vấn đề dưới cái nhìn đức tin.

vietcatholic.net

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)