Văn hóa và xã hội -radio vatican
 

 

 

 


 


vũ văn An 2013 - vietcatholic.net

vietcatholic.net October 25, 2013

 

Di sản Gioan Phaolô II nơi Đức Phanxicô
Vũ Văn An 10/24/20133

Người ta hay so sánh giữa Đức Phanxicô và Đức Bênêđíctô, vị tiền nhiệm tức khắc và hiện còn sống của ngài, chứ ít ai so sánh ngài với Chân Phúc Gioan Phaolô II mà lễ nhớ được mừng vào ngày 22 tháng Mười vừa qua. Đây là dịp để ta tự hỏi các chủ đề nào của Đức Gioan Phaolô II vẫn còn sống động đến lúc này trong triều đại giáo hoàng của Đức Phanxicô.

Tiến sĩ Edward Mulholland trên trang mạng của Viện Gregorian thuộc Cao Đẳng Biển Đức cho rằng ba chủ đề sau đây cho thấy tính liên tục rất mạnh giữa hai vị nối nghiệp Thánh Phêrô này: hiểu con người nhân bản trong nét cao cả và thảm hại của họ sau khi sa ngã, tuyên xưng một Thiên Chúa giầu lòng xót thương, và thúc đẩy truyền giáo phát sinh ở chỗ hai thực tại này gặp nhau.

Cả Chân Phúc Gioan Phaolô II lẫn Đức Phanxicô đều hay nói tới phẩm giá của con người nhân bản. Thông điệp thứ nhất của Đức Gioan Phaolô II, Redemptor hominis, là cốt chính đối với tư tưởng và trọn hướng đi của triều đại giáo hoàng của ngài. Các sáng kiến mục vụ trong Năm Thánh Cứu Chuộc, Năm Thánh Ngàn Năm Mới, trong các gặp gỡ với giới trẻ và trong rất nhiều chuyến tông du và viếng thăm, tất cả đều xoay quanh việc tìm hiểu con người nhân bản trong nét cao cả của họ và trong mầu nhiệm tội lỗi và sự Sa Ngã. Ở cốt lõi các trước tác của Đức Gioan Phaolô II, ta thấy sự thật sâu xa về số phận con người và việc họ triệt để cần một Đấng Cứu Chuộc.

Đối với Đức Phanxicô, ta thấy điều trên trong việc ngài không ngừng vươn tay ra nắm lấy những con người đã sa ngã lại càng sa ngã hơn nữa vì bị đặt ra ngoài mọi chăm sóc và quan tâm của anh em đồng loại. Đó là những người bị đẩy ra bên lề, những người bị lãng quên, những người tị nạn chết đuối ngoài khơi Lampudesa. Và đối với những người khá giả của Phương Tây, Đức Phanxicô coi việc ưu tiên hóa giầu sang và tiện nghi vật chất trên việc chăm sóc người túng thiếu của họ là dấu chỉ và hậu quả của việc thiếu đức tin; đối với ngài, chỉ có đức tin mới tạo nền tảng vững chắc cho một xã hội trong đó, người ta thực sự chăm sóc lẫn nhau.

Trong Ánh Sáng Đức Tin, ngài viết: “Sự thống nhất của con người chỉ có thể quan niệm được trên căn bản tiện ích, trên tính toán thiệt hơn về quyền lợi hay trên sự lo sợ, chứ không trên sự tốt đẹp của việc sống chung với nhau, không trên niềm vui mà chỉ có sự hiện diện của người khác mới đem lại được. Đức tin làm ta biết đánh giá cơ cấu tương giao nhân bản vì nó nắm được nền tảng tối hậu và số phận dứt khoát của các tương giao này nơi Thiên Chúa, nơi tình yêu của Người, và do đó, dõi được ánh sáng lên nghệ thuật xây dựng; hiểu như thế, nó trở thành một phục vụ đối với ích chung” (Ánh Sáng Đức Tin, số 51).

Cả nơi Đức Gioan Phaolô II lẫn Đức Phanxicô, cái hiểu sâu xa trên về chiều cao mà con người có thể vươn tới cùng với vực thẳm mà họ từng rơi xuống quả thật làm nổi bật quan niệm về một Thiên Chúa chủ yếu xót thương. Lòng thương xót của Chúa là lời đáp trả sự Sa Ngã của con người, và lòng thương xót ấy có tên là Giêsu Kitô, Thiên Chúa Nhập Thể.

Thông điệp thứ hai của Đức Gioan Phaolô II là một suy niệm kéo dài về Chúa Cha “giầu lòng thương xót”. Ngày phong hiển thánh của ngài, Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa, nhắc ta nhớ tới công ngài thúc đẩy việc lập ra ngày lễ này, và việc ngài hấp hối vào vọng Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa năm 2005. Thiên Chúa, Đấng “giầu lòng thương xót”, được nhắc tới trong lời nguyện đầu Thánh Lễ cử hành vào ngày kính Chân Phúc Gioan Phaolô II.

Lời giảng và gương sáng của Đức Phanxicô đặt căn bản trên mệnh lệnh chính yếu, là bắt chước Chúa Giêsu về lòng thương xót người khác. Lòng thương xót này đặt căn bản trên ý niệm Thiên Chúa là Cha thương xót. Mọi ý niệm khác về Thiên Chúa, như đấng tạo hóa, đấng ban lề luật, quan tòa, v.v... đều được hiểu dưới ánh sáng tình yêu thương xót. Nội dung căn bản của đức tin là niềm tin vào một Thiên Chúa tình yêu. Điều này lên khuôn toàn bộ chương một của thông điệp Ánh Sáng Đức Tin. Đức Phanxicô ít khi lên tiếng mà lại không nhắc tới tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Đối với cả Đức Gioan Phaolô II và Đức Phanxicô, mệnh lệnh truyền giáo phát sinh từ cái hiểu sâu xa đối với tình yêu Thiên Chúa và nhu cầu con người. Chúa Giêsu là Thiên Chúa cứu chuộc, Đấng nhập thể tình yêu Thiên Chúa, xuống thế để cứu chuộc ta khỏi tội lệ và tái lập ra vào địa vị cao cả. Tội lỗi ta và tính hay sa ngã của ta không kết thúc lịch sử ta; sự sống con người không phải là thảm kịch; điều kỳ lạ và bất ngờ nhất đã xẩy ra: Thiên Chúa đã trả hết món nợ không cùng của ta cho sự công bằng thần linh bằng giá đau khổ nhân bản.

Sứ mệnh của ta như một Giáo Hội là công bố Tin Mừng đó, cử hành Tin Mừng đó trong phụng vụ, được nuôi dưỡng bằng sự tươi mát không cùng của nó trong các bí tích, và sống Tin Mừng đó một cách hân hoan và mời gọi để người khác cũng được lôi cuốn vào sự thật chính yếu của ơn cứu rỗi này. Bất cứ khi nào các điều này xẩy ra, tên của nơi Lời Chúa được công bố, Thân Thể Người được truyền phép, ơn thánh Người được san sẻ, tình yêu Người được trải rộng ra khắp mọi người, chính là Giáo Hội, bất luận xẩy ra trong một tòa nhà hay nơi những bàn tay thiện nguyện trên một cánh đồng truyền giáo vô danh. Ta chỉ là Kitô hữu bao lâu nhập thân được sứ mệnh của Chúa Kitô và san sẻ lòng thương xót của Chúa cho mọi người ta gặp, những người nam nữ, giống như ta, đang rất cần ơn thánh Chúa.

Thông điệp của Đức Gioan Phaolô ban hành sau ngày chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, tựa là Centesimus Annus đã dành trọn một chương nói về con người như là “con đường của Giáo Hội”. Động lực truyền giáo đẩy ta quá bên kia việc giảng giải bằng lời. Lời Thiên Chúa cũng phải trở nên máu thịt nữa nơi các hệ thống chính trị và kinh tế công chính nữa. Tháng Mười năm 1978, Đức Cựu Hồng Y Karol Wojtyla đã khởi đầu triều giáo hoàng của ngài bằng cách nói với mọi người rằng “Anh chị em đừng sợ” phải mở rộng cửa Giáo Hội, mở rộng tâm hồn mình và mở rộng cả cửa các hệ thống chính trị và kinh tế nữa. Đối với Đức Gioan Phaolô II, sống cuộc sống tại những nơi, trong đó tất cả chúng ta đều giúp đỡ mọi người để họ nên tốt hơn, vừa là một nhân đức vừa là một nguyên tắc xã hội tức tình liên đới.

Đối với Đức Phanxicô cũng thế, đó chính là cốt lõi sứ mệnh của Giáo Hội. Bất cứ cải tổ nào, bất cứ sự cử nhiệm giám mục nào, bất cứ hành động nào của Vị Đại Diện Chúa Kitô, đều được phán đoán bởi tiêu chuẩn tối hậu này: liệu quyết định này có giúp Giáo Hội sống sứ mệnh của Chúa Kitô tốt hơn không? Ngài không muốn có người ngồi trong các hàng ghế cho bằng các tông đồ năng động lên đường rời bỏ các bãi đậu xe ở nhà thờ.

Bỏ qua các dị biệt về phong thái và nhân cách, tâm hồn hai vị giáo hoàng này cực kỳ tương tự nhau. Xét về nhiều phương diện, đó chính là sự nhập thân trái tim của Công Đồng Vatican II, từng được Đức Gioan XXIII triệu tập. Đức Phanxicô quả đã học được bài toán thần học từ Đức Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: Khốn Cùng + Thương Xót = Truyền Giáo.

 

Tòa Thánh và việc giải giới toàn diện
Vũ Văn An 10/23/2013

Trong phiên họp thứ 68 của Đại Hội Đồng LHQ họp tại New York hôm 23 tháng Mười, Đức TGM Francis Chullikatt, Sứ Thần và là Quan Sát Viên Thường Trực của Tòa Thánh cạnh LHQ, đã đọc một tham luận về việc giải giới toàn diện mọi loại vũ khí trên thế giới. Sau đây là nguyên văn tham luận của ngài.

Kính thưa ngài chủ tọa,

Ủy Ban Thứ Nhất họp năm nay vào một thời điểm hết sức thuận lợi. Trong vài tuần qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều hành động ngoạn mục trong cuộc đấu tranh lâu dài nhằm giải thoát thế giới khỏi các vũ khí hóa học và hạch nhân.

Nghị quyết nhất trí của Hội Đồng Bảo An LHQ gần đây về vũ khí hóa học của Syria đã có một tầm quan trọng lịch sử. Tuy nhiên, về phương diện này, Ông Tổng Thư Ký đã nhận định: “Đèn đỏ đối với một hình thức vũ khí không có nghĩa đèn xanh đối với một hình thức vũ khí khác”. Do đó, ông đã kêu gọi phải ngưng hoàn toàn mọi hình thức bạo lực và bắt mọi loại vũ khí phải câm lặng.

Một dịp may đầy hy vọng khác đã diễn ra, đó là Phiên Họp Cấp Cao chưa từng có, kéo dài một ngày, về Giải Giới Hạch Nhân tại ngay Đại Hội Đồng này vào ngày 26 tháng Chín vừa qua. Đến từ khắp mọi nơi trên thế giới, Âu Châu, Phi Châu, Á Châu, Mỹ Châu La Tinh, các vị cầm đầu các quốc gia và chính phủ cũng như nhiều viên chức cao cấp khác đã lên tiếng kêu gọi phải bắt đầu ngay các cuộc thương thuyết toàn diện để ngăn cấm mọi loại vũ khí hạch nhân. Quả là điều gây ấn tượng khi thấy một lớn tiếng bày tỏ quan tâm như thế đối với điều rất nên gọi là “các hiệu quả thảm hại về nhân đạo” của việc sử dụng vũ khí hạch nhân.

Ý chí của thế giới như một toàn khối sẵn sàng cùng nhau tiến bước một cách xây dựng nhằm loại bỏ vũ khí hạch nhân quả chưa bao giờ hiển hiện hơn thế. Ấy thế nhưng một số rất nhỏ các quốc gia vẫn cứ đứng đó cản đường, vẫn cố gắng ngăn cản tiến bộ, và ráng đi tìm một giải pháp toàn diện cho một vấn đề từng kéo dài lê thê hết năm này qua năm nọ, trong tê liệt và hoang mang.

Tại Phiên Họp Cấp Cao về Giải Giới Hạch Nhân, điều rõ ràng là các quốc gia khắp thế giới muốn được thấy nghị quyết năm 2010 của Hội Nghị Tái Duyệt Hiệp Ước Cấm Phổ Biến được thực thi; nghị quyết này đòi triệu tập một phiên họp để triển khai một vùng không có vũ khí hạch nhân và các vũ khí khác thuộc loại huỷ diệt hàng loạt tại Trung Đông.

Tiến bộ đạt được trong cuộc tranh chấp Syria và triển vọng về một giải pháp chính trị ló dạng ở chân trời đang tạo khung cảnh cho việc triệu tập hội nghị Trung Đông. Diễn trình này từng bắt đầu từ năm 1995 khi Hội Nghị Tái Duyệt và Nối Dài Hiệp Ước Cấm Phổ Biến đã chấp thuận một nghị quyết nhằm bàn đến mọi loại vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Trung Đông. Sự thất bại của cộng đồng quốc tế trong việc hoàn tất lời hứa hẹn này đã hủy hoại tính khả tín của Hiệp Ước Cấm Phổ Biến và tương lai của vùng này. Vì Hội Nghị Tái Duyệt Hiệp Ước Cấm Phổ Biến sắp diễn ra vào năm 2015, điều cần là phải đưa ra các bước để xác định dứt khoát ngày giờ tổ chức hội nghị này.

Điều nghịch thường đáng buồn là các quốc gia mạnh miệng nhất trong việc kết án vũ khí hóa học lại giữ im lặng trong việc tiếp tục sở hữu các vũ khí hạch nhân. Cộng đồng quốc tế phải kêu gọi và phải hành động như một tiếng nói duy nhất nhằm ngăn cấm mọi loại vũ khí hùy diệt hàng loạt.

Triển vọng hợp tác giữa mọi quốc gia trong nghị trình mới về hòa bình bỗng nhiên có được một bước đi lên. Công trình này đòi sự cổ vũ và hợp tác liên tục của mọi phía. Một thế giới tốt đẹp hơn đang chờ xem ta có giảm chi phí quân sự quá cao hiện nay và có dành một phần chi phí quân sự cho qũy thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu của các quốc gia đang phát triển hay phát triển ít ỏi nhất hay không. Ủy ban được lập ra chuyên lo việc giảm thiểu vũ trang khắp thế giới này phải luôn ý thức được nhu cầu thực sự của việc đạt được một nền hòa bình và an ninh vững ổn cho quốc tế. Ta phải chấm dứt chủ nghĩa quân phiệt thiển cận và tập trung vào các nhu cầu dài lâu của gia đình nhân loại.

Kính thứa ngài chủ tọa,

Như Tòa Thánh từng phát biểu tại Phiên Họp Cấp Cao về Giải Giới Hạch Nhân, “Đã đến lúc phải phản công luận lý học sợ sệt bằng đạo đức học trách nhiệm, bằng cách phát huy bầu khí tin cậy và thành thực đối thoại, có khả năng cổ xúy nền văn hóa hoà bình, xây dựng trên tính thượng tôn pháp luật và ích chung, qua việc hợp tác gắn bó và có trách nhiệm giữa mọi thành viên của cộng đồng quốc tế”.

Thế giới chúng ta chưa bao giờ liên lập và liên kết với nhau như thế; hơn lúc nào hết, giờ đây ta không thể liều mình rơi vào thứ “hoàn cầu hóa dửng dưng”.

Quả là ảo tưởng khi nghĩ rằng sự an ninh và hoà bình của một số nước có thể được bảo đảm mà không cần đến sự an ninh và hòa bình của các nước khác. Trong một thời đại như thời đại ta, một thời đại đang kinh qua nhiều biến đổi xã hội và địa chính trị sâu xa, mỗi ngày người ta càng ý thức được rằng quyền lợi an ninh quốc gia liên kết chặt chẽ với quyền lợi an ninh quốc tế, đúng lúc gia đình nhân loại đang từ từ tiến lại gần nhau hơn và ở khắp nơi càng ngày càng ý thức được tính thống nhất và tính liên lập với nhau của mình.

Hòa bình, an ninh và ổn định không thể nào đạt được chỉ bằng các phương tiện quân sự, hay gia tăng chi tiêu quân sự, vì các điều này là mục tiêu đa kích (multidimensional) bao gồm nhiều khía cạnh vốn không chỉ thuộc lãnh vực chính trị và quân sự, mà còn thuộc lãnh vực nhân quyền, thượng tôn pháp luật, các điều kiện kinh tế và xã hội, và việc bảo vệ môi sinh. Đây là những điều nhận việc cổ vũ sự phát triển nhân bản đích thực và toàn diện làm mục tiêu chính của chúng, trong đó sự khôn ngoan, lý lẽ và sức mạnh của luật pháp phải thắng vượt bạo lực, gây hấn và vũ lực.

Hòa bình là một tòa nhà liên tục cần được xây dựng, một xây dựng đặt nền không hẳn trên sức mạnh cho bằng trên lòng tin cậy, trên việc bồi đắp tin tưởng, trên việc tôn trọng các bổn phận đã đảm nhiệm và trên đối thoại. Không có các yếu nền tảng này, ta sẽ gây nguy cơ không những cho hòa bình mà còn cho chính sự hiện hữu của gia đình nhân loại nữa. Phạm vi giải giới và kiểm soát vũ khí liên tục đòi phải sử dụng khôn ngoan và thiện chí.

Xin cám ơn ngài chủ tọa.

Một Giáo Hội cho người Nghèo
Vũ Văn An 10/22/2013

“Biết bao người nghèo vẫn còn đang hiện diện trên thế giới! Và họ phải chịu đau khổ lớn lao đến chừng nào!”. Với những lời lẽ này, đức tân giáo hoàng Phanxicô đã giải thích cho các nhà ngoại giao quốc tế tại Vatican ngày 22 tháng Ba lý do tại sao ngài chọn tên Phanxicô lúc được bầu. Và từ ngày đó, ngài không ngừng nói tới tai tiếng nghèo khó của thế giới dư thừa như thách đố luân lý xé lòng nhất đối với Giáo Hội và toàn thể cộng đồng nhân loại.

Một phần, sứ điệp của Đức Giáo Hoàng kêu gọi ta đích thân hồi tâm, vì đã để cho các mẫu mực duy vật chủ nghĩa thống trị đời ta và làm méo mó nhân tính ta. Đức Phanxicô làm tất cả chúng ta cảm thấy khó chịu đến nỗi trong sự khó chịu này, ta buộc phải thừa nhận và đối chất với việc ta đã ra xa lạ đối với nhân tính ta. Sự ra xa lạ này diễn ra khi ta tìm hạnh phúc nơi các đồ vật thay vì, nơi mối tương quan với Thiên Chúa và người khác.

Sứ điệp của Đức Phanxicô cũng là lời mời gọi ta hồi tâm về văn hóa, bằng cách bóc trần 3 nền văn hóa giả tạo mà chủ nghĩa duy vật đã tạo nên trên thế giới: văn hóa tiện nghi tức nền văn hóa khiến ta chỉ nghĩ đến ta; văn hóa phí phạm, tức nền văn hóa chỉ biết nắm lấy các quà phúc của tạo thế để hưởng thụ chốc lát rồi vứt bỏ; và văn hóa dửng dưng, tức nền văn hóa khiến ta vô cảm đối với đau khổ của người khác, bất kể đau khổ này cùng cực như thế nào, được chịu đựng ra sao. Lời lẽ của Đức Phanxicô về hiện tượng “hoàn cầu hóa sự dửng dưng” khiến ta nhớ tới nhận xét sắc cạnh của Đức Bênêđíctô trong thông điệp “Bác ái trong chân lý” (2009): “Xã hội càng trở nên hoàn cầu hóa, nó càng biến ta thành người hàng xóm, chứ không làm ta thành anh em”.

Và sau cùng, sứ điệp của Đức Phanxicô cũng nói tới cải tổ cơ cấu trên thế giới. Vào tháng Sáu, ngài giải thích rằng “Phải tìm ra cách để giúp mọi người thừa hưởng được hoa quả của trái đất, chứ không chỉ để lấp khoảng phân cách giữa người giầu có và những ai phải bằng lòng với các mẩu bánh rớt từ trên bàn xuống”. Đức Phanxicô từng cho thấy rõ: không thể lấy cuộc trì trệ kinh tế hiện nay làm cớ để không hành động. Đúng hơn, ta cần phải tức khắc khởi sự “một kích thích mới để buộc quốc tế phải hành động vì người nghèo, một kích thích được gợi hứng bởi một điều gì khác hơn là thiện chí đơn thuần, hoặc, tệ hơn, bởi những lời hứa rất thường bị quên lãng”.

Giáo huấn của Đức Giáo Hoàng về quyền lợi của người nghèo có nhiều hệ luận lớn lao đối với nền văn hóa và chính trị của Hoa Kỳ và Giáo Hội tại nước này. Giáo huấn này đòi cuộc bàn luận về chính trị của người Công Giáo Hoa Kỳ hiện nay phải có sự biến đổi, một biến đổi phản ảnh 3 chủ đề: ưu tiên hóa vấn đề nghèo đói, chú mục không những vào các sự ác nội tại mà vào cả tội lỗi có tính cơ cấu nữa, và hành động khôn ngoan khi đem áp dụng các nguyên tắc luân lý Công Giáo vào các luật lệ đặc thù.

Ưu tiên hóa vấn đề nghèo đói

Trách nhiệm luân lý sâu xa của Hoa Kỳ trong trận tuyến chống nghèo đói khắp địa cầu phát khởi từ sức mạnh lớn lao của nước này đối với nền kinh tế thế giới. Hơn bất cứ quốc gia nào, Hoa Kỳ có khả năng ảnh hưởng tới các liên hệ giao thương, có sẵn vốn và điều kiện thuận lợi về thị trường. Nếu phải thực thi viễn kiến của Đức Phanxicô về một thế giới với các cơ cấu giao thương và tài chánh thực sự công bình, thì Hoa Kỳ và Âu Châu hẳn phải đóng vai trò hàng đầu trong việc thay đổi các qui định hiện nay, là những qui định thường biến các thị trường mới khai sinh tại các nước nghèo thành nạn nhân.

Thêm vào đó, Hoa Kỳ và các nước giầu có nhất trong cộng đồng thế giới có trách nhiệm luân lý phải chia sẻ sự dư thừa của họ với các dân tộc nghèo nàn nhất trong gia đình nhân loại. Năm 2002, các nước giầu có trên thế giới từng hứa dành 0.7 sản lượng sổi nội địa để giảm nghèo cho tới năm 2015. Mức đầu tư này đáng lẽ đã loại trừ phần lớn cảnh nghèo cùng cực trên thế giới. Tuy nhiên, Hoa Kỳ và phần lớn các cường quốc kinh tế hàng đầu đã thoái thác cam kết của mình. Hiện nay, Hoa Kỳ chỉ dành 0.2 phần trăm sản lượng sổi nội địa cho các trợ giúp phát triển. Kết quả, hàng triệu trẻ em chết mỗi năm do bệnh tật và thiếu dinh dưỡng, thẩy đều có thể ngăn cản được. Đây là tội xã hội, phát sinh từ các quyết định cá nhân. Đây chính là “nền văn hóa dửng dưng có tính hoàn cầu” khiến ta quay mặt để mặc các chính phủ cố tình đưa ra nhiều quyết định nhằm tăng tiến nền văn hóa tiện nghi mà quên mất hằng hà sa số nhân mạng bị hy sinh vì cái tiện nghi này.

Tại Hoa Kỳ, ta cũng đã quay mặt làm ngơ sự bất quân bình ngày càng lớn ở trong nước; sự bất quân bình này đang tiêu diệt nhiều cuộc đời và làm tan nát nhiều tinh thần. Đức Phanxicô trực tiếp nói về điều này: “Trong khi lợi tức của một thiểu số tăng theo lũy thừa, thì lợi tức của đa số xuống đến mức tận cùng. Sự bất quân bình này là kết quả của các ý thức hệ chủ trương tính độc lập tuyệt đối cho thị trường và việc đầu tư tài chánh, và do đó, bác bỏ quyền can thiệp của nhà nước, là cơ cấu có nhiệm vụ cung cấp ích chung”. Trong lịch sử vĩ đại của mình, Hoa Kỳ vốn tượng trưng cho tính linh động về kinh tế và giai cấp trung lưu, nay đang phản ảnh một sự cách biệt trắng trợn về lợi tức và giầu có, gây trở ngại cho tính linh động kia. Người nghèo bị cuộc tranh luận chính trị của Hoa Kỳ quên lãng và đang phải gánh chịu nhiều cắt giảm trong trợ giúp của chính phủ, nhất là ở cấp tiểu bang.

Nếu Giáo Hội Công Giáo thực sự muốn là một “Giáo Hội cho người nghèo” tại Hoa Kỳ, nó phải nâng vấn đề nghèo đói lên hàng đầu trong nghị trình chính trị của mình, coi nghèo đói, giống như phá thai, là vấn đề luân lý nổi bật được cộng đồng Công Giáo theo đuổi lúc này trong lịch sử Hoa Kỳ. Cả phá thai lẫn nghèo đói, với sự hỗ trợ của các chính phủ, đang là nguyên nhân cho cái chết của hàng triệu trẻ em trên thế giới. Cả phá thai lẫn nghèo đói, theo cách và mức độ riêng, đều đang tấn công vào chính cốt lõi nhân phẩm, biến sự sống thành dụng cụ trong nền văn hóa vứt bỏ. Tiếng kêu của trẻ chưa sinh và tiếng kêu của người nghèo phải nằm ở cốt lõi các bàn luận chính trị của người Công Giáo trong những năm sắp tới vì các thực tại này đang bỏ xa các đe doạ khác đối với sự sống và phẩm giá con người trong xã hội hiện nay.

Tội lỗi có tính cơ cấu

Một khía cạnh nữa trong việc thay đổi các tranh luận chính trị của người Công Giáo là phải chú mục hơn nữa vào tội lỗi có tính cơ cấu, một thay đổi hết sức cần thiết. Trong việc theo đuổi các yếu tố chủ chốt của ích chung, tội lỗi có tính cơ cấu thực sự có liên quan hơn là tội lỗi có tính nội tại (intrinsic evils).

Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo định nghĩa ích chung là “tổng số các điều kiện xã hội giúp người ta, trong tư bcách nhóm hay cá nhân, đạt tới sự thành toàn của họ một cách trọn vẹn và dễ dàng hơn”. Có ba yếu tố trong ích chung: tôn trọng các quyền căn bản và bất khả nhượng của con người nhân bản, an vui và phát triển xã hội, ổn định và an ninh của trật tự chính đáng. Ích chung chủ yếu được thực hiện bởi nhiều định chế xã hội: gia đình, cộng đồng tôn giáo, cơ sở kinh doanh, nghiệp đoàn và các cơ quan phục dịch, là các định chế ở bên ngoài chính phủ. Tuy nhiên, muốn nó thành tựu, yếu tố chủ chốt vẫn phải do chính phủ đảm nhiệm. Linh mục John Courtney Murray, Dòng Tên, gọi yếu tố chủ chốt này là “trật tự công cộng”.

Sứ mệnh của cộng đồng Công Giáo trong lãnh vực trật tự công cộng tại Hoa Kỳ là thúc đẩy một cách toàn bộ để chính phủ tập chú vào việc thăng tiến nhân quyền, phát triển và hoà bình xã hội. Một phần trong thúc đẩy này phải đề cập tới vấn đề sự ác nội tại (intrinsic evil), tức các hành vi không bao giờ được biện minh bất chấp ý hướng và hoàn cảnh, như giết người, diệt chủng, phá thai, an tử, kỳ thị chủng tộc, tra tấn, tự tử và nạn nô lệ.

Sự ác nội tại luôn luôn xấu ở bất cứ đâu, nhưng không phải mọi hành vi ác ngay trong chúng đều thuộc lãnh vực trật tự công cộng và thuộc vai trò của chính phủ. Các hành vi ác ngay trong chúng như ngoại tình và phạm thượng luôn luôn xấu, nhưng chúng đâu thuộc quyền tài phán của chính phủ. Một số hành vi tự chúng xấu như kỳ thị chủng tộc một phần thuộc phạm vi chính phủ, một phần không thuộc phạm vi này. Kỳ thị chủng tộc trong lãnh vực nhà ở và việc làm tất nhiên phải bị luật lệ nghiêm cấm, nhưng những nhận xét kỳ thị chủng tộc trong các truyện trò tư riêng đâu có thể nghiêm cấm được như thế. Cuối cùng, có những hành vi ác một cách nghiêm trọng và đi ngược lại luật lệ xã hội đến độ chống đối chúng là điều chủ yếu đối với sứ mệnh tìm kiếm ích chung của người Công Giáo. Phá thai và an tử thuộc loại ác này vì chúng liên lụy tới bổn phận nền tảng nhất của chính phủ, là phải ngăn cản việc sát hại mạng sống những người ngây thơ vô tội.

Điều chủ yếu là phải hoàn toàn thừa nhận bản chất của cái ác nội tại và mối liên hệ của nó với ích chung. Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây, nhiều luận chứng đã được nêu ra trong các bàn luận chính trị của người Công Giáo nhằm mục đích cho rằng các vấn đề liên quan tới các hành vi ác nội tại tự động chiếm ưu tiên trong trật tự công cộng hơn các vấn đề ác khác như nghèo đói, chiến tranh, luật lệ di dân bất chính và việc thiếu công lý phục hồi (restorative justice) trong hệ thống hình sự. Hậu quả là nhiều người Công Giáo coi các vấn đề chủ chốt khác trong giáo huấn xã hội của Giáo Hội chỉ có tính nhiệm ý.

Các tuyên bố của Đức Phanxicô về nghèo đói cho thấy tại sao các vấn đề thuộc sự ác nội tại không tự động có tính ưu tiên trong việc phát huy ích chung. Phạm trù sự ác nội tại rất cần để nhận diện sự ác nội tại ngay trong một số loại hành động. Tuy nhiên, nghèo đói không phải là hành động một lần mà có. Nó là kết quả của vô số hành động nhân bản với những mức độ trách nhiệm khác nhau, nhằm tạo ra các cơ cấu và thực hành xã hội đầy rẫy vị kỷ và sự ác. Phạm trù sự ác nội tại không nắm bắt được loại sự ác cố thủ sẵn trong nghèo đói. Ấy thế nhưng Đức Phanxicô rõ ràng muốn dạy ta rằng giảm nghèo đói phải nằm ở tâm điểm sứ mệnh của Giáo Hội. Nó không có tính nhiệm ý hoặc phụ thuộc.

Giống như chiến tranh, hay việc bóc lột các di dân không có giấy tờ và hệ thống công lý hình sự bị bóp méo của Hoa Kỳ, nghèo đói là tội cơ cấu bắt nguồn từ chính sinh hoạt của xã hội và của chính phủ. Tội cơ cấu là hậu quả của các tội bản thân từng hợp quần tạo ra các tình huống và định chế xã hội hoàn toàn đi ngược lại lòng nhân hậu của Thiên Chúa.

Đức Phanxicô cho thấy rõ thực tại và tính phi ngã của tội cơ cấu khi ngài tới thăm Lampudesa, nơi hàng trăm di dân không giấy tờ chết vì đắm tầu khi đi tìm cuộc sống mới tại Ý. Ngài đặt câu hỏi: “Ai chịu trách nhiệm đối với máu của những anh chị em này của ta? Không ai cả! Đó là câu trả lời của ta. Không phải tôi; tôi đâu có liên quan gì tới họ; chắc chắn phải là ai khác, chứ nhất định không phải tôi. Ấy thế nhưng Thiên Chúa từng hỏi mỗi người chúng ta: ‘máu của em ngươi đang kêu tới ta hiện đang ở đâu?’”.

Trong việc phát huy ích chung, có yếu tố tuỳ ở việc chống lại các hành vi tự chúng xấu. Có yếu tố liên quan tới vấn đề tội cơ cấu. Thông điệp “Chân Lý Sáng Ngời” năm 1993 nhắc ta nhớ tới các yếu tố khác nữa, thuộc phạm trù sự thiện vĩ đại, như viễn kiến liên đới xã hội của Đức Gioan Phaolô II, hay các suy tư đầy tính khám phá về việc quản lý tạo dựng của Đức Bênêđíctô XVI. Không hề có một phạm trù đơn độc nào về tội hay sự ác, sự thiện xã hội hay nhân đức, giúp ta biện phân các ưu tư của Giáo Hội về trật tự công cộng. Ý niệm ích chung, tự bản chất, vốn có nhiều chiều kích, do đó, bất cứ cố gắng nào nhằm tối thiểu hóa các chiều kích này đều bóp méo di sản và giáo huấn của ta.

Vai trò của khôn ngoan

Vai trò khôn ngoan vốn là một trong các yếu tố bị sử dụng sai lạc hơn hết trong các bàn luận chính trị của người Công Giáo Hoa Kỳ trong những năm gần đây. Nhất là trong những năm có tổng tuyển cử, người ta thường quả quyết rằng các vấn đề liên quan tới sự ác nội tại không nhất thiết đòi sự phán đoán khôn ngoan, trong khi các sự ác nghiêm trọng khác như chiến tranh, nghèo đói hay xử bất công với di dân mới là các vấn đề nặng về khôn ngoan; đối với các vấn đề này người thiện chí có thể bất đồng với nhau.

Thực ra, khôn ngoan là yếu tố cần thiết của bất cứ cố gắng nào nhằm phát huy ích chung qua hành động của chính phủ. Từ nguyên tắc luân lý rõ ràng nhất bước qua luật lệ hay hành động hành chánh đặc thù đều đòi phải có chiến thuật, đặt ưu tiên và tính thực tiễn. Dù là thế chăng nữa, cũng không có luật lệ hay chương trình nào có thể nói hết được sự minh nhiên và viên mãn của nguyên tắc luân lý này.

Chỉ cần xét vấn đề phá thai, là vấn đề có lẽ đại diện cho việc áp dụng đơn giản nhất vào luật một nguyên tắc luân lý Công Giáo hết sức rõ ràng và có tính trói buộc. Giáo huấn Công Giáo rõ ràng đòi ta phải có các luật lệ cứng rắn và hữu hiệu chống lại việc phá thai. Nhưng luật có nên kết tội phá thai cho người mẹ hay cho những người thi hành việc phá thai không? Hoặc giả ta nên có những chế tài phi hình sự? Đâu là phương thức tốt nhất để đặt việc phá thai ra ngoài vòng pháp luật: thông báo cho phụ huynh và ngăn cấm phá thai ở giai đoạn cuối, hay áp lực ngay lập tức để có được những ngăn cấm toàn diện? Đây là những câu hỏi mà người thiện chí có thể bất đồng mà vẫn phù hợp với giáo huấn Công Giáo, vì mọi đề xuất này đều tìm cách thực hiện nguyên tắc nòng cốt là luật phải bảo vệ mạng sống của trẻ chưa sinh. Điều này hoàn toàn khác với một ứng cử viên từ khước không chịu bỏ phiếu cho bất cứ dự luật hạn chế phá thai nào và biện luận rằng mình thực sự làm nhiều hơn trong việc giảm thiểu con số phá thai qua các chương trình trợ giúp người nghèo và chăm sóc sức khỏe. Một ứng cử viên như thế quả đã bác bỏ bản chất nòng cốt của giáo huấn Công Giáo về phá thai và luật dân sự.

Giáo huấn nòng cốt của Giáo Hội về vai trò của chính phủ trong việc chống nghèo đói nói rằng song song với việc phát huy các điều kiện có thể cung cấp công ăn việc làm có ý nghĩa cho công dân của mình, các chính phủ còn phải cung cấp các định mức lương bổng, y tế và nhà ở hợp nhân phẩm nữa. Ngoài ra, như Đức Phanxicô từng dạy nhiều lần, các quốc gia giầu có còn có nghĩa vụ phải cố gắng hết sức để giảm thiểu các bất quân bình lộ liễu về giầu có bên trong biên giới của mình và cả bên ngoài nữa.

Thực hiện các mục tiêu này đòi một loạt các quyết định khôn ngoan phức tạp liên quan tới cơ cấu tài chánh, các sáng kiến tạo ra của cải và các chương trình trợ giúp thu nhập để thăng tiến đời sống gia đình, chứ không xâm hại đời sống này. Nhiều thứ chọn lựa loại này tương hợp hoàn toàn với các giáo huấn Công Giáo về công bằng kinh tế.

Tuy nhiên, các quyết định nào của công dân hay của viên chức công nhằm giảm thiểu một cách có hệ thống, và do đó, một cách bất công, sự trợ giúp tài chánh của chính phủ dành cho người nghèo, đều rõ ràng bác bỏ các giáo huấn Công Giáo về nghèo đói và công bằng kinh tế. Các quyết định về chính sách nào nhằm giảm thiểu việc trợ giúp các nước nghèo phát triển đều bác bỏ các giáo huấn nòng cốt của Công Giáo. Các chính sách thuế khóa nào nhằm gia tăng thay vì giảm thiểu các bất quân bình đều cũng bác bỏ các giáo huấn Công Giáo nòng cốt. Bản chất và cung giọng các tuyên bố của Đức Phanxicô về nghèo đói và sự ác trên thế giới mạnh mẽ cho ta thấy điều nnày: dù khôn ngoan là điều cần thiết đối với việc lên chính sách lành mạnh cho kinh tế, bản chất tuyệt đối của giáo huấn Công Giáo về công bình kinh tế vẫn là điều rất rõ ràng và có tính trói buộc.

Giáo huấn của Đức Phanxicô về “một Giáo Hội cho người nghèo” không những nói đến tính trung tâm của việc giải quyết nghèo đói, coi nó như một mệnh lệnh đối với người Công Giáo trong lãnh vực công, mà còn kêu gọi ta nhìn một cách mới mẻ vào bản chất của ích chung trong xã hội và làm cách nào thực hiện được nó. Chúng ta được mời gọi coi các vấn đề phá thai và nghèo đói, hôn nhân và quyền di dân, an tử và chiến tranh, tự do tôn giáo và công lý phục hồi, không như các giải pháp chống chọi nhau thường thấy trong khuôn khổ đảng phái, mà như một chuỗi liên tục (continuum) có tính bổ túc cho nhau giữa sự sống và phẩm giá. Ta được kêu gọi tạo ra một cuộc đàm đạo chính trị của người Công Giáo biết chủ trương rằng các vấn đề lớn lao nhất của thời ta chỉ có thể được giải quyết với một viễn kiến bắt nguồn từ phẩm giá siêu việt của con người nhân bản. Vì nhiên hậu, mục đích mọi cuộc đàm đạo chính trị của người Công Giáo phải là giúp đất nước mình biết nhìn các đau thương và cố gắng nhân bản không qua lăng kính chính trị mà qua tầm nhìn của chính Thiên Chúa.

Phóng dịch bài “A Church for the poor” của Đức Cha Robert W. McElroy, giám mục phụ tá San Francisco, America, số 21 tháng Mười, 2013.

 

Giầu nghèo trên thế giới
Vũ Văn An10/17/2013

Sự giầu có toàn cầu đã đạt tới mức cao chưa từng có: 241 ngàn tỷ đôla, tăng 4.9 phần trăm so với năm ngoái và 68 phần trăm kể từ năm 2003, trong đó, Hoa Kỳ chiếm tới 72 phần trăm sự gia tăng mới nhất này. Đó là tường trình về sự giầu có trên thế giới năm 2013 tựa là Tường Trình Về Sự Giầu Có Toàn Cầu Của Tín Dụng Thụy Sĩ (Credit Suisse Global Wealth Report). Mức giầu có trung bình của một người trưởng thành đạt tới mức cao chưa từng có: 51,600 đôla. Tuy nhiên, mức giầu có trung bình của một người trưởng thành Thụy Sĩ hiện vượt con số 500,000 đôla, đứng thứ nhất lần thứ hai trong ba năm.

Đâu có thấy giầu hơn chút nào? Điều này không ngạc nhiên chi cả. Vì nếu bạn không sở hữu chứng khoán và căn nhà của bạn vẫn dậm chân tại vũng bùn giá cả hậu suy thoái, hay bạn chưa sở hữu căn nhà nào cả, thì có lẽ sự giầu có của bạn chẳng xê xích bao nhiêu, thậm chí có khi còn tụt hậu ít phần trăm hay tệ hơn thế nữa. Tại Hoa Kỳ, nơi phục hồi kinh tế khá èo uột và nạn thất nghiệp vẫn còn cao, thì ít người bên ngoài số 10 phần trăm những kẻ nắm giữ giầu có có thể trải nghiệm bất cứ sự cải thiện nào về giầu có bản thân kể từ lúc cuộc suy thoái vĩ đại của ba năm 2008-2010 chấm dứt về phương diện kỹ thuật.

Thực vậy, phần lớn sự giầu có được tạo ra trong các năm có khủng hoảng kinh tế đã tập trung vào tay một phần trăm nhỏ xíu các cư dân của quả địa cầu. Theo phúc trình này, sự bất quân bình về giầu có vẫn còn khá cao, với 10 phần trăm dân số thế giới sở hữu 86 phần trăm sự giầu có toàn cầu. Riêng 1 phần trăm cao nhất chiếm tới 46 phần trăm tài sản đó. Tín Dụng Thũy Sĩ tường trình rằng 50 phần trăm người trưởng thành toàn cầu ở cuối bậc thang chỉ sở hữu khoảng 1 phần trăm sự giầu có của quả địa cầu này mà thôi.

Một số quốc gia có mức bất quân bình về giầu có đến ngỡ ngàng. Tường trình này cho hay: “Nga có mức bất quân bình về giầu có cao nhất thế giới, trừ các quốc gia vùng Caribê với nhiều cư dân là tỷ phú”. Vì tại Nga, 110 cá nhân của cả nước chiếm tới 35 phần trăm tài sản của đất nước mênh mông.

Trong năm 2013, Tín Dụng Thụy Sĩ ước tính rằng 3.2 tỷ cá nhân, tức hơn 2 phần 3 người lớn trên thế giới, có tài sản dưới 10,000 đôla. Một tỷ người khác, tức 23 phần trăm người lớn trên thế giới, sở hữu một tài sản từ 10,000 tới 100,000 đôla. Số 393 triệu người còn lại, tức 8 phần trăm người lớn trên thế giới, sở hữu một tài sản trên 100,000 đôla. Tín Dụng Thụy Sĩ cho rằng con số này bao gồm 32 triệu triệu phú “đôla Mỹ”, tức nhóm người dưới 1 phần trăm dân số trưởng thành thế giới, nhưng lại nắm giữ 41 phần trăm toàn bộ tài sản toàn cầu. Bên trong nhóm này, Tín Dụng Thụy Sĩ ước lượng rằng 98,700 cá nhân có tài sản hơn 50 triệu đôla, và 33,900 người có tài sản trị giá hơn 100 triệu đôla.

Sự tập trung giầu có lớn nhất diễn ra tại 2 vùng phía bắc: Bắc Mỹ và Bắc Âu Châu. Hai vùng ít giầu có nhất thế giới là Trung Phi Châu và Nam Á Châu. Tín Dụng Thụy Sĩ cho rằng sự giầu có toàn cầu sẽ tăng gần 40 phần trăm trong vòng 5 năm tới, đạt 334 ngàn tỷ đôla vào năm 2018. Họ ước lượng rằng các thị trường đang xuất hiện sẽ là tác nhân của 29 phần trăm việc gia tăng này, trong đó, riêng Trung Hoa sẽ chiếm gần 50 phần trăm sự gia tăng về giầu có của các nền kinh tế đang vươn lên.

Năm nay, cũng như bốn năm liên tiếp vừa qua, Hoa Kỳ đạt được sự gia tăng về giầu có cá nhân. Được kích thích bởi việc phục hồi về giá nhà cửa và việc thị trường đầu cơ (bull market) đẩy Dow Jones lên cao, Hoa Kỳ đã cộng thêm 8.1 ngàn tỷ đôla vào tổng số giầu có toàn cầu, nhờ thế gia tăng 12.7 phần trăm việc sở hữu giầu có, lên tới 72.1 ngàn tỷ đôla, tức 20 phần trăm cao hơn mức trước cuộc khủng hoảng năm 2006 và 54 phần trăm cao hơn mức năm 2008.

Trị giá trung bình của sự giầu có toàn cầu, dưới 52,000 đôla, cho thấy nhiều dị biệt tùy từng quốc gia và từng vùng. Những quốc gia giầu có nhất, với mức giầu có hơn 100,000 đôla mỗi người lớn, nằm ở Bắc Mỹ, Tây Âu và ở các nước giầu vùng Á Châu Thái Bình Dương và Trung Đông. Đứng đầu các quốc gia này là Thụy Sĩ, quốc gia mà năm 2011 đã trở thành quốc gia đầu tiên có mức giầu có vượt quá 500,000 đôla. Năm 2012, mức này có giảm chút đỉnh, nhưng năm nay sự gia tăng giá cổ phần (equity) đã đem lại mức giầu có rất cao là 513,000 đôla. Úc (403,000 đôla), Na Uy (380,000 đôla) và Lục Xâm Bảo (315,000 đôla) tất cả đều đã đạt được sự gia tăng về giầu có tính theo đầu người lớn và tiếp tục duy trì được địa vị thứ hai, thứ ba và thứ tư từ năm 2012. Hoa Kỳ, Thụy Điển, Pháp, Tân Gia Ba, Bỉ và Đan Mạch xếp hàng tiếp theo đó, với mức giầu có tính theo đầu người lớn từ 250,000 tới 300,000 đôla.

Nhóm “giầu có ở giữa” bao gồm các nước có mức giầu có trung bình từ 25,000 tới 100,000 đôla. Một số nước thuộc Liên Hiệp Âu Châu (EU) như Bồ Đào Nha, Malta và Slovenia đứng đầu các nước này, trong khi các nước vừa mới gia nhập EU như Cộng Hoà Czech, Estonia và Slovekia thì nằm thấp nhất. Nhóm các quốc gia này cũng bao gồm một số quốc gia Trung Đông như Bahrain, Oman, Lebanon và Saudi Arabia, và một số quốc gia Châu Mỹ La Tinh như Chile, Colombia, Costa Rica, Mexico và Uruguay, vốn được coi như các thị trường đang lớn mạnh. Hung Gia Lợi và Ba Lan đã trở lại nhóm này sau một năm vắng bóng. Libya và Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã trở lại nhóm này sau nhiều năm khuất dạng.

Nhóm được Tín Dụng Thụy Sĩ gọi là nhóm tiền tuyến (frontier waelth) tức có mức giầu có từ 5,000 tới 25,000 đôla mỗi người lớn, bao gồm các quốc gia có diện tích lớn nhất và cũng có dân số đông nhất thế giới, trong đó có Trung Hoa, Nga, Nam Dương, Ba Tây, Phi Luật Tân, Ai Cập và Iran. Nhóm này cũng bao gồm nhiều quốc gia đang chuyển tiếp ở bên ngoài EU (Albania, Armenia, Azerbaijan, Bosnia, Georgia, Serbia, Kazakhstan và Mông Cổ), phần lớn Châu Mỹ La Tinh (Argentina, Ecuador, El Salvador, Panama, Paraguay, Peru và Venezuela), và nhiều quốc gia dọc Địa Trung Hải (Algeria, Jordan, Libya, Morocco, Syria và Tunisia). Nam Phi gần đây vốn thuộc nhóm giầu có ở giữa, nhưng nay đã tuột xuống nhóm này cùng với các quốc gia vùng Hạ Sahara: Botswana, Equatorial Guinea và Namibia. Lào và Tích Lan năm nay vượt lên quá 5,000 nên đã cùng Thái Lan tham gia nhóm này.

Nhóm các quốc gia cuối cùng về giầu có dưới 5,000 đôla phần lớn tập trung ở Trung Phi Châu và Nam Á Châu. Nhóm này bao gồm trọn Trung Phi ngoại trừ Angola, Equatorial Guinea và Gabon. India cũng thuộc các quốc gia này, cùng với Bangladesh, Cambodia, Myanmar, Nepal, Pakistan và Việt Nam. Lao đao trong nhóm này cũng có 3 quốc gia giáp giới với EU, đó là Belarus, Moldova và Ukraine.

 

Năm đức tin và sự đồng lõa của Kitô hữu
Vũ Văn An10/14/2013

Năm 1938, trước những cuộc tấn công thiếu hiểu biết của người vô thần đối với Kitô Giáo, nhà thần học Dòng Tên Henri de Lubac nêu câu hỏi: “nếu một hiểu lầm như thế xuất hiện và tự củng cố, nếu một tố cáo như thế được chấp nhận rộng rãi, thì há đó không do lỗi chúng ta hay sao?” Câu hỏi của de Lubac nói lên sự kiện đáng lo ngại này: nếu các biếm họa về Kitô Giáo đang được phổ biến và xem ra đáng tin, thì các Kitô hữu là những người phải chịu trách nhiệm một phần. Vì dù sao, chủ nghĩa duy tục tại Phương Tây cũng là hiện tượng “xẩy ra ngay trong nhà”; và dù có xét về phương diện hoàn cầu đi chăng nữa, thì hiện tượng vô tín ngưỡng phổ quát hiện nay cũng chủ yếu là một đặc điểm của các xã hội hậu Kitô Giáo. Chính Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay của Vatican II cũng đã nhìn nhận như thế: “Các tín hữu có thể đóng một vai trò không nhỏ trong việc phát sinh ra chủ nghĩa vô thần, vì qua việc sao lãng nền giáo dục đức tin, qua việc giảng dạy những lý thuyết sai lạc, hoặc qua những thiếu sót trong đời sống tôn giáo, luân lý hay xã hội của mình, có thể nói đúng hơn họ đang che dấu hơn là biểu lộ khuôn mặt đích thật của Thiên Chúa và của tôn giáo mình”.

Năm mươi năm sau, có lẽ ta vẫn cần lưu tâm đến giáo huấn trên. Người ta thường nghe những nhận định đại loại như nhà văn vô thần này hay nhà văn vô thần kia chỉ đánh vào khoảng trống hay đánh vào những kẻ thù thần học tưởng tượng. Thiên Chúa mà những người như Richard Dawkins hay Sam Harris không tin thực ra không phải là vị Thiên Chúa của người Kitô hữu. Dù những nhận định như thế rất đúng, nhưng ta vẫn không nên tránh né vấn đề sâu xa hơn. Nếu nền thần học Kitô Giáo dễ bị trình bày sai theo kiểu hí họa, hay nếu Kitô hữu bị tai tiếng là những người không biết suy nghĩ hợp lý, thì chắc chắn điều này không tự không mà có được. Há những kẻ thù tưởng tượng kia không phải là những kẻ thù mà chính ta đã góp phần tạo ra đó ư?

Như Công Đồng Vatican II vốn nhắc nhở, sự đồng loã của Kitô hữu trong việc lớn mạnh của hiện tượng vô tín hiện nay không chỉ giới hạn trong phạm vi tri thức. Ấy thế nhưng, thiên kiến phổ quát cho rằng Kitô Giáo không những chỉ phi lý, mà thực sự còn phản lý trí nữa đã soi mòn khả năng của ta trong việc làm chứng cho “niềm hy vọng trong ta” (1Pr 3:15) một cách đầy thuyết phục. Do đó, sửa chữa lại thiên kiến này là nhiệm vụ khẩn cấp của công cuộc tân phúc âm hóa. Bài này vì thế sẽ tập chú vào vấn đề đức tin. Ý niệm cốt lõi này của Kitô Giáo nằm ngay tại tâm điểm các phê phán gần đây của người vô thần. Nó cũng là điển hình hàng đầu của điều cả de Lubac lẫn Vatican II muốn nói.

Nhưng trước nhất, có những bài học chủ yếu ta có thể học được từ quá khứ.

‘Người vô tín ngưỡng nhạo cười’

Vấn đề căn bản của ta, tức việc ta không nên gạt bỏ những người vô tín ngưỡng có suy nghĩ, là vấn đề không mới lạ gì. Thánh Augustinô, trong cuốn “Giải thích nghĩa đen Sách Sáng Thế” (khoảng năm 393), vốn đã thúc giục các đồng đạo của ngài không nên khinh xuất “dựa vào Thánh Kinh” để đưa ra các tuyên bố về chủ đề khoa học. Vì biết nhiều người không theo Kitô Giáo nhưng có hiểu biết vốn coi các kiến thức của họ trong các lãnh vực thiên văn học, sinh học, thực vật học và địa chất học là “chắc chắn nhờ lý lẽ và kinh nghiệm”, nên ngài bảo: “Đối với người vô tín ngưỡng, quả là điều đáng xấu hổ và nguy hiểm khi nghe người Kitô hữu dựa vào ý nghĩa của Thánh Kinh để nói những điều vô nghĩa về các chủ đề này; và ta nên dùng mọi phương tiện để ngăn chặn một tình huống đáng xấu hổ như thế, một tình huống khiến người ta chứng minh được sự ngu dốt lớn lao của Kitô hữu và cười khinh nó” (số 39).

Mối lo chính của Thánh Augustinô là những người không phải là Kitô hữu này, khi nghe những quan điểm lầm lẫn bị qui cho Thánh Kinh ấy, sẽ lập tức bác bỏ và cười nhạo chính Kitô Giáo. Ngài nói thêm: “Nếu họ thấy một Kitô hữu lầm lẫn trong lãnh vực họ biết rất rõ và nghe người này duy trì những ý kiến ngây ngô về các sách của ta, thì làm sao họ tin được những sách nói về các vấn đề liên quan tới việc sống lại của người chết, niềm hy vọng được sống đời đời, và nước trời, khi họ cho rằng các sách này chỉ chứa toàn những điều sai lầm về những sự kiện họ vốn học được nhờ kinh nghiệm và ánh sáng lý trí?”.

Ngài nghiêm khắc quở trách “những người trình bày Sách Thánh một cách khinh xuất và thiếu khả năng” vì muốn “bênh vực các tuyên bố hoàn toàn ngây ngô và rõ ràng không đúng của họ” đã trích dẫn những đoạn Thánh Kinh học thuộc lòng “mà họ cho là có thể hỗ trợ cho quan điểm của họ” bất chấp sự kiện này là “họ không hiểu điều họ nói và cũng chẳng hiểu những điều họ quả quyết” (trích 1Tm 1:7).

Mấy thế kỷ sau, Thánh Tôma Aquinô đã lưu ý tới lời cảnh cáo của Thánh Augustinô. Đứng trước hai lối giải thích khác nhau đối với chương 1 Sách Sáng Thế, cả hai lối đều do các nhà chú giải học thức và thánh thiện, Thánh Tôma đã không chọn lối giải thích thông thường hơn và rõ ràng theo nghĩa đen nhiều hơn, chủ yếu vì lối giải thích kia bảo vệ được Thánh Kinh khỏi bị irrisio infidelium “người vô tín ngưỡng nhạo cười” (Sentences, 2.2, d. 12, a. 2).

Điểm bàn ở đây là Thiên Chúa tạo dựng mọi sự qua nhiều giai đoạn khác nhau, mà xem ra trình thuật ngày qua ngày của Sách Sáng Thế muốn nói, hay Người tạo nên chúng ngay lập tức trong một hành động duy nhất? Dù cho rằng cả hai lối giải thích đều có thể chấp nhận được, nhưng Thánh Tôma nghĩ lối giải thích sau “dễ chấp nhận hơn” vì ngài lưu ý tới ý kiến của các triết gia không phải là Kitô hữu.

Lý luận của ngài ở đây khá làm ta ngạc nhiên, nhất là vì ngài nhằm lý do hộ giáo, nghĩa là phát xuất từ ý muốn trình bày học lý Kitô Giáo trong một ánh sáng hấp dẫn nhất, nhằm lôi cuốn người ngoài. Tuy nhiên, đây không hẳn là chủ điểm của Thánh Tôma. Giống Thánh Augustinô, ngài thừa nhận sự khôn ngoan và kiến thức mà nhiều người vô tín ngưỡng vốn có trong các vấn đề khoa học và triết học. Do đó, trừ khi đụng tới một điểm chủ yếu nào đó của đức tin Kitô Giáo, nếu lối giải thích Thánh Kinh đặc thù nào có cơ trở thành trò cười cho họ, thì ta nên coi lối giải thích ấy là không đúng.

Tin không cần chứng cớ?

Điểm được cả thánh Augustinô và thánh Tôma nhấn mạnh không phải chỉ đúng trong trường hợp giải thích Sách Sáng Thế mà thôi, tuy đây là một lãnh vực quan trọng. Ta hãy nhớ câu trích dẫn từ hiến chế mục vụ “Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay” nói về “việc sao lãng nền giáo dục đức tin” và “việc giảng dạy những lý thuyết sai lạc” như là yếu tố góp phần tạo ra sự vô tín ngưỡng thời nay. Cả hai yếu tố ấy đều dễ dàng phát sinh ra “sự nhạo cười của người vô tín ngưỡng”, một nhạo cười mà Thánh Augustinô cho rằng đã nhắm vào Kitô Giáo một cách lầm lẫn.

Hãy xem cái hiểu đức tin của Richard Dawkins trong cuốn The Selfish Gene (1976): “tin tưởng mù quáng, không cần chứng cớ, thậm chí bất chấp cả chứng cớ”. Đây không hẳn là luận điệu của riêng Dawkins. A. C. Grayling, trong cuốn Against All Gods (2007), từng viết rằng: “đức tin là cam kết tin điều trái với chứng cớ và lý lẽ”. Ông ta còn trích dẫn Sam Harris, người từng viết trong cuốn The End of Faith rằng: “nổi tiếng xưa nay cả về những chủ trương vô lý lẫn việc ít ỏi chứng cớ… [niềm tin tôn giáo] tạo ra một thứ đặc trưng văn hóa hết sức hủ bại, một điểm ảo mà qua nó ngôn từ hợp lý không còn nữa”. Cách định nghĩa đức tin này là điều chủ yếu để có thể hiểu được sự nổi giận của những người tân vô thần đối với Kitô Giáo và tôn giáo nói chung. Luận bác chính của họ không hẳn cho rằng các chủ trương của Kitô Giáo sai lầm, mà đúng hơn khi hiển dương đức tin, Kitô Giáo đã cố tình cổ vũ và ca ngợi tính vô lý. Bởi thế, theo Dawkins trong cuốn The God Delusion (2006): “đức tin (tin không cần chứng cớ) là một nhân đức. Các niềm tin của bạn càng bất cần chứng cớ, thì bạn càng nhân đức. Những tín hữu tuyệt diệu nào càng tin những điều thật quái dị, không được hỗ trợ và không thể được hỗ trợ, bất chấp chứng cớ và lý lẽ, càng được đặc biệt tưởng thưởng”.

Vấn đề ở đây là đó không phải là ý nghĩa thực sự của niềm tin, dù là niềm tin tôn giáo hay không. Vì hạn từ tin (faith) do nguyên ngữ Latinh fides mà ra. Mà fides trước nhất có nghĩa là tin tưởng, tín thác (trust). Bởi thế, tin điều gì có nghĩa tin tưởng điều ấy sẽ xẩy ra, và tin vào ai là tin tưởng rằng họ sẽ không bá láp bất cứ điều gì người khác nói với họ. Cũng chính vì thế người ta thích lấy Fido đặt tên cho những con chó trung thành, tín trung và đáng tin cậy. Tin, hiểu như tín thác, có thể vì những lý do xấu hay vì những lý do tốt. Nhưng đó không phải chỉ là những điều người ta nại tới khi không có lý do chính đáng. Nói tới niềm tin trong ngữ cảnh minh nhiên Kitô Giáo cũng thế. Dù đức tin được hiểu là “hồng ân của Thiên Chúa, một nhân đức siêu nhiên” (Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, số 153), nhưng nó vẫn là một loại tin tưởng, tín thác. Và người Kitô hữu chúng ta xác tín rằng ta có đầy đủ lý do và chứng cớ để bênh vực cho niềm tín thác ấy.

Bất hạnh thay, chẳng cần cố gắng và thiện cảm trí thức bao nhiêu, người ta cũng thấy lý do tại sao người vô tín ngưỡng vẫn cho rằng đối với Kitô hữu, đức tin là một “niềm tin không chứng cớ”. Vì sự thật là Kitô hữu luôn nói tới đức tin bằng những hạn từ như thế và đã làm việc này hàng bao thế kỷ qua. Ta đã quá thành thạo trong việc tránh né những câu hỏi khó khăn của những trẻ em thích tìm hiểu, của những người đồng sở vô tín ngưỡng hay của cả các dự tòng trong các nhóm khai tâm Kitô Giáo trưởng thành, bằng cách lẩn tránh vấn đề dưới danh nghĩa “đức tin”. Thực tế, việc định nghĩa sai lầm về đức tin này đã trở thành thành phần cố hữu của tập vựng phổ thông. Thậm chí cuốn phim gốc “Miracle on 34th Street” (1947), chẳng hạn, đã đưa vào một dòng nghe như trích thẳng từ The God Delusion: “đức tin có nghĩa tin cả những điều lương tri bảo bạn đừng tin”.

Như thế, Kitô hữu chúng ta đã tự mở cửa cho các nhạo cười của người vô tín ngưỡng được đại biểu bởi các trước tác tân vô thần. Dĩ nhiên, đây không phải chỉ là vấn đề duy nhất ta thực hiện từ trước đến nay. Thực vậy, câu Thánh Augustinô viết trên đây cũng có thể đã được viết đi viết lại từng lời vào lúc này: những người thậm chí chỉ làm quen qua loa với khoa sinh vật học hiện đại cũng có thể, và thực sự đã, đưa ra những tuyên bố nực cười liên quan tới ý nghĩa của Sáng Thế 1. Tuy nhiên, như trên đã nói, đức tin là tâm điểm của việc làm Kitô hữu: nó là viên đá góc của mọi điều ta tuyên xưng.

Phúc âm hóa bắt đầu từ trong nhà

Ở đây, chúng ta tập chú vào đức tin và, với sự hỗ trợ của Thánh Augustinô và Thánh Tôma, vào Sách Sáng Thế. Nhưng thực ra điểm căn bản, tức “Các tín hữu có thể đóng một vai trò không nhỏ trong việc phát sinh ra chủ nghĩa vô thần, vì đã sao lãng nền giáo dục đức tin, đã giảng dạy những lý thuyết sai lạc” sâu xa hơn thế. Giải pháp, do đó, là mọi người chúng ta phải thực sự học hỏi hơn nữa về đức tin, và được hỗ trợ và khích lệ cần thiết để làm việc này. Phúc âm hóa bắt đầu từ trong nhà. Hay như Đức Phaolô VI từng viết trong “Evangelii Nuntiandi”: “Giáo Hội là người rao giảng Phúc Âm, nhưng Giáo Hội bắt đầu bằng cách tự phúc âm hóa chính mình”.

Có những học lý bị chính cả các Kitô hữu thuần thành, chứ đừng nói người vô tín ngưỡng, coi là sai lầm, hay nói theo kiểu thời thượng “chẳng ăn uống gì” (out of touch). Điều này thực ra không làm ta ngạc nhiên. Ta đừng quên tường trình của Thánh Kinh về phản ứng đầu tiên của “nhiều môn đệ” đối với học lý Thánh Thể: “Lời dạy này khó nghe quá; ai mà chấp nhận cho được?” (Ga 6:60). Ấy thế nhưng, điều này càng nhấn mạnh hơn nữa nhu cầu học giáo lý được các nhà dẫn đạo tân phúc âm hóa cổ vũ. Đức Gioan Phaolô II, chẳng hạn, từng luận giải trong “Redemptoris Missio” rằng: “không thể xác định rõ các biên giới giữa chăm sóc mục vụ tín hữu, tân phúc âm hóa và hoạt động truyền giáo chuyên biệt, và không thể tưởng tượng được việc tạo ra các rào ngăn giữa chúng với nhau hay đặt chúng vào những ngăn tủ kín bưng”.

Trên đây, ta đã ghi nhận quan điểm của Vatican II trong việc chẩn đoán chủ nghĩa vô thần hiện đại, với việc nhìn nhận rằng người Kitô hữu phải chịu trách nhiệm một phần về sự xuất hiện và tính đáng tin của nó. Công đồng cũng nhìn vào bên trong khi đưa ra phương thuốc như sau: “Phải tìm câu trả lời cho chủ nghĩa vô thần ở việc trình bày học lý cách thích hợp, và ở toàn bộ lối sống của Giáo Hội và các chi thể Giáo Hội”. Hơn nữa, điều chủ yếu “là làm chứng bằng một đức tin sống động và trưởng thành, tức một niềm tin được giáo dục khiến ta có khả năng nhìn rõ các khó khăn và khuất phục chúng”. Hay, như lời Henri de Lubac: “Nếu có quá nhiều quan sát viên, những người vốn không thiếu sắc sảo hay tinh thần tôn giáo, hiểu lầm trầm trọng về yếu tính của Kitô Giáo đến thế, thì há đó không phải là dấu chỉ người Công Giáo nên cố gắng hiểu yếu tính ấy tốt hơn đó sao?”.

Rất có thể Thiên Chúa “chọn những người ngu khờ trên thế gian để làm xấu hổ người khôn ngoan” (1Cor 1:27). Nhưng chắc chắn Người không chọn họ để làm xấu hổ cả Người lẫn chính họ.

 

Kính người cưu mang sự sống ta
Vũ Văn An10/9/2013

Năm nay kỷ niệm 25 năm ngày Đức Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành tông thư Mulieris Dignitatem (Phẩm Giá Phụ Nữ). Tông thư này mô tả vai trò đặc biệt của phụ nữ: họ là người cưu mang sự sống, một khả năng độc hữu dành cho mọi phụ nữ, bất kể họ hạ sinh hay không hạ sinh. Nhân dịp kỷ niệm này, ta nên suy nghĩ tới việc nhờ hỗ trợ phụ nữ trong vai trò cưu mang sự sống, ta cổ vũ ra sao nền văn hóa sự sống.

Kính người cưu mang sự sống

Khi một sự sống mới bước vào trần gian, tại sao đầu óc ta tự nhiên nghĩ tới người mẹ, hơn là nghĩ tới người cha? Vì ta biết rằng dù bà không tự mình đem đến sự sống mới, bà là người cưu mang nó, duy trì nó và hạ sinh nó. Chính người mẹ đồng hành với đứa con bên trong mình suốt 9 tháng trường. Bà hiến thân hoàn toàn cho nhiệm vụ này, để đứa nhỏ được sinh ra và cảm nghiệm được sự sống và tình yêu mà chúng vốn được tạo thành để hưởng, một sự sống được chính Thiên Chúa đặt kế sách cho một mục đích độc đáo và trường cửu, một sự sống không thể lặp lại và không thể thay thế được.

Cuộc phiêu lưu vĩ đại của đời người, và tất cả những gì nó thực hiện được, chỉ có thể khả hữu nhờ một bà mẹ. Như nhà triết học Alice von Hildebrand từng giải thích “Người đàn bà không những cưu mang mọi con người sáng chế hay khám phá ra mọi điều trong vũ trụ, mà các linh hồn họ cưu mang cũng sẽ sống mãi mãi. Chúng bất tử” (1). Khi ta ca ngợi một phụ nữ vừa sinh con, ta nhìn nhận bản chất diệu kỳ của trách vụ bà vừa chu tất. Chính Chúa Giêsu cũng đã nhìn nhận như thế: “khi người đàn bà đau đẻ, bà lo lắng vì thời giờ đã đến; nhưng khi hạ sinh đứa con, bà không hề nhớ đến cái đau nữa do niềm vui được thấy đứa con chào đời” (Ga 16:21).

Vai trò cưu mang sự sống

Chân phúc Gioan Phaolô II cho rằng vai trò cưu mang sự sống là thành phần tạo ra nhân cách người đàn bà và tự phát biểu qua thái độ và sự nhậy cảm của bà đối với những người chung quanh: “Sụ tiếp xúc độc đáo với một hữu thể nhân bản mới đang triển nở trong bà đã phát khởi một thái độ đối với các hữu thể nhân bản, không những chỉ với đứa con của bà, mà với mọi hữu thể nhân bản; thái độ này lên đặc điểm sâu xa cho nhân cách của bà” (2). Thánh nữ Edith Stein cho hay khả năng dưỡng dục đứa con này đem thân xác và linh hồn mọi người đàn bà tới chỗ hợp nhất thâm hậu nhất, một hợp nhất tính “tự đặt để mình lên trọn bản chất người đàn bà” (3). Chăm sóc sự sống không phải là điều tách biệt khỏi người đàn bà; nó là một phần của chính hữu thể bà.

Người đàn ông cũng có vai trò chăm sóc hữu thể nhân bản, vì Thiên Chúa ủy thác mọi người chúng ta cho nhau. “Nhưng sự ủy thác này liên quan tới người đàn bà một cách đặc biệt, do chính nữ tính của họ, và điều này xác định ra ơn gọi của họ một cách đặc thù” (4). Chức phận làm mẹ là một ơn phúc đặc thù do Thiên Chúa phú ban cho người đàn bà. “Mẫu tính là điều đẹp đẽ đến độ trong Thánh Kinh sự hoàn hảo của nó được gán cho chính Thiên Chúa: trong Cựu Ước, ta được kể rằng dù người đàn bà có bỏ rơi hoa trái lòng mình chăng nữa, Thiên Chúa cũng không bao giờ bỏ rơi con cái mình” (5). Một phần ơn gọi đặc thù của người đàn bà là mở lòng mình ra đón nhận ơn phúc này, và chia sẻ ơn phúc đó với người đàn ông gần gũi với mình. Làm thế là trở thành một phục vụ vĩ đại đối với Giáo Hội và thế giới (6).

Người đàn bà là người cưu mang sự sống bất kể họ có cưu mang nó hay không về thể lý. Chân Phúc Gioan Phaolô II dạy ta rằng sự đồng trinh và chức phận làm mẹ là “hai chiều kích của ơn gọi nữ giới” (7) và điều này không loại bỏ điều kia. Đức Maria, “người môn đệ đầu hết”, nói lên sự viên mãn của ơn gọi nữ giới một cách độc đáo. Thánh Augustinô giải thích chiều kích đồng trinh trong chức phận làm mẹ của Đức Maria bằng cách dạy ta rằng “Trinh Nữ Maria thụ thai trước nhất trong trái tim ngài” (8) trong khi ấy, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhắc ta nhớ tới chiều kích xác thân trong mẫu tính của ngài: “mẫu tính chân thực của Đức Maria... bảo đảm cho Con Thiên Chúa một lịch sử nhân bản chân chính, tức thân xác thực sự đã chết trên Thánh Giá và sống lại từ cõi chết” (9).

Ơn gọi và nhiệm vụ

Tôn trọng và bảo vệ ơn gọi đặc biệt của người đàn bà trong tư cách người cưu mang sự sống được trao phó cho cả nam giới lẫn nữ giới. Buồn thay, tại nhiều nơi trên thế giới, vai trò người đàn bà trong tư cách cưu mang sự sống đang bị tấn công. Khả năng dưỡng nuôi sự sống mới bị coi như một vấn đề, thay vì là một điều đáng lẽ nên gợi hứng cho danh dự, biết ơn và tôn trọng sâu xa.

Đối với thế giới, người đàn bà mang thai là dấu hiệu mạnh mẽ chỉ phẩm giá nhân vị và chỉ sự thật này: thân xác nữ giới vốn là nhà tạm, chứ không phải một sản phẩm để tiêu thụ hay một món hàng để trao đổi.

Buồn thay, bất cứ nơi nào nhân phẩm bị vi phạm trên thế giới và nhân vị bị đối xử như đồ vật, người đàn bà đều phải chịu một cách hết sức bối rối và xé lòng.

Các thách đố hiện nay đối với phẩm giá và ơn gọi của phụ nữ

Làm méo mó cái đẹp của nữ giới

Trong xã hội nặng về thị giác (visual) ngày nay, hình ảnh người đàn bà bao vây ta, nhưng rất nhiều hình ảnh này làm méo mó, hơn là biểu lộ, nét đẹp thực sự của người đàn bà. Thân xác người đàn bà bị các nhà quảng cáo sử dụng trơ trẽn một cách hời hợt hòng bán được sản phẩm của họ.

Nét đẹp và phẩm giá phụ nữ đặc biệt bị méo mó bởi việc sử dụng rộng rãi nền văn hóa khiêu dâm. Một cuộc thăm dò gần đây cho thấy đa số đàn ông Úc coi khoảng từ một tới năm giờ sản phẩm khiêu dâm mỗi tuần (10).

Thay vì mô tả nét đẹp của người đàn bà, các hình ảnh trên cổ vũ một quan điểm coi họ như một đồ vật cần sử dụng để thỏa mãn một nhu cầu tính dục (11). Chúng phát huy một quan điểm tiềm ẩn về tính dục coi phụ nữ như “một đồ vật” để tiêu thụ, chứ không phải một con người cần được tôn trọng, yêu thương và trân qúy. Khiêu dâm và việc quảng cáo bị tính dục hóa, xét về nền tảng, là kẻ thù của phụ nữ trong tư cách người cưu mang sự sống, vì chúng từ khước, không thừa nhận rằng tính dục của người đàn bà là một hồng ân, một hồng ân có tính bản thân sâu sắc và được nối kết chặt chẽ với khả năng truyền sinh của họ.

Hủ hóa hành vi tính dục

Điển hình rùng rợn nhất của việc tấn công phẩm giá người đàn bà và khả năng độc đáo cưu mang sự sống của bà phát sinh từ các hành vi bạo lực tính dục chống lại phụ nữ. Hàng ngày, nhiều phụ nữ phải đương đầu với nguy cơ bị hiếp dâm và nhiều hình thức tấn công tình dục khác (12).

Tại Úc, cũng như tại khắp nơi trên thế giới, phụ nữ đang bị sử dụng như đồ tiêu thụ tính dục trong nghề mãi dâm. Tập tục giao thương tình dục, trong đó, phụ nữ từ ngoại quốc được đưa tới Úc, để rồi bị cưỡng bức phải trả lại số nợ tưởng tượng cho các “người bảo lãnh” mình bằng cách làm điếm là điều cực kỳ khủng khiếp (13). Một số trường hợp đã được báo cáo (14), nhưng phần đông không được thông báo và thách thức.

Ngừa thai

Buồn thay, khả năng cưu mang sự sống của người đàn bà cũng thường bị coi là một thiếu sót cần được khuất phục, chứ không hẳn là hồng phúc cần được tôn trọng và nâng đỡ. Tại các nước đã mở mang, việc ngừa thai được ca tụng như là cách chữa trị mọi sự từ có thai lúc còn thiếu niên tới các bệnh lây lan tình dục, thậm chí còn giúp các gia đình quản trị tiền bạc nữa.

Dưới con mắt Tây Phương, dẹp bỏ sinh nở được coi là phương thuốc chữa bệnh nghèo. Trong một phúc trình mới đây, LHQ gọi việc ngừa thai là “nhân quyền căn bản” và đã đề xuất nó làm cách tốt nhất để giảm tỷ lệ tử vong và tỷ lệ bệnh hoạn cho người mẹ, giảm nghèo và đạt các mục tiêu phát triển. Nhưng phụ nữ tại các nước đang phát triển thắc mắc tại sao người ta không chịu đầu tư thêm vào các chương trình y tế, giáo dục và xã hội, tất cả đều cần thiết để giải quyết nguyên nhân thực sự của nghèo đói đang bao vây họ.

May mắn thay, vẫn còn những người và những tổ chức tận tâm biết thực sự nâng đỡ phụ nữ. Các tổ chức như WOOMB International chuyên huấn luyện các giáo viên dạy phương pháp Billings về kế hoạch hóa gia đình cách tự nhiên, để càng ngày càng có nhiều phụ nữ trên khắp thế giới được giáo dục và có năng lực trong việc hiểu biết về khả năng sinh nở của họ.

Các phương pháp hiện đại về kế hoạch hóa gia đình cách tự nhiên này rất hữu hiệu, đạt từ 98 tới 99 phần trăm (15), giúp các cặp vợ chồng thực hiện hay triển hạn được việc thai nghén mà không gặp các phản ứng tác hại của các phương tiện ngừa thai nhân tạo. Các phương pháp này khuyến khích việc kính trọng sâu xa hơn đối với phụ nữ. Chúng nhìn nhận rằng người đàn ông và xã hội nói chung có trách nhiệm phải tôn trọng và thích ứng hồng phúc sinh nở của người đàn bà, hơn là thúc ép họ phải hành động chống lại thân xác họ bằng cách sử dụng thuốc hay dụng cụ ngừa thai.

Như nhà triết học Alice von Hildebrand từng nói: “Phụ nữ là những người cưu mang sự sống. Họ là bình đựng thánh thiêng được chính Thiên Chúa đụng tới, là những chiếc nôi của sự sống... mang theo mình một phẩm giá và một vẻ đẹp vô song” (16).

Phá thai

Khi phương pháp ngừa thai “thất bại”, thì phá thai thường được coi là giải pháp kế tiếp. Tại một số vùng trên thế giới, nơi phụ nữ chịu nhiều lạm dụng và tấn công cao độ về tình dục do cảnh nghèo tạo ra, ngừa thai thường được một số tổ chức nhân quyền cổ vũ như là phương thuốc chữa trị các thảm họa này. Nhưng tạo thêm bạo lực cho phụ nữ những người vốn đã là nạn nhân rồi (17) hay lấy đi mạng sống của đứa trẻ vô tội chưa sinh, là điều không bao giời đúng. Các phụ nữ mang thai ở khắp nơi phải nhận được sự trợ giúp và sự chăm sóc họ đáng được hưởng. Các cố gắng xã hội, luật pháp và giáo dục phải tiếp tục chú mục vào việc thay đổi các điều kiện xã hội và thái độ của nam giới đối với phụ nữ để bảo vệ sự an toàn thể lý của phụ nữ và để tôn trọng tính dục và nhân phẩm của họ.
Các tổ chức Công Giáo như MaterCare International luôn tìm cách trợ giúp phụ nữ trong vai trò cưu mang sự sống của họ bằng cách thiết lập ra các bệnh viện và huấn luyện các bác sĩ và cô đỡ địa phương tại các nước đang phát triển (18). Công việc của MaterCare và các tổ chức khác đang chống lại xu hướng của nhiều tổ chức phi chính phủ (NGO) và nhiều cơ quan quốc tế muốn dồn ngân qũi vào việc cung cấp phương tiện ngừa thai và phá thai, thay vì đầu tư vào việc chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và giáo dục về sinh nở hiện rất cần thiết.

Diệt phái tính

Hai trăm triệu bé gái trên khắp thế giới đã bị trục thai hay bị giết lúc còn rất thơ dại vì các nền văn hóa chuộng con trai (19). Hiện tượng “diệt phái tính” (gendercide) này tấn công vai trò cưu mang sự sống của người đàn bà bằng hai cách. Thứ nhất, hàng trăm triệu bé gái bị từ chối quyền sống chỉ vì các em thuộc phái nữ vốn bị đánh giá thấp về văn hóa. Nó cũng tấn công chính bà mẹ, là người thường bị cưỡng bức phải trục thai hay giết đứa con gái của mình, và do đó, bạo động chống lại chính mình và vai trò cưu mang sự sống của mình. Dù các quốc gia như Úc vốn lên án thực hành này, nhưng bất hạnh một điều là các chính phủ tiểu và liên bang tại đây vẫn từ khước không chịu thu thập các dữ liệu thống kê để xác định xem các trẻ gái chưa sinh có bị lựa để trục thai tại đây hay không (20).

Triệt sản các bé gái khuyết tật

Ở cả Úc lẫn ngoại quốc, triệt sản đang được sử dụng như một phương thức khác với việc cung cấp chăm sóc mà ta vốn mang nợ đối với các phụ nữ khuyết tật. Tháng Bẩy năm 2013 vừa qua, một cuộc điều tra của Thượng Viện Úc (21) cho thấy: các trẻ gái khuyết tật đang bị cưỡng bức phải triệt sản, cướp đi của các em khả năng sinh nở và trải nghiệm bình thường được làm người đàn bà. Các câu truyện về những người đàn bà chỉ khám phá thấy mình bị triệt sản khi cố gắng có thai cho ta thấy rõ hiệu quả xé lòng của việc bị cướp đi khả năng cưu mang sự sống chỉ vì tiện ích của người khác.

Người ta viện ra nhiều lý do bênh vực cho vệc cưỡng bức triệt sản này: điều hành kinh kỳ, phòng ngừa thai nghén, thậm chí cả ý niệm ưu sinh (eugenic) để tránh việc truyền các gien “xấu” nữa. Mỗi lý do đều có cùng một nguyên tắc thực dụng nằm ở tâm điểm của nó: thà cướp mất vai trò cưu mang sự sống khỏi những người đàn bà này hơn là đầu tư vào các chương trình xã hội và y tế nhằm bảo vệ họ khỏi bị tấn công tình dục, chăm sóc họ lúc có kinh kỳ và nâng đỡ họ lúc có thai và trong vai trò làm mẹ của họ. Nhưng bổn phận của ta trong tư cách cộng đồng há không phải là cung cấp “sự trợ giúp liên tục và bình thường... nhằm giúp đỡ trong các chăm sóc hàng ngày và trong các nhu cầu của người khuyết tật” (22) đó sao?

Biến chức phận làm mẹ thành một thứ hàng hóa

Hiện tượng “đưa ra bên ngoài” (outsourcing) việc cưu mang sự sống là hiện tượng mới có đây nhưng gây thật nhiều bối rối. Việc này thường diễn ra tại các nước kém mở mang, trong đó, người đàn bà được trả tiền để đẻ con của người khác. Đẻ con thuê (surrogacy) xẩy ra khi người đàn bà muốn có con với chồng nhưng không có khả năng cưu mang đứa con về thể lý, hay khi một cặp đồng tính nam muốn có con. Người cho thuê việc cưu mang sự sống được trả ít ngàn đôla, tương đương với một năm lương, để cưu mang một đứa trẻ (23).

Việc một cặp vợ chồng muốn có con với nhau là việc hoàn toàn tự nhiên và bình thường, nhưng đẻ thuê thì quả là một khai thác thảm hại đối với cảnh nghèo của người đàn bà và vai trò cưu mang sự sống của bà. Với tập tục này, người phụ nữ quả đã trở thành cả người tiêu thụ lẫn vật bị tiêu thụ. Ơn gọi chân thực của người đàn bà trong tư cách cưu mang sự sống đã bị bóp méo, vì việc cưu mang sự sống này không phải chỉ là một chức năng sinh học, mà còn nói lên cách độc đáo toàn bộ con người của họ họ nữa, cả về ba phương diện thể lý, xúc cảm và tâm linh. Đẻ thuê không hề nói lên chút nào các chiều kích này.

Ai cũng nhớ câu truyện về Elizabeth Anscombe (1919-2001). Bà là một trong các triết gia vĩ đại của thế kỷ 20, đồng thời là một bà mẹ Công Giáo đầy yêu thương với một đàn con đông đảo. Lần kia, khi đang mang thai đứa con thứ bẩy, bà vào giảng đường Trường Đại Học Oxford, thấy các sinh viên viết đùa lên bảng: “Anscombe ấp đẻ” (Anscombe breeds, đẻ như gà), bèn lấy phấn viết tiếp “Anscombe ấp đẻ các hữu thể bất tử” (24).

Đề cao phẩm giá người cưu mang sự sống

Ta phải là người của hy vọng và nhớ rằng Kitô hữu trước đây vốn đã phải đương đầu với một xã hội chuộng ngừa thai, phá thai và sát nhi, nhất là trẻ gái. Quan tâm của Kitô hữu đối với người yếu thế và việc họ quyết tâm tôn trọng phẩm giá phụ nữ là các khí cụ mạnh mẽ để phúc âm hóa thế giới Rôma ngoại giáo cổ thời. Hiện nay, dù phải đương đầu với nhiều thách đố, ta vẫn có nhiều cách để nâng cao, cử hành và phát huy phẩm giá cũng như ơn gọi của người đàn bà:

* Lấy Chúa Giêsu làm mẫu mực: “Cách hành động của Chúa Kitô, bằng Tin Mừng lời nói và hành động, là một phản kháng nhất quán chống lại bất cứ điều gì xâm phạm tới phẩm giá phụ nữ” (25).

* Nuôi dưỡng mối liên hệ gần gũi hơn với Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là mẹ ta. Nơi Mẹ Maria, phụ nữ có khả năng nhận ra phẩm giá và nét cao cả của mình, như người được Thiên Chúa tuyển chọn làm người cưu mang sự sống. Cũng nơi Đức Mẹ, toàn thể Giáo Hội “hân hoan chiêm ngắm... điều chính ngài mơ ước và hy vọng trở nên trọn vẹn” (26).

* Nhìn nhận và hỗ trợ vai trò độc đáo làm cha. Người đàn ông dạy dỗ con cái mình, bằng lời nói và gương sáng, biết cách đề cao phẩm giá phụ nữ: qua cách ông đối xử với vợ và những người đàn bà quan yếu khác trong đời ông. Cách riêng, qua các hoài mong rõ ràng được ông đặt lên các con trai trong thái độ của chúng đối với phụ nữ, và qua tình yêu và chăm sóc phụ tử chân chính ông tỏ cùng các con gái của mình, giúp chúng thể hiện được phẩm giá và giá trị bên trong của chúng.

* Xác quyết cả nơi công cộng lẫn nơi tư riêng lòng tôn trọng, sự chăm sóc và trân quí dành cho mọi người đàn bà trong tư cách cưu mang sự sống, nhất là những người đàn bà mang thai hoặc có con nhỏ. Tỏ tình thân hữu, tỏ lời khích lệ, nói lời dễ nghe, mời một bữa ăn hay cùng cầu nguyện, thẩy đều là những hành vi đơn giản nhưng nói lên được sự đánh giá đúng đắn đối với hành vi vĩ đại đầy yêu thương là đem lại sự sống cho một hữu thể nhân bản khác.

* Tự giáo dục mình và giáo dục con cái ta trong các vấn đề người đàn bà đang phải đương đầu trong gia đình và ngoài đời, và nói với ngưởi khác về các vấn đề này.

* Hỗ trợ các nhóm và tổ chức đang tranh đấu cho phẩm giá phụ nữ và đang tạo được nhiều khác biệt thực tế tại Úc và khắp nơi trên thế giới như

Collective Shout www.collectiveshout.org
Women’s Forum Australia www.womenforumaustralia.org
MaterCare International www.matercare.org
Coaltition Against Trafficking in Women Australia www.catwa.org.au
Pregnancy Help Australia www.pregnancysupport.com.au
WOOMB International www.woominternational.org

* Cầu nguyện, xin sự cầu bầu của Đức Maria, người cưu mang Đấng chính là sự sống, xin Mẹ che chở và bênh vực phụ nữ khắp mọi nơi. Năm sự Vui của chỗi Mân Côi là bài suy niệm đẹp đẽ và đem lại nhiều sức mạnh nhất về hồng phúc sự sống và ơn gọi của người đàn bà trở thành người cưu mang sự sống.
_________________________________________________________________
1. http://www.thefemininegift.org/2013/03/a-womans-role-and-mission-interview.
html#!/2013/03/a-womans-role-and-mission-interview.html

2. Blessed Pope John Paul II. Mulierus Dignitatem (On the dignity and vocation of women), n18.
3. St Edith Stein. Spirituality of the Christian woman.
4. Mulieris Dignitatem, n30.
5. von Hilderbrand A. The Mystery of Sexuality. Catholic News Agency, April 16, 2012.
6. Sr Prudence Allen RSM. Man-woman complementarity: The Catholic inspiration.
Logos: Journal of Catholic Thought and Culture. 2006; Volume 9(3): 87-106.
7. Mulieris Dignitatem, n17.
8. St Augustine. Sermon 293.
9. Lumen Fidei,n59.
10. Killalea D. AskMen global survey reveals what men really think. Daily Telegraph, July 17, 2013.
11. Blessed Pope John Paul II. Depersonalizing effect of concupiscence. General Audience. 24 September 1980.
12. United Nations Population Fund. By choice, not by chance. Family planning, human rights and development. 14 November 2012.
13. Catholic Communications, Sydney Archdiocese. Society turns a blind eye as millions of young
girls forced into sex trade
. 14 May 2010.
14. United Nations Office on Drugs and Crime. UNODC Human Trafficking Case Law Database. c2013.
15. Manhart M. et al, Fertility awareness-based methods of family planning:
A review of effectiveness for avoiding pregnancy using SORT
. Osteopathic Family Physician 5:1, January 2013.
16. http://www.thefemininegift.org/2013/03/a-womans-role-and-mission-interview.
html#!/2013/03/a-womans-role-and-mission-interview.html
17. Adolphe JF. A response to Amnesty International’s abortion policy in light of Mulieris Dignitatem.
Ave Maria Law Review. 2011. 8(2): 311-338.
18. http://www.matercare.org/
19. United Nations. International Women’s Day 2007: Take action to end impunity for violence against women and girls. 2007.
20. Pell G. Card. Gendercide is abhorrent because every child has right to life. Sunday Telegraph. May 5, 2013.
21. Commonwealth of Australia. Senate Community Affairs References Committee.
Involuntary or coerced sterilisation of people with disabilities in Australia. July 2013.
22. Australian Catholic Bishops Conference. Inquiry into the involuntary or coerced
sterilisation of people with disabilities in Australia
. 12 March 2013.
23. Goodman E. The globalization of baby-making. New York Times, April 11, 2008.
24. http://ethicsculture.blogspot.com.au/2011/03/elizabeth-anscombe-courageousand-holy.html
25. Mulieris Dignitatem, n15.
26. Pope Paul VI. Sacrosanctum Concilium, n103.

Tài liệu “Respecting The Life-Bearer”, của Trung Tâm Sự Sống, Hôn Nhân và Gia Đình,
TGP Sydney, Chúa Nhật Sự Sống, 6 tháng Mười, 2013.
.

vietcatholic.net October 25, 2013

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)