Văn hóa và xã hội -radio vatican
 

 

 

 


 


vũ văn An 2013 - vietcatholic.net

vietcatholic.net

 

Toàn văn Thông Điệp Lumen Fidei của Đức Giáo Hoàng Phanxicô
Vũ Văn An -vietcatholic.net 7/15/2013

Đ1. Ánh sáng đức tin: đó là cách truyền thống Giáo Hội nói về hồng phúc do Chúa Giêsu mang tới. Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Kitô tự nói về Người: “Ta đến như ánh sáng bước vào trần gian, để bất cứ ai tin vào Ta sẽ không còn ở trong bóng tối nữa” (Ga 12:46). Thánh Phaolô sử dụng cùng một hình ảnh: “Thiên Chúa, Đấng từng phán ‘ánh sáng hãy chiếu soi từ trong bóng tối’ đã chiếu soi tâm hồn chúng tôi” (2Cor 4:6). Thế giới ngoại giáo, một thế giới khao khát ánh sáng, đã nhìn thấy sự phát triển của việc tôn thờ thần mặt trời, Sol Invictus, mà họ kêu cầu mỗi ngày vào lúc bình minh. Ấy thế nhưng dù mặt trời mỗi sáng mỗi mới, rõ ràng nó vẫn không có khả năng chiếu sáng toàn bộ cuộc nhân sinh. Mặt trời không chiếu soi mọi thực tại; các tia sáng của nó không thể vào sâu trong bóng sự chết, nơi mà mắt con người không thấy ánh sáng của nó. Thánh Giustinô Tử Đạo viết rằng “Không ai sẵn sàng chết vì niềm tin của mình vào mặt trời” (1). Ý thức được chân trời mênh mông mà đức tin mở ra trước mắt họ, các Kitô hữu đã kêu cầu Chúa Giêsu như là mặt trời đích thực “với tia sáng ban sự sống” (2). Với Mácta, đang khóc thương cái chết của em trai mình là Ladarô, Chúa Giêsu bảo: “Tôi đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa đó sao?” (Ga 11:40). Ai tin, sẽ thấy; họ thấy bằng thứ ánh sáng đang soi sáng trọn cuộc hành trình của họ, vì ánh sáng này phát xuất từ Chúa Kitô phục sinh, sao mai không bao giờ lặn.

Một ánh sáng ảo?

2. Ấy thế nhưng, khi nói tới ánh sáng đức tin, ta gần như nghe được phản bác của nhiều người cùng thời với ta. Thời hiện đại, ánh sáng này bị coi chỉ đủ cho các xã hội thời xưa, nhưng vô dụng đối với thời mới, đối với một nhân loại đang thành hình, một nhân loại tự hào về tính hữu lý của mình và luôn muốn khám phá tương lai một cách mới mẻ. Do đó, đối với một số người, đức tin mang dáng dấp của một ánh sáng ảo, ngăn không cho nhân loại mạnh dạn lên đường tìm kiếm nhận thức. Nietzsche lúc còn trẻ từng khuyến khích chị mình là Elisabeth mạo hiểm, dám dẵm chân lên “những nẻo đường mới… với tất cả những điều không chắc chắn của một người phải tìm ra con đường riêng cho mình”. Ông nói thêm: “đây là nơi con đường của nhân loại bắt đầu: nếu chị muốn có bình an cho linh hồn và hạnh phúc, thì chị tin đi, nhưng nếu chị muốn theo đuổi chân lý, chị phải tìm kiếm” (3). Hình như tín ngưỡng không đi đôi với việc tìm kiếm. Từ khởi điểm này, Nietzsche sẽ khai triển việc ông phê phán Kitô Giáo đã làm giảm ý nghĩa trọn vẹn của nhân sinh và tước bỏ khỏi đời người những mới lạ và mạo hiểm của nó. Hiểu như thế, đức tin là ảo tưởng của ánh sáng, một ảo tưởng chặn lối tiến lên tương lai của một nhân loại giải thoát.

3. Trong diễn trình ấy, đức tin bị liên kết với bóng tối. Có những người cố gắng cứu vớt đức tin bằng cách dành chỗ cho nó song song với ánh sáng lý trí. Chỗ này sẽ được mở ra bất cứ nơi nào ánh sáng lý trí không chiếu thấu, bất cứ nơi nào sự chắc chắn không thể nào có được nữa. Như thế, đức tin được hiểu như một cú nhẩy vào trong bóng tối, cần tiếp nhận lúc không có ánh sáng, bị thúc đẩy bởi xúc cảm mù quáng, hay như một ánh sáng chủ quan, có lẽ có khả năng hâm nóng tâm hồn và đem lại nguồn an ủi cho bản thân, nhưng không phải là điều có thể đề xuất cho người khác làm ánh sáng khách quan chung với khả năng dẫn đường. Tuy nhiên, từ từ nhưng chắc chắn, người ta sẽ hiểu ra rằng ánh sáng của lý trí tự lập hiển nhiên không đủ để soi sáng tương lai; cuối cùng, tương lai vẫn mãi là chiếc bóng và đầy sợ sệt vô minh. Thành thử, nhân loại từ bỏ cuộc đi tìm thứ ánh sáng vĩ đại, là chính Chân Lý, ngõ hầu tự bằng lòng với những ánh sáng nhỏ hơn vốn chỉ soi sáng những khoảnh khắc mau qua chứ không chứng tỏ được khả năng chỉ đường. Ấy thế nhưng, vì thiếu ánh sáng, mọi sự trở nên mù mờ; người ta không thể phân biệt thiện ra khỏi ác, hay con đường dẫn tới đích điểm của ta khỏi những con đường khác vốn làm ta lẩn quẩn trong những đường vòng bất tận, không đi tới đâu.

Một ánh sáng cần được tìm ra

4. Do đó, điều hết sức khẩn thiết là một lần nữa phải thấy rằng đức tin là ánh sáng, bởi vì một khi ngọn lửa đức tin tắt đi, mọi ánh sáng khác đều bắt đầu tàn lụi. Ánh sáng đức tin là ánh sáng độc đáo, vì nó có khả năng chiếu soi mọi khía cạnh của nhân sinh. Một ánh sáng mạnh như thế không thể phát xuất từ ta mà từ một nguồn nguyên thủy hơn: nói cho gọn, nó phải phát xuất từ Thiên Chúa. Đức tin phát xuất từ cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa hằng sống, Đấng mời gọi ta và mặc khải tình yêu của Người cho ta, một tình yêu đi trước ta và ta có thể dựa vào để được an toàn và xây dựng được đời ta. Khi đã được tình yêu này biến đổi, ta sẽ có được viễn kiến tươi mới, những con mắt mới để nhìn; ta sẽ hiểu ra rằng nó chứa đựng lời hứa thành tựu vĩ đại, và cả một tương lai mở ra trước mắt ta. Tiếp nhận từ Thiên Chúa như một hồng ân siêu nhiên, đức tin trở thành ánh sáng dẫn đường ta đi, hướng dẫn cuộc hành trình của ta qua thời gian. Một đàng, nó là ánh sáng phát xuất từ quá khứ, ánh sáng ký ức nền tảng về cuộc đời Chúa Giêsu, thứ ký ức mạc khải tình yêu hoàn toàn đáng tin cậy của Người, một tình yêu có khả năng chiến thắng sự chết. Ấy thế nhưng, vì Chúa Kitô đã sống lại và kéo ta ra khỏi sự chết, đức tin cũng là ánh sáng phát sinh từ tương lai và mở ra trước mắt ta những chân trời bao la dẫn ta ra khỏi những bản ngã cô lập của ta mà hướng tới cái rộng dài của hiệp thông. Ta sẽ tiến tới chỗ thấy rằng đức tin không nằm trong bóng râm và ảm đạm; nó là ánh sáng cho tối tăm của ta. Trong Thần Kịch, sau khi bày tỏ niềm tin của mình vào Thánh Phêrô, Dante mô tả ánh sáng này như “một đốm sáng sau đó trở nên ngọn lửa bừng bừng và như sao trời rạng sáng trong tôi” (4). Đây là thứ ánh sáng mà giờ đây tôi muốn xem sét để nó lớn lên và soi sáng hiện tại, trở thành ngôi sao rạng chiếu chân trời hành trình của ta vào một thời điểm nhân loại rất cần ánh sáng.

5. Trước ngày chịu khổ nạn, Chúa Kitô bảo đảm với Thánh Phêrô rằng: “Thầy đã cầu nguyện cho con để đức tin của con đứng vững” (Lc 22:32). Rồi Người bảo ngài phải củng cố anh chị em mình trong cùng một đức tin ấy. Ý thức được nhiệm vụ trao phó cho Người Kế Nhiệm Thánh Phêrô, Đức Bênêđíctô XVI đã công bố Năm Đức Tin hiện nay, một thời gian ơn phúc giúp ta cảm nhận được niềm vui lớn của việc tin và để làm tươi mới sự bở ngỡ thán phục của ta trước các chân trời bao la được đức tin rộng mở, để rồi tuyên xưng đức tin này trong tính hợp nhất và toàn vẹn của nó, trung thành với ký ức của Chúa và được nâng đỡ nhờ sự hiện diện của Người và hành động của Chúa Thánh Thần. Niềm xác tín phát sinh từ một đức tin vốn đem theo nét cao cả và thành tựu cho đời, một đức tin đặt trọng tâm vào Chúa Kitô và vào quyền năng ơn thánh của Người, vốn gợi hứng cho sứ mệnh của các Kitô hữu đầu tiên. Trong hạnh các tử đạo, ta đọc được cuộc đối thoại sau đây giữa quan tòa Rôma Rusticus và một Kitô hữu có tên Hierax: “’cha mẹ em đâu?’, quan tòa hỏi vị tử đạo. Ngài trả lời: ‘cha thật của chúng tôi là Chúa Kitô, và mẹ của chúng tôi là đức tin vào Người’” (5). Đối với các Kitô hữu tiên khởi này, đức tin, hiểu như cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa hằng sống nơi Chúa Kitô, quả là “một người mẹ”, vì nó đem họ ra ánh sáng và sinh hạ họ vào sự sống thần linh, một kinh nghiệm mới và một viễn kiến chói lòa về hiện sinh mà họ sẵn sàng làm chứng công khai cho tới cùng.

6. Năm Đức Tin được khai mở vào dịp kỷ niệm lần thứ 50 ngày khai mạc Công Đồng Vatican II. Tự nó đây là dấu chỉ rõ ràng: Vatican II là Công Đồng về đức tin (6), vì nó yêu cầu ta tái lập quyền tối thượng của Thiên Chúa nơi Chúa Kitô làm trung tâm đời ta, cả như một Giáo Hội lẫn như những cá nhân. Giáo Hội không bao giờ coi đức tin là chuyện đương nhiên, nhưng biết rằng hồng ân này của Thiên Chúa cần được nuôi dưỡng và tăng cường để nó có khả năng tiếp tục soi dẫn con đường lữ hành của ta. Công Đồng Vatican II giúp cho ánh sáng đức tin có khả năng chiếu soi kinh nghiệm nhân bản của ta từ bên trong, đồng hành với mọi người nam nữ của thời ta trong cuộc hành trình của họ. Công Đồng cho thấy rõ đức tin đã phong phú hóa đời sống ra sao trong mọi chiều kích của nó.

7. Trong liên tục tính với mọi điều Huấn Quyền của Giáo Hội vốn tuyên bố xưa nay về nhân đức đối thần này, các xem sét về đức tin ở đây nhằm bổ túc những điều Đức Bênêđíctô XVI từng viết trong các thông điệp của ngài về đức ái và đức cậy. Chính ngài đã gần như hoàn tất dự thảo đầu tiên của thông điệp về đức tin. Vì thế, tôi hết sức biết ơn ngài, và trong tư cách anh em của ngài trong Chúa Kitô, tôi đã tiếp nối công trình tốt đẹp của ngài và thêm một ít đóng góp của riêng tôi. Người Kế Nhiệm Thánh Phêrô, hôm qua, hôm nay và ngày mai, luôn được mời gọi củng cố anh chị em mình trong kho tàng vô giá đức tin mà Thiên Chúa đã ban cho ta làm ánh sáng dẫn đường cho nhân loại.

Trong hồng ân đức tin của Thiên Chúa, một nhân đức đầy tràn siêu nhiên, ta hiểu ra rằng một tình yêu vĩ đại đã được hiến tặng cho ta, một lời tốt đẹp đã được ngỏ với ta và khi ta chào đón lời ấy, tức Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời thành xác phàm, Chúa Thánh Thần sẽ biến đổi ta, rọi sáng con đường tương lai của ta và giúp ta hân hoan tiến bước trên đường ấy bằng đôi cánh hy vọng. Được đan kết một cách diệu kỳ như thế, đức tin, đức cậy và đức mến là lực đẩy của đời sống Kitô hữu khi nó tiến bước hướng về việc hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa. Nhưng con đường mở rộng đức tin trước mắt ta này là con đường nào? Nguồn gốc ánh sáng mạnh mẽ vốn chiếu soi cuộc hành trình của một đời thành công và nhiều hiệu quả này là đâu?

Chương Một: Chúng ta đã tin vào tình yêu (xem 1Ga 4:16)

Ápraham, cha chúng ta trong đức tin


8. Đức tin mở đường trước mắt ta và đồng hành với ta qua thời gian. Bởi đó, muốn hiểu đức tin là gì, ta cần theo dõi đường đi của nó, con đường được các tín hữu bước đi, như đã được chứng minh đầu tiên trong Cựu Ước. Ở đây, địa vị độc đáo phải dành cho Ápraham, cha chúng ta trong đức tin. Trong đời ông, một điều gây bối rối từng đã diễn ra: Thiên Chúa lên tiếng với ông; Người tự mặc khải là Thiên Chúa, Đấng đang nói và gọi tên ông. Đức tin được nối kết với việc nghe. Ápraham không nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng nghe thấy tiếng Người. Như thế, đức tin tiếp nhận khía cạnh bản vị của nó. Thiên Chúa không phải là vị thần của một nơi chốn đặc thù, hay một vị thần nối kết với một thời thánh thiêng đặc biệt nào đó, nhưng là Thiên Chúa của một con người, Thiên Chúa của Ápraham, của Ixaác và của Giacóp, có khả năng hành động qua lại với con người và thiết lập một giao ước với họ. Đức tin là lời đáp trả của ta đối với một lời đã đích thân nói với ta, lời đáp trả một “Ngài” (Thou) từng gọi ta đích danh.

9. Lời nói với Ápraham chứa đựng cả kêu gọi lẫn hứa hẹn. Trước nhất, đó là lời kêu gọi lìa bỏ quê hương, lời mời gọi đi tới một cuộc sống mới, khởi đầu cho một xuất hành sẽ hướng ông tới một tương lai không dự đoán được. Cái nhìn mà đức tin sẽ đem lại cho Ápraham luôn luôn được liên kết với nhu cầu phải bước cái bước đầu tiến tới này: đức tin “thấy” bao lâu nó tiến bước, bao lâu nó quyết định bước vào các chân trời do lời Thiên Chúa mở ra. Lời này cũng chứa một hứa hẹn: dòng dõi ngươi sẽ lớn lao về con số, ngươi sẽ là cha một dân tộc vĩ đại (xem St 13:16; 15:5; 22:17). Muốn đáp trả lời đã đi trước nó, đức tin của Ápraham phải luôn là một hành vi tưởng nhớ. Ấy thế nhưng việc tưởng nhớ này không cột chặt vào các biến cố quá khứ mà, vì là tưởng nhớ một lời hứa, nó phải có khả năng mở cửa tương lai, dõi ánh sáng lên con đường phải đi. Ta thấy đức tin, hiểu như việc tưởng nhớ tương lai, memoria futuri, do đó liên kết chặt chẽ với đức cậy.

10. Ápraham được yêu cầu phó thác vào lời này. Đức tin hiểu rằng điều bề ngoài xem ra phù phiếm và thoáng qua là lời nói, nhưng khi được nói ra bởi vị Thiên Chúa vốn chính là tín trung, nó trở thành tuyệt đối chắc chắn và không thể lay chuyển được, đủ bảo đảm cho tính liên tục của cuộc hành trình qua thời gian của ta. Đức tin chấp nhận lời này như tảng đá vững chắc, trên đó, ta có thể xây dựng, một đại lộ thẳng tắp trên đó ta có thể du hành. Trong Thánh Kinh, đức tin được diễn tả bằng từ Hípri ’emûnāh, do động từ ’amān có nghĩa là “duy trì” (to uphold). Hạn từ ’emûnāh chỉ cả lòng tín trung của Thiên Chúa lẫn đức tin của con người. Người có đức tin nhận được sức mạnh nhờ đặt mình vào bàn tay Thiên Chúa, Đấng tín trung. Vui đùa với nghĩa kép của hạn từ này, một nghĩa kép cũng tìm thấy trong hạn từ Hy Lạp pistos và hạn từ La Tinh fidelis, Thánh Cyril Thành Giêrusalem ca ngợi phẩm giá Kitô hữu, người đã nhận tên của chính Thiên Chúa: vì cả hai đều được gọi là “tín hữu” (faithful) (8). Như Thánh Augustinô từng giải thích: “con người tín trung khi họ tin vào Thiên Chúa và các lời Người hứa; Thiên Chúa tín trung khi Người ban cho con người điều Người đã hứa” (9).

11. Có một yếu tố cuối cùng trong câu truyện của Ápraham rất quan trọng để ta hiểu đức tin của ông. Dù đem lại sự mới mẻ và ngạc nhiên, lời Thiên Chúa không hề xa lạ đối với kinh nghiệm của Ápraham. Trong tiếng nói đang nói với ông, Ápraham nhận ra lời kêu gọi sâu sắc vốn luôn hiện diện tại cốt lõi hữu thể ông. Thiên Chúa cột chặt lời hứa của Người vào khía cạnh đời người luôn tỏ ra “đầy hứa hẹn” nhất, tức chức phận làm cha, sinh ra sự sống mới.: “Xara vợ ngươi sẽ mang thai cho ngươi một con trai, và ngươi sẽ đặt tên cho nó là Ixaác” (St 17:19). Thiên Chúa, Đấng yêu cầu Ápraham hoàn toàn tín thác, tự mặc khải mình là nguồn mọi sự sống. Như thế, đức tin liên kết với tình phụ tử của Thiên Chúa, một tình phụ tử phát sinh ra muôn loài; Thiên Chúa, Đấng kêu gọi Ápraham là Tạo Hóa, Đấng “kêu gọi mọi sự chưa hiện hữu bước vào hiện hữu” (Rm 4:17), Đấng “chọn ta trước khi đặt nền cho thế giới… và định cho ta được nhận làm con cái Người” (Eph. 1:4-5). Đối với Ápraham, đức tin vào Thiên Chúa dõi sáng vào nội thẳm hữu thể ông, giúp ông nhìn nhận suối nguồn sự thiện ở ngay gốc rễ mọi sự và hiểu ra rằng đời ông không phải là sản phẩm của một hư thể (non-being) hay một rủi may, mà là kết quả một lời kêu gọi có tính bản vị và một tình yêu cũng có tính bản vị. Thiên Chúa nhiệm mầu, Đấng kêu gọi ông, không phải là vị thần xa lạ, mà là Thiên Chúa, nguồn gốc và điểm tựa chính của mọi sự hiện hữu. Thử thách vĩ đại đối với đức tin của Ápraham, tức việc sát tế con trai Ixaác, cho thấy phạm vi trong đó tình yêu nguyên thủy này có khả năng đảm bảo sự sống quá bên kia sự chết. Lời từng có khả năng dựng lên một con trai cho kẻ “tệ như đã chết”, trong cảnh “cằn cỗi” của lòng dạ Xara (xem Rm 4:19), cũng có thể giữ lời hứa tương lai bất chấp mọi thử thách và nguy hiểm (xem Dt 11:19; Rm 4:21).

Đức tin của Israel

12. Lịch sử dân Israel trong Sách Xuất Hành diễn tiến theo con đường đức tin của Ápraham. Một lần nữa, đức tin phát sinh từ một ơn phúc nguyên thủy: Israel tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng hứa sẽ giải phóng dân Người khỏi cảnh khốn cùng. Đức tin trở thành lời mời gọi thực hiện cuộc hành trình lâu dài dẫn tới việc thờ phượng Chúa trên Núi Sinai và thừa hưởng đất hứa. Tình yêu Thiên Chúa được coi như tình yêu của một người cha cõng con dọc đường (xem Đnl 1:31). Việc Isarel tuyên xưng đức tin mang dáng dấp một trình thuật về những kỳ công của Thiên Chúa trong việc giải phóng dân Người và hành động như người hướng dẫn họ (xem Đnl 26:5-11), một trình thuật được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ nọ. Ánh sáng của Thiên Chúa chiếu rọi Israel qua việc tưởng nhớ các kỳ công đầy quyền năng của Chúa, được nhắc lại và cử hành trong thờ phượng, và được truyền tụng từ cha tới con. Ở đây, ta thấy ánh sáng đức tin đã được liên kết ra sao với những truyện sống cụ thể, với việc tưởng niệm đầy biết ơn các kỳ công đầy quyền năng của Thiên Chúa và việc từ từ nên trọn lời hứa của Người. Kiến trúc Gôtích đã nói lên điều này cách rõ ràng: tại các nhà thờ chính tòa, ánh sáng tuôn đổ từ trời xuống bằng cách xuyên qua các cửa sổ mô tả lịch sử cứu rỗi. Ánh sáng của Thiên Chúa đến với ta qua trình thuật tự tỏ mình ra của Người, và do đó trở nên có khả năng rọi sáng cho cuộc vượt qua thời gian của ta bằng việc nhắc nhớ các hồng ân của Người và việc chứng minh Người đã làm trọn các lời hứa ra sao.

13. Lịch sử Israel cũng cho ta thấy cơn cám dỗ vô tín mà dân tộc này hơn một lần sa vào. Ở đây, điều ngược với đức tin được mô tả là thờ ngẫu thần. Trong khi Môsê đang thưa chuyện cùng Thiên Chúa trên Núi Sinai, thì dân không chịu được mầu nhiệm dấu ẩn của Thiên Chúa, không chịu được thời gian chờ đợi để thấy nhan Người. Từ chính bản chất của nó, đức tin đòi người ta phải từ bỏ việc chiếm hữu tức khắc điều mà thị giác như muốn hiến dâng; nó là lời mời hướng về nguồn ánh sáng, trong khi tôn kính mầu nhiệm của một thánh nhan chỉ chịu đích thân tự tỏ lộ vào lúc thuận tiện. Martin Buber có lần đã trích dẫn câu định nghĩa do giáo sĩ Koch đề xuất về việc thờ ngẫu thần: thờ ngẫu thần là “khi một khuôn mặt ngỏ với một khuôn mặt vốn không phải là một khuôn mặt” (10). Thay vì tin vào Thiên Chúa, xem ra tốt hơn nên thờ một ngẫu thần, mà ta có thể nhìn thẳng vào mặt và biết rõ gốc gác, vì nó là sản phẩm của bàn tay ta. Đứng trước một ngẫu thần, ta không hề có nguy cơ bị kêu gọi phải từ bỏ sự an toàn của mình, vì ngẫu thần “có miệng nhưng không thể nói” (Tv 115:5). Ta bắt đầu nhận ra, ngẫu thần có đó như một cái cớ để ta tự đặt ta vào tâm điểm thực tại và thờ phượng sản phẩm của chính bàn tay ta. Một khi con người đánh mất xu hướng nền tảng vốn thống nhất hóa hiện sinh của họ, họ tự đập tan họ thành nhiều mảnh cho các thèm muốn của mình; khi từ khước không chịu chờ đợi giờ hứa hẹn, truyện đời họ đổ bể thành muôn vàn những khoảnh khắc rời rạc khác nhau. Như thế, thờ ngẫu thần luôn luôn là đa thần, vô định bước từ ông chúa này qua ông chúa nọ. Thờ ngẫu thần không đưa ra một hành trình nào mà là dư thừa những nẻo đường chẳng dẫn tới đâu và chỉ tạo nên một mê trận đồ. Những ai quyết định không đặt niềm tin nơi Thiên Chúa hẳn nghe thấy đinh tai đủ mọi thứ ngẫu thần hô hoán: “Hãy đặt tin tưởng nơi ta!”. Vốn liên kết với hồi tâm, đức tin quả đối nghịch với việc thờ ngẫu thần; nó xa lìa các ngẫu thần để hướng về Thiên Chúa hằng sống trong một gặp gỡ bản vị. Tin có nghĩa là phó thác cho một tình yêu nhân hậu luôn luôn chấp nhận và tha thứ, luôn nâng đỡ và hướng dẫn đời ta, và luôn tỏ quyền năng của mình qua khả năng làm thẳng băng mọi đường nét khúc khuỷu của lịch sử. Đức tin hệ ở việc quyết tâm để mình không ngừng được lời mời gọi của Thiên Chúa biến đổi và canh tân. Chính vì thế có sự nghịch lý này: nhờ không ngừng hướng về Thiên Chúa, ta khám phá ra con đường chắc chắn giải phóng ta khỏi cảnh tan rã mà các ngẫu thần vốn áp đặt trên ta.

14. Trong đức tin của Israel, ta cũng gặp khuôn mặt Môsê, người trung gian. Dân có thể không thấy mặt Thiên Chúa; nhưng Môsê là người nói chuyện với Giavê trên núi cao rồi nói lại cho dân biết thánh ý Chuá. Có sự hiện diện của một trung gian giữa mình, Israel học được cách cùng hành trình với nhau trong hợp nhất. Hành vi đức tin của cá nhân tìm được chỗ đứng trong cộng đoàn, trong cái “chúng tôi” chung của toàn dân, một dân mà trong đức tin giống như một con người duy nhất, “con trai đầu lòng của Ta” như Thiên Chúa từng mô tả về dân Israel (xem Xh 4:22). Ở đây, trung gian không hề là một trở ngại, nhưng là một mở đường: nhờ gặp gỡ với người khác, tầm nhìn của ta vươn tới một chân lý lớn hơn chính ta. Rousseau có lần than vãn rằng ông ta không nhìn thấy Thiên Chúa: vì “Có quá nhiều người đứng giữa Thiên Chúa và tôi” (11)… Há không đơn giản và tự nhiên hay sao nếu Thiên Chúa chịu kiếm Môsê đi nói chuyện với Jean Jacques Rousseau?"(12). Theo quan niệm cá nhân chủ nghĩa và chật hẹp về lương tâm, người ta không thể đánh giá được ý nghĩa của trung gian, đánh giá được khả năng tham dự vào viễn kiến của người khác này, cái nhận thức chung vốn là nhận thức riêng của tình yêu này. Đức tin là ơn phúc nhưng không của Thiên Chúa, một ơn đòi hỏi sự khiêm nhường và lòng can đảm để tín thác và phó thác; nó giúp ta khả năng nhìn ra con đường sáng láng dẫn tới cuộc gặp gỡ Thiên Chúa và nhân loại: tức lịch sử cứu rỗi.

Sự viên mãn của Đức Tin Kitô Giáo

15. “Ápraham hân hoan được thấy ngày của Ta; ông đã thấy và đã hân hoan” (Ga 8:56). Theo những lời này của Chúa Giêsu, đức tin của Ápraham hướng về Người; theo một nghĩa nào đó, nó tiên báo mầu nhiệm của Người. Thánh Augustinô hiểu như thế khi ngài quả quyết rằng các tổ phụ đã nhờ đức tin mà được cứu rỗi, không phải đức tin vào Chúa Kitô đã đến mà vào Chúa Kitô sắp đến, một đức tin thúc đẩy hướng tới tương lai Chúa Giêsu (13). Đức tin Kitô Giáo đặt trọng tâm nơi Chúa Kitô; nó là lời tuyên xưng rằng Đức Giêsu là Chúa và Thiên Chúa làm Người sống lại từ cõi chết (xem Rm 10:9). Mọi sợi chỉ của Cựu Ước đều giao thoa nơi Chúa Kitô; Người trở nên lời “có” (yes) dứt khoát đối với mọi lời hứa, là căn bản tối hậu cuả lời “Amen” ta thưa với Thiên Chúa (xem 2Cor 1:20). Lịch sử của Chúa Giêsu là biểu hiện trọn vẹn của tính đáng tin nơi Thiên Chúa. Nếu Israel tiếp tục nhắc ta nhớ các hành vi yêu thương vĩ đại của Thiên Chúa, những hành vi vốn tạo nên cốt lõi cho việc tuyên xưng đức tin của họ và mở rộng cái nhìn bằng đức tin của họ, thì nay, cuộc đời Chúa Giêsu là căn cứ để Thiên Chúa can thiệp dứt khoát, là biểu hiện tối cao của tình yêu Người dành cho ta. Lời mà Thiên Chúa nói với ta trong Chúa Giêsu không phải là lời trong muôn một, mà là lời trường cửu của Người (xem Dt 1:1-2). Như Thánh Phaolô đã nhắc nhở ta, Thiên Chúa không thể nào ban cho ta một bảo đảm lớn hơn thế về tình yêu của Người (xem Rm 8:31-39). Như thế, đức tin Kitô Giáo là đức tin vào tình yêu hoàn hảo, vào sức mạnh có tính quyết định của tình yêu này, vào khả năng biến đổi thế giới của nó và khả năng diễn biến lịch sử của nó. “Chúng ta biết và tin tình yêu mà Thiên Chúa vốn dành cho chúng ta” (1Ga 4:16). Trong tình yêu của Thiên Chúa, như được mạc khải nơi Giêsu, đức tin nhận ra nền tảng của mọi thực tại và số phận sau cùng của chúng.

16. Chứng cớ rõ ràng nhất cho thấy sự đáng tin của tình Chúa Kitô yêu ta tìm thấy trong việc Người chết cho ta. Nếu hy sinh mạng sống mình vì bằng hữu là chứng cớ cao cả nhất của tình yêu (xem Ga 15:13), thì Chúa Giêsu đã hiến chính mạng sống mình vì mọi người, thậm chí vì cả các kẻ thù của Người nữa, để biến đổi tâm hồn họ. Điều này giải thích tại sao các phúc âm gia coi giờ Chúa Giêsu chịu đóng đinh là đỉnh cao mà mọi con mắt đức tin đều hướng lên; trong giờ ấy, chiều sâu và chiều rộng của tình yêu Thiên Chúa đã sáng lên. Chính lúc đó, Thánh Gioan đã đưa ra lời chứng long trọng của ngài, khi cùng với Mẹ Chúa Giêsu, ngài ngước nhìn lên Đấng bị đâm thâu (xem Ga 19:37): “Người thấy điều này đã làm chứng, để cả anh em nữa cũng tin. Lời chứng của người ấy chân thực, và người ấy biết mình nói sự thật” (Ga 19:35). Trong Kẻ Ngu Ngốc của Dostoevsky, ông hoàng Myskin thấy bức tranh do Hans Holbein Trẻ vẽ, diễn tả Chúa Giêsu chết trong mồ bèn nói: “Nhìn bức tranh này có thể khiến người ta mất đức tin” (14). Bức tranh này mô tả một cách khủng khiếp các hiệu quả tàn phá của cái chết trên thân xác Chúa Giêsu. Ấy thế nhưng chính nhờ chiêm ngắm cái chết của Người mà đức tin trở nên vững mạnh hơn và nhận được ánh sáng rực rỡ; rồi nó được mạc khải như là đức tin vào tình yêu bền vững của Chúa Kitô dành cho ta, một tình yêu có khả năng chấp nhận sự chết để đem cứu rỗi đến cho ta. Tình yêu này, một tình yêu không lùi bước trước sự chết ngõ hầu chứng tỏ sự sâu sắc của nó, là một điều tôi có thể tin vào; việc hoàn toàn tự hiến của Chúa Kitô vượt thắng mọi nghi ngờ và giúp tôi phó thác vào Người một cách trọn vẹn.

17. Sở dĩ cái chết của Chúa Kitô cho ta thấy tính đáng tin cậy hoàn toàn của tình yêu Thiên Chúa, trước hết, là nhờ sự phục sinh của Người. Nhờ Sống Lại, Chúa Kitô là nhân chứng đáng tin cậy, đáng được tin (xem Kh 1:5; Dt 2:17), và là sự hỗ trợ vững chắc cho đức tin của ta. “Nếu Chúa Kitô không sống lại, thì đức tin của anh em là vô ích” Thánh Phaolô nói như thế (1Cor 15:17). Nếu tình yêu của Chúa Cha không làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, nếu nó không có khả năng phục sinh thân xác của Người, thì nó không phải là tình yêu hoàn toàn đáng tin cậy, có khả năng chiếu soi cả sự u ám của cái chết. Khi Thánh Phaolô mô tả sự sống mới của ngài trong Chúa Kitô, ngài nói về “đức tin vào Con Thiên Chúa, Đấng yêu tôi và hiến mình vì tôi” (Gl 2:20). Rõ ràng, “Đức tin vào Con Thiên Chúa” này chỉ đức tin của Thánh Phaolô vào Chúa Giêsu, nhưng nó cũng giả thiết rằng chính Chúa Giêsu là Đấng đáng tin, dựa không những vào việc Người yêu ta cho đến chết mà còn vào tư cách Con Thiên Chúa của Người nữa. Chính vì Chúa Giêsu là Chúa Con, vì Người tuyệt đối đặt cơ sở trên Chúa Cha, nên Người có khả năng chiến thắng sự chết và làm cho tính viên mãn của sự sống sáng lên. Văn hóa của ta đã đánh mất cảm thức của nó về sự hiện diện và hoạt động có thể rờ mó được của Thiên Chúa trong thế gian. Ta nghĩ rằng phải tìm Thiên Chúa ở cõi bên kia, trên một bình diện khác của thực tại, xa rời khỏi các liên hệ hàng ngày của ta. Nhưng nếu đúng thế, nếu Thiên Chúa không hành động trong thế gian, thì tình yêu của Người không thực sự mạnh mẽ, không thực sự có thực và thậm chí không thực nữa, một tình yêu có khả năng đem lại phước hạnh như lời đã hứa. Nó sẽ không tạo được bất cứ khác biệt nào dù ta tin Người hay không. Trái lại, Kitô hữu tuyên xưng đức tin của họ vào tình yêu có thể rờ mó được và rất mạnh mẽ của Thiên Chúa, một tình yêu hành động thực sự trong lịch sử và xác định ra số phận sau cùng của lịch sử này: một tình yêu có thể được gặp gỡ, một tình yêu hoàn toàn được mặc khải trong cuộc khổ nạn, trong cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô.

18. Sự viên mãn mà Chúa Giêsu đem đến cho đức tin có một khía cạnh có tính quyết định nữa. Trong đức tin, Chúa Kitô không những chỉ là Đấng ta tin, là biểu hiện tối cao của tình yêu Thiên Chúa; Người còn là Đấng ta kết hợp với, chính là để tin. Đức tin không chỉ chăm chăm nhìn ngắm Chúa Giêsu, mà còn thấy sự việc như chính người thấy nữa, bằng con mắt của Người: nó là sự tham dự vào cách Người nhìn. Trong nhiều lãnh vực đời ta, ta vốn tin tưởng những người hiểu biết hơn ta. Ta tin tưởng kiến trúc sư, người xây nhà cho ta, tin tưởng dược sĩ, người cung cấp thuốc chữa bệnh cho ta, tin tưởng luật sư, người bênh vực ta trước tòa. Ta cũng cần một ai đó đáng tin cậy và nhiều hiểu biết khi liên quan tới Thiên Chúa. Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, là Đấng làm Thiên Chúa được ta biết đến (xem Ga 1:18). Đời sống Chúa Kitô, cách Người biết Chúa Cha và sống trong mối liên hệ hoàn toàn và thường hằng với Chúa Cha, mở ra những viễn cảnh mới và đầy mời gọi đối với kinh nghiệm nhân bản.

Đối với đức tin của ta, Thánh Gioan làm nổi bật sự quan trọng của liên hệ bản thân với Chúa Giêsu khi sử dụng nhiều hình thức khác nhau của động từ “tin”. Ngoài việc “tin rằng” điều Chúa Giêsu nói với ta là thật, Thánh Gioan còn nói tới việc “tin” Chúa Giêsu và “tin vào” Chúa Giêsu. Ta “tin” Chúa Giêsu khi ta chấp nhận lời của Người, chứng từ của Người, vì Người chân thật. Ta “tin vào” Chúa Giêsu khi ta đích thân chào đón Người vào đời ta và lên đường hướng về Người, bám lấy Người trong yêu thương và bước theo gót chân Người suốt đường dài.

Để ta có thể biết, chấp nhận và bước theo Người, Con Thiên Chúa đã mang lấy xác phàm của ta. Bằng cách này, Người cũng thấy Chúa Cha theo cách nhân bản, bên trong bối cảnh một cuộc hành trình diễn tiến trong thời gian. Đức tin Kitô Giáo là đức tin vào sự nhập thể của Ngôi Lời và vào sự phục sinh thân xác của Người; nó là đức tin vào một Thiên Chúa gần gũi ta đến nỗi đã bước hẳn vào lịch sử nhân loại. Không hề ly dị ta khỏi thực tại, đức tin của ta vào Con Thiên Chúa làm người trong Chúa Giêsu Nadarét giúp ta nắm được ý nghĩa sâu xa nhất của thực tại và thấy được Thiên Chúa đã yêu thương thế gian này và hằng không ngừng hướng dẫn nó về với Người xiết bao. Điều này dẫn ta, trong tư cách Kitô hữu, sống cuộc sống của ta trong thế gian này với một dấn thân và nồng nhiệt mỗi ngày một lớn hơn.

 

Cứu rỗi nhờ đức tin

19. Dựa trên việc tham dự vào cách Chúa Giêsu nhìn sự việc này, Thánh Phaolô để lại cho ta một mô tả về đời sống đức tin. Khi tiếp nhận hồng ân đức tin, các tín hữu trở nên tạo vật mới; họ tiếp nhận hữu thể mới; trong tư cách con cái Thiên Chúa, nay họ là “những người con trong Chúa Con”. Kiểu nói “Abba, Cha ơi” hết sức đặc thù trong kinh nghiệm của Chúa Giêsu, nay trở thành cốt lõi cho kinh nghiệm Kitô hữu (xem Rm 8:15). Đời sống đức tin, hiểu như hiện sinh con thảo, là sự thừa nhận hồng ân nguyên khởi và triệt để vốn nâng đỡ đời ta. Ta thấy rõ điều này trong câu hỏi Thánh Phaolô đặt ra cho tín hữu Côrintô: “Có điều gì anh em có mà anh em đã không nhận được không?” (1Cor 4:7). Đây là điều nằm ở tâm điểm cuộc tranh luận của Thánh Phaolô với người Biệt Phái: vấn đề ta đạt được ơn cứu rỗi là nhờ đức tin hay nhờ việc làm theo luật. Thánh Phaolô bác bỏ thái độ của những người cho rằng mình nên công chính trước mặt Thiên Chúa nhờ việc mình làm. Những người này, cho dù vâng theo các giới răn và làm nhiều việc tốt lành, chỉ đặt trọng tâm vào chính mình; họ không hiểu rằng sự thiện phát xuất từ Thiên Chúa. Những ai sống theo lối này, những ai muốn là nguồn gốc cho sự công chính của mình, sẽ thấy rằng sự công chính này chẳng bao lâu sẽ tan biến và đến cả việc tuân theo lề luật họ cũng sẽ không làm được. Họ trở nên tự đóng kín trong chính họ và tự cô lập khỏi Thiên Chúa và người khác; đời họ trở nên vô ích và việc làm của họ trở nên khô cằn, như cây xa nguồn nước. Thánh Augustinô nói với ta một cách súc tích và mạnh mẽ theo thông lệ như sau: "Ab eo qui fecit te, noli deficere nec ad te" (Đừng quay mặt khỏi Đấng tạo nên anh em, cũng như quay vào chính anh em) (15). Một khi nghĩ rằng quay mặt khỏi Thiên Chúa, tôi sẽ tìm thấy tôi, là đời tôi bắt đầu tan vỡ (xem Lc 15:11-24). Khởi đầu ơn cứu rỗi là mở lòng mình ra chào đón một điều đã có trước ta, chào đón hồng ân nguyên thủy vốn khẳng định sự sống và nâng đỡ hiện hữu của nó. Chỉ nhờ biết mở cửa chào đón và nhìn nhận hồng ân này, ta mới được biến đổi, cảm nghiệm được ơn cứu rỗi và mang lại hoa trái tốt đẹp. Cứu rỗi nhờ đức tin có nghĩa là nhìn nhận quyền tối thượng của hồng ân Thiên Chúa. Như Thánh Phaolô từng nói “Bởi ơn thánh, anh em đã được cứu rỗi nhờ đức tin, chứ điều này không do việc làm của anh em; nó là hồng ân của Thiên Chúa” (Eph. 2:8).

20. Cách nhìn sự vật mới mẻ của đức tin đặt trọng tâm nơi Chúa Kitô. Đức tin vào Chúa Kitô đem lại ơn cứu rỗi vì ở trong Người, đời ta hoàn toàn mở cửa đón chào một tình yêu vốn có trước ta, một tình yêu vốn biến đổi ta từ bên trong, vì nó hành động trong ta và qua ta. Điều này thấy rõ trong lối Thánh Phaolô chú giải đoạn văn của Đệ Nhị Luật, lối chú giải rất phù hợp với tâm điểm sứ điệp Cựu Ước. Môsê nói với dân rằng “Ai sẽ lên trời thay ta và mang nó về cho ta?” hay “Ai sẽ vượt biển thay ta và mang nó về cho ta?” (Đnl 30:11-14). Thánh Phaolô giải thích sự gần gũi của lời Chúa này như là sự hiện diện của Chúa Kitô trong các Kitô hữu. “Anh em đừng tự hỏi rằng ‘ai sẽ lên trời?’ ngụ ý là để đem Chúa Kitô xuống; hay ‘ai sẽ xuống vực sâu?’, ngụ ý là để đem Chúa Kitô lên từ cõi chết” (Rm 10:6-7). Chúa Kitô xuống thế và sống lại từ cõi chết; qua việc nhập thể và sống lại, Con Thiên Chúa đã ôm lấy trọn sự sống và lịch sử nhân loại, và nay đang cư ngụ trong trái tim ta qua Chúa Thánh Thần. Đức tin biết rằng Thiên Chúa tới gần ta, Chúa Kitô được ban tặng cho ta làm hồng ân biến đổi ta từ bên trong, cư ngụ trong ta và ban cho ta ánh sáng rạng soi cả nguồn gốc lẫn tận cùng đời ta.

21. Như thế, ta thấy được sự khác nhau do đức tin đem lại cho ta. Ai tin đều được biến đổi bởi tình yêu mà trái tim họ đã rộng mở chào đón bằng đức tin. Nhờ sự rộng mở chào đón tặng phẩm yêu thương nguyên thủy này, đời họ được mở rộng và được mở dài. “Không còn là tôi sống nữa, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2:20). “Ước chi Chúa Kitô cư ngụ trong trái tim anh em qua đức tin” (Eph.3:17). Việc ý thức về mình của Kitô hữu nay được nới rộng nhờ sự hiện diện của một người khác; nay sống trong người khác này và do đó, đời sống tiếp nhận được cả một chiều rộng mới mẻ, trong tình yêu. Ở đây, ta thấy Chúa Thánh Thần hành động. Kitô hữu có thể thấy bằng con mắt của Chúa Giêsu và chia sẻ tâm trí Người, chia sẻ thiên hướng con thảo của Người, vì họ chia sẻ tình yêu của Người là Chúa Thánh Thần. Trong tình yêu của Chúa Giêsu, ta nhận được viễn kiến của Người cách nào đó. Không sống theo Người trong tình yêu, không có sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, ta không thể tuyên xưng Người là Chúa được (xem 1Cor 12:3).

Hình thức Giáo Hội của Đức Tin

22. Theo cách trên, đời sống tín hữu trở thành đời sống có tính Giáo Hội, một đời sống sống trong Giáo Hội. Khi Thánh Phaolô nói với tín hữu Rôma rằng mọi người tin vào Chúa Kitô làm nên một thân thể, ngài thúc giục họ đừng đánh giá quá mức việc này; đúng hơn, mọi người phải nghĩ về mình “theo mức đức tin mà Thiên Chúa đã ban cho” (Rm 12:3). Người tin sẽ tiến tới chỗ nhìn mình dưới ánh sáng đức tin mà mình tuyên xưng: Chúa Kitô là tấm gương để họ thấy hình ảnh riêng của họ được thể hiện hoàn toàn. Và như Chúa Kitô đã tụ tập mọi người tin và làm họ trở nên thân thể Người thế nào, thì Kitô hữu cũng sẽ tiến tới chỗ coi mình như chi thể của thân thể này như thế, trong một mối liên hệ yếu tính với mọi tín hữu khác. Hình ảnh thân thể không hàm nghĩa rằng tín hữu chỉ là một phần của một toàn thể vô danh, chỉ là một cái răng (cog) trong cỗ máy lớn; đúng hơn, nó làm nổi sự kết hợp có tính sinh tử của Chúa Kitô với các tín hữu, và của các tín hữu với nhau (xem Rm 12:4-5). Các Kitô hữu chỉ là “một” (xem Gl 3:28), nhưng theo cách không khiến họ mất đi cá tính của họ; khi phục vụ người khác, họ đi vào mình một cách cao độ nhất. Điều này giải thích tại sao, ngoài thân thể này, ngoài sự hợp nhất của Giáo Hội trong Chúa Kitô này, ngoài Giáo Hội mà theo lời Romano Guardini “vốn mang theo cái nhìn của Chúa Kitô về thế giới trong lòng lịch sử” (16) này, đức tin sẽ mất “mức đo” của nó; nó không còn tìm thấy thế quân bình nữa, không tìm thấy không gian cần để nâng đỡ nó nữa. Đức tin nhất thiết có tính Giáo Hội; nó được tuyên xưng trong thân thể Chúa Kitô, vốn là hiệp thông cụ thể của các tín hữu. Chính trên tấm phông Giáo Hội này, Đức Tin mở lòng từng Kitô hữu cá nhân hướng về mọi người khác. Lời Chúa Kitô, một khi đã nghe thấy, do chính sức mạnh nội tại hoạt động trong trái tim Kitô hữu của nó, sẽ trở nên lời đáp trả, một lời được nói lên, một tuyên xưng đức tin. Như chính Thánh Phaolô từng viết: “người ta tin thật trong lòng... và tuyên xưng ra ngoài miệng” (Rm 10:10). Đức tin không phải là chuyện riêng tư, một ý niệm hoàn toàn cá nhân chủ nghĩa hay một ý kiến bản thân: nó phát sinh từ việc nghe, và nó nhằm được phát biểu thành lời và được tuyên xưng. Vì “Làm sao họ tin được Đấng mà họ chưa bao giờ nghe nói tới? Và làm sao họ nghe nói nếu không có người thuyết giảng?” (Rm 10:14). Đức tin trở nên hoạt động nơi Kitô hữu là nhờ hồng ân nhận được, nhờ tình yêu lôi cuốn ta tới Chúa Kitô (xem Gl 5:6), và giúp ta tham dự vào cuộc lữ hành vĩ đại của Giáo Hội qua dòng lịch sử cho tới ngày tận thế. Đối với những ai đã được biến đổi cách này, một cách nhìn mới sẽ được mở ra, đức tin trở nên ánh sáng cho con mắt họ.

Chương Hai: Các ngươi sẽ không hiểu nếu không tin (xem Is 7:9)

Đức Tin và sự thật

23. Không tin, các ngươi sẽ không hiểu (xem Is 7:9). Bản Hy Lạp của Thánh Kinh Do Thái, tức bản dịch Bẩy Mươi, xuất bản tại Alexandria, cho rằng những lời trên được tiên tri Isaia nói với Vua Akhát. Theo cách này, vấn đề nhận thức chân lý trở nên cốt yếu đối với đức tin. Bản Hípri có hơi khác một chút; tiên tri nói với nhà vua: “không tin, ngài sẽ không lập ngôi được”. Ở đây, ta thấy có việc chơi chữ, dựa vào hai hình thức của động từ ’amān: "ngài sẽ tin" (ta’amînû) và " ngài sẽ lập được ngôi " (tē’āmēnû).

Khiếp đảm trước sức mạnh của kẻ thù, vị vua này tìm sự an toàn mà chỉ có việc liên minh với Đế Quốc hùng mạnh Assyria mới cung cấp được. Thay vào đó, tiên tri bảo ông hãy tin tưởng hoàn toàn vào tảng đá chắc chắn và bền vững là Thiên Chúa của Israel. Vì Thiên Chúa là Đấng đáng tin cậy, nên điều hữu lý là tin vào Người, bám chặt vào lời Người. Người là một với vị Thiên Chúa mà sau này Tiên Tri Isaia, hai lần trong cùng một câu, gọi là Thiên Chúa Amen, “Thiên Chúa của sự thật” (xem Is 65:16), nền tảng bền vững của lòng trung trinh giao ước. Xem ra bản Hy Lạp của Thánh Kinh, khi dịch “lập ngôi” thành “hiểu”, đã thay đổi một cách sâu xa ý nghĩa của bản văn bằng cách rời bỏ ý niệm của Thánh Kinh về sự tín thác vào Chúa để tiếp nhận ý niệm của người Hy Lạp về cái hiểu tri thức. Ấy thế nhưng, lối dịch này, tuy chắc chắn có phản ảnh cuộc đối thoại với nền văn hóa Hy Lạp, nhưng vẫn không xa lạ đối với tính tiềm ẩn trong bản văn Hípri. Vì nền tảng vững chắc mà Isaia hứa với nhà vua quả đã đặt cơ sở trên cái hiểu về hoạt động của Thiên Chúa và sự hợp nhất mà Người vốn ban cho sự sống nhân bản và lịch sử dân Người. Tiên tri thách thức nhà vua, và cả chúng ta nữa, phải hiểu đường lối Thiên Chúa, nhìn thấy kế hoạch khôn ngoan điều hướng mọi thời đại trong lòng trung trinh của Thiên Chúa. Thánh Augustinô tiếp nối việc tổng hợp các ý niệm “hiểu” và “lập ngôi" này trong cuốn Tự Thú khi ngài nói tới sự thật mà người ta có thể dựa vào để đứng vững: “Lúc đó, con sẽ được đúc và trở nên cứng cáp trong cái khuôn chân lý của Ngài” (17). Trong ngữ cảnh này, ta thấy Thánh Augustinô quan tâm tới việc chứng minh rằng sự thật đáng tin về Thiên Chúa, như Thánh Kinh chỉ rõ, chính là sự hiện diện đầy tín trung của Người qua suốt dòng lịch sử, là khả năng của Người kết hợp thời gian và mọi thời đại với nhau, và tập hợp mọi mạch tản mạn của đời ta thành một (18).

24. Đọc dưới ánh sáng này, bản văn của tiên tri dẫn ta tới một kết luận: ta cần nhận thức, ta cần sự thật, vì không có những giá trị này, ta không thể đứng vững, ta không thể tiến tới. Đức tin không có sự thật là đức tin không cứu rỗi, nó không cung cấp cho ta một thế đứng vững chắc. Nó mãi là câu truyện đẹp đẽ, một phóng chiếu các hoài mong hạnh phúc sâu xa của ta, một điều gì đó có khả năng thoả mãn ta bao lâu ta sẵn sàng tự lừa dối mình. Cả hai điều ấy, hay là bị giản lược thành một xúc cảm cao có thể đem tới ủi an và phấn khích, nhưng mãi mãi làm mồi cho những thất thường của tâm trí ta và thời tiết hay thay đổi, không hề có khả năng nâng đỡ để cuộc hành trình suốt đời bền vững. Nếu đức tin là như thế, thì Vua Akhát hẳn nhiên đúng khi không đánh cuộc đời ông và nền an ninh của vương quốc ông trên một xúc cảm. Nhưng chính vì mối liên kết nội tại của nó với sự thật, đức tin quả có khả năng đem lại ánh sáng mới, cao hơn các tính toán của nhà vua, vì ánh sáng này nhìn sâu hơn vào đường xa và biết cậy trông vào bàn tay Thiên Chúa, Đấng luôn trung thành với giao ước và hứa hẹn của Người.

25. Ngày nay, hơn bao giờ hết, vì cuộc khủng hoảng sự thật trong thời đại ta, ta cần được nhắc nhớ mối liên kết giữa đức tin và sự thật. Trong nền văn hóa đương thời, ta thường có khuynh hướng chỉ coi chân lý kỹ thuật là chân lý có thực mà thôi: chân lý là điều ta thành công trong xây dựng và cân đo bằng kiến thức khoa học, chân lý là điều xuôi chẩy và làm cho cuộc sống dễ dàng và tiện nghi hơn. Ngày nay, điều này xem ra là chân lý duy nhất chắc chắn, chân lý duy nhất có thể chia sẻ, chân lý duy nhất có thể dùng làm căn bản để thảo luận hay theo đuổi các trách nhiệm chung. Ấy thế nhưng ở phía kia của cán cân, ta sẵn sàng cho phép các chân lý chủ quan của cá nhân, tức các chân lý hệ ở việc trung thành với các xác tín sâu xa nhất của họ, nhưng chỉ có giá trị cho cá nhân này mà thôi chứ không có khả năng đề xuất cho người khác, trong cố gắng phục vụ thiện ích chung. Còn chính Chân Lý, một chân lý có khả năng giải thích toàn bộ đời ta như những cá nhân hay trong xã hội, thì bị nhìn một cách ngờ vực. Đã đành, người ta bảo ta: chân lý này là thứ chân lý được các phong trào toàn trị vĩ đại của thế kỷ trước chủ trương, một chân lý chuyên áp đặt thế giới quan của nó ngõ hầu đập nát đời thực của các cá nhân. Cuối cùng, cái còn lại cho ta chỉ là chủ nghĩa duy tương đối, trong đó, vấn đề chân lý phổ quát, và tối hậu là vấn đề Thiên Chúa, sẽ chẳng còn ăn uống chi nữa. Theo quan điểm này, sẽ hợp luận lý khi ta cắt bỏ sợi dây liên kết giữa tôn giáo và chân lý, vì mối liên kết này bị nó coi là gốc rễ của chủ nghĩa cuồng tín, là chủ nghĩa tỏ ra áp chế đối với bất cứ ai không có cùng các niềm tin như mình. Tuy nhiên, về phương diện này, ta có thể nói tới một sự mất trí nhớ vĩ đại trong thế giới đương thời. Vấn đề chân lý thực sự là vấn đề trí nhớ, trí nhớ sâu sắc, vì nó bàn đến một điều gì đó có trước ta và có khả năng hợp nhất ta một cách vượt quá cả ý thức cá nhân nhỏ mọn và hữu hạn của ta. Nó là vấn đề liên quan đến nguồn gốc mọi hiện hữu mà nhờ ánh sáng của nó ta có thể hé nhìn thấy mục đích và do đó ý nghĩa con đường chung của ta.

Nhận thức chân lý và tình yêu

26. Nếu đúng như thế, thì đức tin Kitô Giáo có thể phục vụ thiện ích chung liên quan tới phương cách đúng để hiểu chân lý hay không? Để trả lời câu hỏi này, ta cần tìm hiểu: loại nhận thức nào bao hàm trong đức tin. Ở đây, câu nói của Thánh Phaolô có thể giúp ta: “ta tin bằng trái tim” (Rm 10:10). Trong Thánh Kinh, trái tim là cốt lõi của con người nhân bản, nơi mà mọi chiều kích khác nhau của họ giao thoa với nhau: thân xác và tinh thần, tính nội tâm và cởi mở với thế giới và người khác, trí hiểu, ý chí và cảm giới tính. Trái tim có khả năng giữ cho các chiều kích này hợp lại với nhau, vì nó là nơi ta mở cửa chào đón chân lý và tình yêu, nơi ta để chúng đụng đến ta và biến đổi ta cách sâu sắc. Đức tin biến đổi toàn bộ con người bao lâu họ biết mở cửa chào đón tình yêu. Nhờ sự hòa lẫn đức tin và tình yêu này, ta tiến tới chỗ nhìn ra loại nhận thức mà đức tin bao hàm, sức mạnh thuyết phúc của nhận thức này và khả năng soi sáng đường ta đi của nó. Đức tin nhận thức vì nó nối kết với tình yêu, vì tình yêu đem đến soi sáng. Cái hiểu của đức tin phát sinh khi ta nhận được tình yêu bao la của Thiên Chúa, một tình yêu biến đổi ta từ bên trong và giúp ta nhìn thấy thực tại bằng con mắt mới.

27. Lối giải thích của triết gia Ludwig Wittenstein về sự nối kết giữa đức tin và sự chắc chắn đáng lưu ý. Đối với Wittgenstein, đức tin có thể so sánh với cảm nghiệm si tình: nó là một điều gì có tính chủ quan không thể đề xuất thành chân lý có giá trị cho mọi người (19). Quả tình, phần lớn con người thời nay không coi tình yêu như có liên quan gì tới chân lý cả. Tình yêu bị họ coi như một kinh nghiệm có liên hệ tới thế giới cảm xúc mau qua, không còn liên hệ gì tới chân lý nữa.

Nhưng đấy có phải là mô tả thỏa đáng về tình yêu chăng? Tình yêu không thể bị giản lược thành một xúc cảm phù du. Đúng là nó mời gọi cảm xúc tính (affectivity), nhưng là để thổ lộ nó với người yêu và do đó làm sáng lên nẻo đường dẫn ta ra khỏi việc lấy mình làm trung tâm để hướng về một người khác, để xây dựng một liên hệ lâu dài; tình yêu nhằm kết hợp với người yêu. Ở đây, ta bắt đầu thấy tình yêu đòi hỏi chân lý ra sao. Chỉ bao lâu tình yêu được đặt cơ sở trên chân lý, nó mới bền vững với thời gian, nó mới vượt trên những khoảnh khắc mau qua và mới vững chắc đủ để nâng đỡ cuộc hành trình chung. Nếu tình yêu không nối kết với chân lý, nó sẽ thành mồi cho những xúc cảm phù phiếm và không thể chịu đựng được thử thách của thời gian. Một đàng, tình yêu chân thực thống nhất hóa mọi yếu tố của con người ta và trở nên ánh sáng mới chỉ đường cho ta tiến tới cuộc đời vĩ đại và thỏa đáng. Không có chân lý, tình yêu không thể thiết lập được một dây nối kết vững bền; nó không thể giải phóng cái tôi cô lập của ta hay cứu được nó khỏi những khoảnh khắc mau qua để tạo ra một sự sống và đem lại hoa trái.

Nếu tình yêu cần chân lý, thì chân lý cũng cần tình yêu. Tình yêu và chân lý không thể tách biệt nhau. Không có tình yêu, chân lý trở nên lạnh lùng, vô ngã và áp chế đối với cuộc sống hàng ngày của người ta. Chân lý được ta tìm kiếm, chân lý có thể đem lại ý nghĩa cho cuộc hành trình trong đời ta, soi sáng cho ta bất cứ khi nào tình yêu đụng đến ta. Người yêu là người biết rằng tình yêu là một cảm nghiệm chân lý, nó mở mắt để ta thấy thực tại một cách mới mẻ, trong hợp nhất với người ta yêu. Theo nghĩa này, Thánh Grêgôriô Cả viết rằng "amor ipse notitia est", tình yêu chính là loại nhận thức có được nhờ chính luận lý riêng của nó (20). Nó là đường hướng tương quan trong cách nhìn thế giới, một cách nhìn sẽ trở thành một hình thức của nhận thức chung, một cách nhìn xuyên qua mắt người khác và là cách nhìn chung về mọi sự vật đang hiện hữu. Thời Trung Cổ, William of Saint-Thierry đã theo truyền thống này khi ông chú giải câu trong Sách Diễm Ca của người yêu nói với người mình yêu “mắt em là những bồ câu” (Dc 1:15) (21). William cho rằng đôi mắt đây là lý trí và tình yêu đầy đức tin, là hai điều sẽ trở nên một khi vươn tới việc chiêm ngưỡng Thiên Chúa, khi cái hiểu của ta trở nên “cái hiểu của tình yêu đã thành thông sáng” (22).

28. Việc khám phá ra tình yêu như nguồn nhận thức này, vốn là thành phần của kinh nghiệm nguyên thủy nơi mọi người nam nữ, tìm được biểu thức có thế giá trong cái hiểu của Thánh Kinh về đức tin. Nhờ cảm nghiệm được tình yêu mà nhờ đó Thiên Chúa đã chọn họ và biến họ thành một dân tộc, Israel tiến tới chỗ hiểu được tính thống nhất toàn diện trong kế hoạch của Thiên Chúa. Nhận thức của đức tin, vì phát sinh từ tình yêu giao ước của Thiên Chúa, nên là nhận thức soi sáng cho con đường lịch sử. Đó là lý do tại sao, trong Thánh Kinh, chân lý và lòng trung thành luôn đi đôi với nhau: Thiên Chúa chân thật là Thiên Chúa trung thành, Đấng luôn giữ lời hứa và làm khả hữu, với thời gian, việc hiểu biết kế hoạch của Người. Qua kinh nghiệm của các tiên tri, trong cơn đau của lưu đày và trong hy vọng một dứt khoát trở về thành thánh, Israel đã tiến tới chỗ nhìn ra rằng “chân lý” thần linh này trải rộng quá cả giới hạn của lịch sử họ, để ôm lấy trọn lịch sử thế giới, bắt đầu với sáng tạo. Nhận thức đức tin dõi sáng không những cho số phận của một dân tộc đặc thù, mà còn cả trọn lịch sử của thế giới tạo dựng, từ khởi thủy cho tới tận cùng của nó.

 

in July 16, 2013 .

vietcatholic.net

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)