dongcong.net
 
 

trang của Cao Tấn Tĩnh

November 2, 2013 ĐTC

T

"Tôi tin Giáo Hội... tông truyền"
 
"Tôi tin Giáo Hội Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền". Tôi không biết có bao giờ anh chị em suy nghĩ về ý nghĩa của lời bày tỏ "Giáo Hội tông truyền" hay chăng. Có lẽ chưa bao giờ, hay có thể một đôi lúc, khi đến Rôma, anh chị em nghĩ về tầm quan trọng của các Vị Tông Đồ Phêrô và Phaolô, những vị đã hy sinh mạng sống của mình ở đây để rao giảng và làm chứng Phúc Âm.
 
Thế nhưng chưa đủ. Việc tuyên xưng Giáo Hội Tông Truyền là có ý nhấn mạnh đến mối liên kết sâu xa kiến tạo Giáo Hội có được với các Vị Tông Đồ, với cái nhóm nhỏ 12 nam nhân một hôm được Chúa Giêsu kêu gọi đến cùng Người; Người đã gọi tên từng vị để các vị ở với Người và các vị được Người sai đi (cf Mk 3:13-19). Thật vậy, "tông đồ" là một tiếng Hy Lạp nghĩa là "được sai đi". Người tông đồ là một người được sai đi, họ được sai đi để làm một điều gì đó và các Vị Tông Đồ đã được Chúa Giêsu tuyển chọn, kêu gọi và sai đi, hầu tiếp tục công việc của Người, tức là cầu nguyện - đây là việc đầu tiên của vị tông đồ - và sau đó là loan báo Phúc Âm. Điều này quan trọng vì khi chúng ta nghĩ về các Vị Tông Đồ chúng ta có thể nghĩ rằng các vị chỉ được sai đi loan báo Phúc Âm, để làm rất nhiều việc. Thế nhưng, trong những giây phút đầu tiên của Giáo Hội đã xẩy ra trục trặc vì các Tông Đồ có rất nhiều điều phải làm nên các vị đã thành lập hàng phó tế, nhờ đó các Tông Đồ có nhiều giờ hơn để cầu nguyện và loan báo Lời Chúa. Khi chúng ta nghĩ về các vị thừa kế các vị Tông Đồ, tức các Giám Mục, bao gồm cả Giáo Hoàng vì ngài cũng là một Giám Mục, và chúng ta phải tự hỏi mình xem người thừa kế các Tông Đồ trước hết có cầu nguyện rồi sau đó loan truyền Phúc Âm hay chăng: đó là một hàng ngũ Tông Đồ và vì thế Giáo Hội mới tông truyền. Tất cả chúng ta, nếu chúng ta muốn trở thành các tông đồ như giờ đây tôi giải thích chúng ta cần phải hỏi mình xem tôi có cầu nguyện cho phần rỗi của thế giới hay chăng? Tôi có loan báo Phúc Âm hay chăng? Đó là Giáo Hội tông truyền! Đó là một thứ kết hợp liên đới mà chúng ta có được với các Tông Đồ.
 
Chính từ những gì mở đầu này mà tôi muốn vắn tắt nhấn mạnh đến 3 ý nghĩa của tĩnh từ "Tông Truyền" được áp dụng vào Giáo Hội.
 
Giáo Hội Tông Truyền vì Giáo Hội được thiết lập nhờ việc rao giảng và cầu nguyện của các Tông Đồ, nhờ quyền bình được chính Chúa Kitô ban cho các vị. Thánh Phaolô đã viết cho các Kitô hữu thành Êphêsô rằng: "Anh chị em đều là công dân với các thánh nhân và các phần tử thuộc gia đình của Thiên Chúa, được thiết lập trên nền tảng các vị Tông Đồ và Tiên Tri, có chính Chúa Giêsu Kitô là tảng đá gốc", thế nên Kitô hữu được ví như những viên đá sống động làm nên ngôi nhà Giáo Hội, và ngôi nhà này được xây trên các tông đồ, như là những cột trụ, và tảng đá nâng đỡ hết mọi sự đó là chính Chúa Giêsu. Không có Chúa Giêsu Giáo Hội không thể hiện hữu! Chúa Giêsu là chính cơ bản của Giáo Hội, là nền tảng! Các Vị Tông Đồ đã sống với Chúa Giêsu, các vị đã lắng nghe lời của Người, các vị đã chia sẻ với đời sống của Người, đặc biệt các vị đã là những chứng nhân của cuộc Tử Giá và Phục Sinh của Người. Đức tin của chúng ta, Giáo Hội mà Chúa Kitô mong muốn, không được thiết dựng trên một thứ tư tưởng, trên một thứ triết lý, mà là trên chính Chúa Kitô. Và Giáo Hội giống như một cái cây đã tăng trưởng qua các thế kỷ; Giáo Hội đã phát triển, đã sinh hoa kết trái, thế nhưng gốc của Giáo Hội đã mọc rễ vững vàng nơi Người và cảm nghiệm chính yếu về Chúa Kitô nơi các Tông Đồ, thành phần được Chúa Giêsu tuyển chọn và sai đi, vươn tới tận chúng ta đây. Đó là cách Giáo Hội ở trong toàn thế giới, từ một cây nhỏ bé cho tới thời điểm của chúng ta vậy.
 
Thế nhưng, chúng ta hãy tự vấn: chúng ta làm sao có thể liên kết với chứng từ ấy, làm thế nào mà những gì các Tông Đồ đã sống với Chúa Giêsu, những gì các vị đã nghe thấy từ Người vươn tới chúng ta được chứ? Đấy là ý nghĩa thứ hai của từ ngữ "tính chất tông truyền". Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo viết rằng Giáo Hội Tông Truyền vì "nhờ sự giúp đỡ của Thần Linh ngự trong Giáo Hội mà Giáo Hội gìn giữ và truyền đạt giáo huấn, 'kho tàng tốt đẹp', 'những lời lợi ích' Giáo Hội đã nghe thấy từ các Tông Đồ" (khoản 857). Giáo Hội, trải qua các thế kỷ, gìn giữ kho tàng quí báu này, đó là Thánh Kinh, Tín Lý, Các Bí Tích, thừa tác vụ Mục Tử, nhờ đó chúng ta có thể trung thành với Chúa Kitô và được tham dự vào chính sự sống của Người. Nó như là một giòng sông chảy qua lịch sử, nó trải rộng, tưới dội thế nhưng giòng nước chảy này bao giờ cũng là những gì xuất phát từ nguồn mạch, từ chính Chúa Kitô: Người là Đấng Phục Sinh, là Đấng Hằng Sống, và lời của Người không qua đi, vì Người là Đấng không qua đi, Người đang sống, Người ở đây với chúng ta hôm nay, Người lắng nghe và chúng ta đang nói với Người. Người ở trong lòng chúng ta. Chúa Giêsu ở với chúng ta, hôm nay đây! Đó là vẻ đẹp của Giáo Hội, ở chỗ, Chúa Giêsu Kitô hiện diện giữa chúng ta. Chúng ta có bao giờ nghĩ đến tặng ân Chúa Kitô đã ban cho chúng ta hay chăng, tặng ân Giáo Hội là nơi chúng ta gặp gỡ Người? Có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc chính Giáo Hội trong cuộc hành trình dài qua các thế kỷ - bất chấp khốn khó, trục trặc, yếu hèn, tội lỗi của chúng ta - truyền đạt cho chúng ta sứ điệp chân thực của Chúa Kitô như thế nào hay chăng?  Có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc Giáo Hội cống hiến cho chúng ta niềm tin tưởng rằng những gì chúng ta tin tưởng thực sự chính là những gì Chúa Kitô đã truyền đạt cho chúng ta hay chăng?
 
Ý tưởng cuối cùng đó là Giáo Hội Tông Truyền vì Giáo Hội được sai đi mang Phúc Âm đến cho toàn thế giới. Cũng sứ vụ đã được Chúa Giêsu ký thác cho các Tông Đồ ấy tiếp tục hành trình trong lịch sử: "Bởi thế, các con hãy đi tuyển mộ các môn đồ nơi tất cả mọi dân nước, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy cho họ tuân giữ tất cả những gì Thày truyền bảo các con; và này đây Thày sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28:19-20). Đó là những gì Chúa Giêsu đã nói với chúng ta thực hiện! Tôi nhấn mạnh đến khía cạnh về hoạt động truyền giáo này, vì Chúa Kitô mời gọi tất cả hãy "đi" mà gặp gỡ những người khác, Người sai chúng ta đi, Người xin chúng ta hãy đi chuyển để gieo rắc niềm vui của Phúc Âm! Một lần nữa chúng ta hãy tự vấn xem chúng ta có phải là thành phần thừa sai bằng lời nói của chúng ta, nhất là bằng đời sống Kitô hữu của chúng ta, bằng chứng từ của chúng ta hay chăng? Hoặc chúng ta là thành phần Kitô hữu khép kín trong lòng mình và trong giáo hội của mình, là 'những kitô hữu phòng thánh'? Các Kitô hữu chỉ bằng lời nói nhưng phải chăng lại sống như dân vô đạo? Chúng ta cần phải tự vấn những câu hỏi không phải là những gì khiển trách này. Tôi cũng tự hỏi như vậy: Tôi là một Kitô hữu ra sao, có bằng chứng từ thực sự hay chăng?  
 
Giáo Hội có gốc gác của mình nơi giáo huấn của các Vị Tông Đồ, thành phần chứng nhân đích thực của Chúa Kitô, thế nhưng Giáo Hội luôn nhìn về tương lai, Giáo Hội ý thức mạnh mẽ về sứ vụ được sai đi - được Chúa Giêsu sai đi - của một nhà truyền giáo, loan báo danh thánh của Chúa Giêsu bằng lời nguyện cầu, bằng việc loan báo và bằng việc làm chứng. Một Giáo Hội khép kín vào bản thân mình và vào quá khứ, một Giáo Hội chỉ lưu ý tới những thứ qui luật nhỏ nhoi của thói lệ, của thái độ, là một Giáo Hội phản lại lại căn tính của mình; một Giáo Hội khép kín ngược lại với căn tính của mình! Vậy thì hôm nay chúng ta hãy tái nhận thức tất cả vẻ đẹp và trách nhiệm của việc là một Giáo Hội Tông Truyền! Và hãy nhớ rằng: Chúng ta là một Giáo Hội tông truyền vì chúng ta cầu nguyện - công việc đầu tiên của chúng ta - và vì chúng ta loan báo Phúc Âm bằng đời sống của chúng ta cũng như bằng ngôn từ của chúng ta.
 
 
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo http://www.zenit.org/en/
articles/on-the-apostolic-church
(những chỗ in nghiêng và mầu là do người dịch tự ý muốn nhấn mạnh)
Đúng một tuần trước đây, từ tối Thứ Bảy 12/10 đến Chúa Nhật 13/10/2013, ĐTC Phanxicô đã cử Hành Ngày Thánh Mẫu trong Năm Đức Tin, một biến cố chính yếu trước khi bế mạc Năm Đức Tin.

Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau đọc lại những bài Huấn Từ của ngài cho Tối Áp Ngày Thánh Mẫu, Thứ Bảy 12/10, và ngày mai đến Bài Giảng của ngài cho sáng Ngày Thánh Mẫu Chúa Nhật 13/10.

Đọc những lời của ngài trong Ngày Thánh Mẫu này để hiểu được phần nào những ý thức và tâm tình của Đức Thánh Cha Phanxicô đối với Mẹ Maria lần đầu tiên ngài bày tỏ một cách đặc biệt.

 

Bài Giáo Lý Thánh Mẫu cho Tối Thứ Bảy 12/10/2013 tại Quảng Trường Thánh Phêrô: Mẹ là người nữ của đức tin

Video

Anh Chị Em thân mến,

Biến cố này của Năm Đức Tin được dành cho Mẹ Maria, Người Mẹ của Chúa Kitô và là Người Mẹ của Giáo Hội, Mẹ của chúng ta. Bức tượng Đức Mẹ từ Fatima đến khiến chúng ta cảm thấy sự hiện diện của Mẹ ở giữa chúng ta. Đó là sự thật, ở chỗ, Mẹ Maria bao giờ cũng mang chúng ta đến với Chúa Giêsu. Mẹ là người nữ của đức tin, là một tín hữu đích thực. Thế nhưng chúng ta có thể đặt vấn đề là: đức tin của Mẹ như thế nào?

1- Khía cạnh thứ nhất về đức tin của Mẹ đó là đức tin của Mẹ Maria tháo gỡ cái nút thắt tội lỗi(cf. Lumen Gentium, 56). Điều ấy có nghĩa là gì? Các vị nghị phụ của Công Đồng Chung Vaticanô II đã lập lại câu Thánh Irenaeus nói "cái nút thắt bất tuân phục của Evà được tháo gỡ ra bởi việc tuân phục của Mẹ maria; những gì Evà đồng trinh thắt buộc bởi việc không tin tưởng của mình thì Trinh Nữ Maria đã tháo gỡ nó ra bằng đức tin của Mẹ" (Adversus Haereses, III, 22, 4).

"Cái nút thắt" của việc bất tuân, "cái nút thắt" của việc không tin tưởng. Khi con cái không tuân phục cha mẹ của mình chúng ta có thể nói rằng đã xẩy ra một "cái nút thắt" nhỏ. Điều này xẩy ra nếu người con tác hành một cách ý thức về những gì chúng đang làm, nhất là lại chất chứa một cái gì gian dối trong đó. Vào lúc ây, chúng làm mất đi niềm tin tưởng nơi cha mẹ chúng. Anh chị em biết điều này xẩy ra thường xuyên thế nào rồi! Bởi vậy mối liên hệ với cha mẹ của chúng cần phải được thanh tẩy cho khỏi lỗi lầm ấy; đứa con cần phải xin tha thứ để có thể phục hồi được mối hòa hợp và lòng tin tưởng. Cũng thế xẩy ra nơi mối liên hệ của chúng ta đối với Thiên Chúa. Khi chúng ta không lắng nghe Ngài, khi chúng ta không tuân theo ý muốn của Ngài, chúng ta tỏ ra những việc cụ thể tỏ ra chúng ta thiếu tin tưởng vào Ngài - vì đó là những gì tội lỗi - và một thứ nút thắt nào đó đã xẩy ra thấm thía trong chúng ta. Những cái nút thắt ấy làm cho chúng ta mất sự bình an và niềm thanh thản. Chúng là những gì nguy hiểm vì nhiều cái nút thắt có thể làm thành nên một mớ lộn xộn càng gây đớn đau và khó tháo gỡ.

Thế nhưng, chúng ta biết một điều là không gì là bất khả đối với tình thương của Thiên Chúa! Ngay cả những cái nút thắt rối rắc nhất cũng có thể được tháo cởi nhờ ân sủng của Ngài. Và Mẹ Maria, người có tiếng "xin vâng" đã mở cửa để Thiên Chúa tháo cởi cái bất tuân xưa, là Người Mẹ nhẫn nại và yêu thương dẫn chúng ta đến cùng Thiên Chúa, nhờ đó Ngài có thể gỡ rối cho những cái nút thắt của linh hồn chúng ta bằng tình thương hiền phụ của Ngài. Tất cả chúng ta đều có một số những nút thắt ấy và chúng ta có thể hỏi lòng mình rằng: Đâu là những nút thắt trong cuộc đời của tôi? "Thưa cha, những nút thắt của con không thể nào tháo cởi!" Thật là sai lầm khi nói như thế! Tất cả mọi nút thắt trong lòng của chúng ta, hết mọi nút thắt trong lương tâm của chúng ta, đều có thể tháo cởi. Tôi có xin Mẹ Maria giúp tôi tin tưởng vào tình thương của Thiên Chúa hay chăng, trong việc tháo cởi những nút thắt ấy hay chăng, thay đổi hay chăng? Mẹ, như một người nữ của niềm tin, chắc chắn sẽ nói cùng anh chị em rằng: "Hãy đứng lên, hãy đến cùng Chúa, vì Ngài hiểu anh chị em". Rồi Mẹ lấy bàn tay của một Người Mẹ, Mẹ của chúng ta, dẫn chúng ta đến vòng tay của Cha chúng ta, Người Cha giầu lòng xót thương.

2- Khía cạnh thứ hai đó là đức tin của Mẹ Maria cống hiến cho Chúa Giêsu xác thịt loài người. Như Công Đồng Chung Vaticanô II nói: "Nhờ đức tin và sự tuân phục của Mẹ mà Mẹ đã hạ sinh vào trần gian này chính Người Con của Cha mà không biết đến nam nhân mà do Mẹ được bao phủ bởi Thánh Linh" (Lumen Gentium, 63). Đây là một điểm đưoọc các Giáo Phụ của Giáo Hội nhấn mạnh rất nhiều: Mẹ Maria thụ thai Chúa Giêsu bằng đức tin trước, rồi mới nơi xác thịt, khi Mẹ thưa "vâng" với sứ điệp Thiên Chúa truyền cho Mẹ qua vị thiên thần. Điều này nghĩa là gì? Nghĩa là Thiên Chúa không muốn hóa thân làm người bằng việc không đếm xỉa gì tới tự do của chúng ta; Ngài muốn phải qua sự đồng ý tự nguyện của Mẹ Maria, qua việc 'xin vâng" của Mẹ. Ngài đã hỏi Mẹ rằng: "Con có sẵn lòng làm điều ấy hay chăng?" Và Mẹ đã trả lời: "Thưa vâng".

Thế nhưng, những gì đã xẩy ra hết sức đặc biệt nơi Trinh Nữ Maria cũng xẩy ra trong chúng ta một cách thiêng liêng, khi chúng ta lãnh nhận lời Chúa bằng một tâm can tốt lành và thành thật và mang lời của Ngài ra thực hành. Nó như thể Thiên Chúa mặc lấy xác thịt trong chúng ta; Ngài đến ở trong chúng ta, vì Ngài ngự trong tất cả những ai yêu mến Ngài và giữ lời của Ngài. Không dễ gì hiểu điều này nhưng thực sự lại dễ cảm thấy nó trong tâm can của chúng ta.

Phải chăng chúng ta nghĩ rằng việc nhập thể của Chúa Giêsu chỉ là một biến cố của quá khứ không có liên hệ gì tới bản thân của chúng ta? Việc tin tưởng vào Chúa Giêsu nghĩa là việc chúng ta cống hiến cho Người xác thịt của chúng ta bằng tấm lòng khiêm nhượng và can đảm của Mẹ Maria, nhờ đó Người có thể tiếp tục ngự giữa chúng ta. Nghĩa là cống hiến cho Người đôi tay của chúng ta, để chăm sóc thành phần hèn mọn và nghèo khổ; đôi chân của chúng ta để tiến lên gặp gỡ anh chị em của chúng ta; đôi cánh tay của chúng ta để ôm ấp thành phần hèn yếu và làm việc trong vườn nho của Chúa, trí óc của chúng ta để suy tư và tác hành theo ánh sáng của Phúc Âm; và nhất là cống hiến tâm can của chúng ta để yêu thương và chọn lựa theo ý muốn của Thiên Chúa. Tất cả những điều ấy xẩy ra là nhờ hoạt động của Thánh Linh. Nhờ đó chúng ta trở thành dụng cụ trong bàn tay của Thiên Chúa, để Chúa Giêsu có thể tác hành trong thế giới này qua chúng ta.

3- Khía cạnh thứ ba đó là đức tin của Mẹ Maria như là một cuộc hành trình. Công Đồng Chung Vaticanô II nói rằng Mẹ Maria "tiến tới trong hành trình đức tin của Mẹ" (ibid 58). Như thế là Mẹ đi trước chúng ta trong cuộc hành trình này, Mẹ hộ tống và nâng đỡ chúng ta.

Đức tin của Mẹ Maria là một cuộc hành trình ra sao? Theo ý nghĩa này thì tất cả cuộc sống của Mẹ là theo Con Mẹ: Người - Chúa Giêsu - là đường lối, là con đường đi! Việc tiến bước trong đức tin, việc tiến triển trong cuộc hành trình thiêng liêng là đức tin, chính là việc theo Chúa Giêsu; là việc lắng nghe Người và được lời Người hướng dẫn; là thấy cách Người tác hành và theo bước chân của Người; là có cùng cảm thức như Người; Và đâu là những cảm thức này của Chúa Giêsu? Đó là lòng khiêm nhượng, lòng xót thương, sự gần gũi với người khác, thế nhưng cũng mạnh mẽ loại trừ những gì là giả hình, hai lòng và ngẫu tượng. Con đường của Chúa Giêsu là con đường của một tình yêu trung thành cho đến cùng, cho dù hy sinh mạng sống mình; đó là con đường của thập tự giá. Như thế, cuộc hành trình đức tin băng ngang qua thập giá. Mẹ Maria đã hiểu điều này ngay từ ban đầu, khi Hêrôđê tìm giết Chúa Giêsu mới sinh. Thế nhưng cảm nghiệm thập giá này đã trở nên sâu đậm hơn khi Chúa Giêsu bị loại trừ. Mẹ maria bao giờ cũng ở với Chúa Giêsu, Mẹ theo Chúa Giêsu giữa đám đông và Mẹ nghe thấy tất cả những chuyện tầm phào và thô tục của những kẻ chống đối Chúa. Mẹ đã vác thập giá ấy! Đức tin của Mẹ Maria đã gặp phải hiểu lầm và khinh bỉ. Vào "giờ" của Chúa Giêsu đến, giờ của cuộc khổ nạn, vào lúc đức tin của Mẹ Maria là một ngọn lửa nhỏ cháy trong đêm đen, một ánh sáng nhỏ lập lòa trong tăm tối. Mẹ Maria canh thức suốt Đêm Thứ Bảy. Ngọn lửa của Mẹ, dù nhỏ nhưng tỏ, vẫn cháy sáng cho tới rạng đông phục sinh. Và khi Mẹ nghe thấy lời về ngôi mộ trống thì lòng Mẹ tràn đầy niềm vui tin tưởng: đức tin Kitô giáo là đức tin vào cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu Kitô. Đức tin bao giờ cũng mang chúng ta đến niềm hân hoan, và Mẹ Maria là Mẹ của niềm vui! Chớ gì Mẹ dạy chúng ta đi con đường hân hoan, cảm nghiệm được niềm hân hoan ấy! Đó là cao điểm - là niềm vui này, là cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu và Mẹ Maria, và chúng ta có thể tưởng tượng nó ra sao hay chăng. Cuộc gặp gỡ này là cao điểm nơi cuộc hành trình đức tin của Mẹ Maria, và nơi cuộc hành trình của toàn thể Giáo Hội. Đức tin của chúng ta giống như cái gì? Như Mẹ Maria, chúng ta có giữ cho đức tin này sáng ngay cả ở những lúc khó khăn, trong những lúc tăm tối hay chăng? Tôi có cảm thấy được niêm vui của đức tin hay chăng?

Hỡi Mẹ, tối hôm nay, chúng con cám ơn mẹ cho đức tin của chúng con, một đức tin của một người nữ mạnh mẽ và khiêm hạ; chúng con xin lập lại việc chúng con tín thác cho Mẹ, Mẹ của đức tin chúng con. Amen.  

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/francesco/speeches/2013/october/
documents/papa-francesco_20131012_preghiera-mariana_en.html

 

Sứ Điệp Truyền Hình cho Đêm Canh Thức và Cầu kinh Mân Côi ở Đền Đức Mẹ Tình Yêu Thần Linh Rôma: Ánh Mắt của Mẹ Maria

Anh Chị Em thân mến,

"Tôi chào tất cả anh chị em hành hương đang hiện diện ở Đền Thánh Tình Yêu Thần Linh này, cũng như tất cả những ai đang hợp với chúng ta từ các Đền Thánh Mẫu khác ở Lộ Đức, Nazarét, Lujan, Vailankanni, Guadalupe, Akita, Nairobi, Benneux, Czestochowa và Marian Valley.

Tối hôm nay tôi xin hiệp với toàn thể anh chị em để cầu Kinh Mân Côi và Chầu Thánh Thể dưới ánh mắt của Trinh Nữ Maria.

Ánh mắt của Mẹ Maria! Ánh mắt này quan trọng biết bao! Biết bao nhiêu là điều chúng ta có thể nói bằng một cái nhìn! Lòng cảm mến, niềm phấn khích, nỗi cảm thương, tình yêu, cũng có cả những gì là phật lòng, thèm muốn, kiêu hãnh và thậm chí ghen ghét. Một cái nhìn thường nói nhiều hơn là ngôn từ; nó nói những gì ngôn ngữ không nói hay không dám nói.

Trinh Nữ Maria nhìn đến những ai? Mẹ nhìn đến từng người và hết mọi người chúng ta. Và Mẹ nhìn chúng ta như thế nào? Mẹ nhìn chúng ta như là một Người Mẹ, một cách dịu dàng, xót thương và yêu thương. Đó là cách Mẹ đã nhìn Người Con Giêsu của Mẹ ở mọi giây phút trong cuộc đời của Người - vui, sáng, thương, mừng - như chúng ta chiêm ngắm ở các mầu nhiệm của Kinh Mân Côi Thánh, một cách chân thành và sủng ái.

Khi chúng ta mệt mỏi, chán chường, bận bịu, chúng ta hãy nhìn lên Mẹ Maria, chúng ta hãy cảm nhận ánh nhìn của Mẹ là những gì nói với lòng chúng ta rằng: "Con ơi, hãy can đảm lên, Mẹ ở đây để trợ giúp con mà!" Đức Mẹ biết rõ chúng ta, Người là một Người Mẹ, Người quen thuộc với các niềm vui cùng với những khó khăn của chúng ta, các niềm hy vọng và thất vọng của chúng ta. Khi chúng ta cảm thấy nặng mình bởi những sai phạm và tội lỗi của chúng ta, chúng ta hãy nhìn lên Mẹ Maria là Đấng nói với lòng của chúng ta rằng: "Con hãy chỗi dậy, đến với Người Con Giêsu của Mẹ; nơi Người con sẽ thấy ình được đón nhận, xót thương và sức mạnh mới cho cuộc hành trình của con".

Ánh mắt của Mẹ Maria không chỉ hướng đến chúng ta thôi. Ở dưới chân Thánh Giá, khi Chúa Giêsu trao phó cho Mẹ Tông Đồ Gioan, và qua ngài tất cả mọi người chúng ta, khi nói: "Hỡi bà, này là con của bà", thì ánh mắt của Mẹ maria gắn chặt vào Chúa Giêsu. Mẹ Maria nói với chúng ta những gì Mẹ đã nói ở tiệc cưới Cana: "Hãy làm những gì Người bảo làm". Mẹ Maria chỉ về Chúa Giêsu, Mẹ xin chúng ta làm chứng cho Chúa Giêsu, Mẹ liên tục dẫn chúng ta đến với Người Con Giêsu của Mẹ, vì chỉ ở nơi một mình Người chúng ta mới có ơn cứu độ. Chỉ có một mình Người mới có thể biến nước lã đơn côi của chúng ta, những khó khăn và tội lỗi của chúng ta thành rượu hội ngộ, hân hoan và tha thứ. Chỉ một mình Người mà thôi.

"Phúc cho em là người đã tin!" Mẹ Maria có phúc vì lòng tin của Mẹ nơi Thiên Chúa, vì đức tin của Mẹ, bởi ánh mắt của cõi lòng Mẹ luôn gắn chặt vào Thiên Chúa, vào Người Con của Thiên Chúa là Đấng Mẹ cưu mang trong bụng dạ của Mẹ và là Đấng Mẹ chiêm ngưỡng trên Thánh Giá. Trong việc tôn thờ Bí Tích Thánh, Mẹ Maria nói cùng chúng ta rằng: "Các con hãy nhìn Giêsu Con của Mẹ, hãy gắn mắt vào Người, hãy lắng nghe Người, hãy nói với Người. Người đang nhìn các con một cách yêu thương. Đừng sợ! Người sẽ dạy các con theo Người và làm chứng cho Người trong tất cả những gì các con làm, dù lớn hay nhỏ, trong gia đình của các con, ở sở làm, vào những lúc vui mừng. Người sẽ dạy các con thoát ra khỏi bản thân mình mà yêu thương nhìn đến những người khác, như Người đã thực hiện. Người đã yêu thương các con và đang yêu thương các con, không phải bằng lời nói mà bằng việc làm.

Ôi Mẹ Maria, xin cho chúng con cảm thấy được ánh mắt từ mẫu của Mẹ. Xin dẫn chúng con đến với Người Con của Mẹ. Chớ gì chúng con không phải là thành phần Kitô hữu 'làm cảnh - on display', mà là những Kitô hữu sẵn sàng "bẩn tay" để xây dựng, với Người Con Giêsu của Mẹ, Vương Quốc yêu thương, vui mừng và an hình của Người.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo

http://www.vatican.va/holy_father/francesco/speeches/2013/
october/documents/papa-francesco_20131012_preghiera-mariana_en.html

 

"Giáo Hoàng: Giáo Hội sẽ thay đổi ra sao"

                        Đức Thánh Cha Phanxicô đối thoại với một nhân vật bỏ đức tin Công Giáo nhưng chưa hoàn toàn vô thần

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

 

(tiếp và hết)  

46- Tôi cám ơn ngài về vấn nạn này. Câu trả lời đó là: tôi tin Sự Hữu (Being), tức là tin một thứ mô thể (the tissue) từ đó xuất phát ra các hình thể (forms), các cơ thể (bodies). 

Còn tôi thì tin Thiên Chúa, không phải là một Thiên Chúa Công Giáo, chẳng có thứ Thiên Chúa Công giáo... Có Thiên Chúa và tôi tin Chúa Giêsu Kitô, tin việc Ngài nhập thể. Chúa Giêsu là sư phụ của tôi và là mục tử của tôi, còn Thiên Chúa, Một Người Cha, Bố của tôi (Abba), là ánh sáng và là Đấng Hóa Công. Đó là Sự Hữu của tôi. Ông có nghĩ rằng chúng ta có xa cách nhau lắm hay chăng?"  

(Biệt chú của người dịch bản Việt ngữ: Ở đây và đến đây, chúng ta thấy ĐTC từ câu 45 bất ngờ đã bắt đầu thay đổi tình thế và trở thành nhân vật làm chủ tình thế. Ở chỗ, ngài đặt những câu hỏi rất quan trọng đối với nhân vật đã từng là một tín hữu Công giáo nhiệt thành, nhưng bị ảnh hưởng của triết gia toán học Descartes, dù không hoàn toàn trở thành vô thần – atheism, nhưng, căn cứ vào câu trả lời 46 trên đây của ông, ông cũng trở thành phiếm thần – pantheism theo Phong Trào Tân Thời – New Age Movement, như một kẻ chủ trương bất khả thần tri – gnosticism, thành phần đang thịnh hành ở Tây phương, nhất là ở Âu Châu được ĐTC Biển Đức XVI đặc biệt quan tâm, vị giáo hoàng thần học gia về Lời liên quan đến sự thật, đến đức tin và lý trí, đến luật tự nhiên và quyền tự do, như ngài đã nhiều lần bày tỏ, nhất là trong chuyến tông du Cuba 23-28/3/2012 và Đức quốc 22-25/9/2011: 1- Về sự thật: “Chúng ta đang chứng kiến thấy một tình trạng lạnh nhạt gia tăng đối với tôn giáo trong xã hội, một tình trạng coi vấn đề sự thật như là một cái gì đó trở ngại cho việc thực hiện quyết định, nên thay vào đó đặt ưu tiên cho những quan tâm có tính chất thực dụng” - Đáp từ nghênh đón ở Bellevue Castle, Berlin, Thứ Năm 22/9/2011; 2- Về thành phần bất khả thần tri: “Những người bất khả thần tri, thành phần liên lỉ quan tâm tới vấn đề về Thiên Chúa, những người mong muốn có được một con tim tinh tuyền nhưng chịu khổ vì tội lỗi của mình, thì gần với Nước Thiên Chúa hơn là những tín hữu có đời sống đức tin hình thức và là những người coi Giáo Hội như là một cơ cấu thuần túy, không để cho Giáo Hội chạm đến con tim của họ, hay để cho đức tin chạm đến con tim của họ” - Bài Giảng cho Thánh Lễ ở Touristic airport, Freiburg im Breisgau Chúa Nhật 25/9/2011).  

47- Chúng ta xa cách nhau ở việc nghĩ tưởng, nhưng giống nhau như là những con người, bị tác động một cách vô thức bởi các bản năng của chúng ta là những gì biến thành những thôi thúc, những cảm thức và ý muốn, tư tưởng và lý lẽ. Chúng ta giống nhau ở chỗ đó.  

"Thế nhưng ông có thể định nghĩa cái mà ông gọi là Sự Hữu được không?  

48- Sự Hữu là một cơ cấu của năng lực (a fabric of energy). Thứ năng lực hỗn độn nhưng bất hoại và là những hỗn tạp muôn đời. Những hình thể xuất phát từ năng lực này khi năng lực này tiến đến chỗ bùng phát. Những thứ hình thể ấy đều có định luật riêng của chúng, đều có những vùng từ trường của chúng (magnetic fields), những yếu tố hóa chất của chúng (chemical elements), những gì tụ hợp lại một cách ngẫu nhiên, tiến hóa rồi dần dần tàn rụi nhưng năng lực của chúng vẫn không bị tiêu hủy. Con người có lẽ là loài vật duy nhất có được ý nghĩ, ít là ở hành tinh và thái dương hệ của chúng ta đây. Tôi đã nói rằng họ bị thúc đẩy bởi các bản năng và ước muốn thế nhưng tôi xin nói thêm là họ cũng chất chứa nơi bản thân mình một thứ vang vọng, một thứ âm dội, một ơn gọi của hỗn loạn.  

"Thôi được rồi. Tôi không muốn ông cống hiến cho tôi một bản tổng lược triết lý của ông và những gì ông nói với tôi đã đủ cho tôi rồi. Theo quan điểm của tôi thì Thiên Chúa là ánh sáng chiếu soi tăm tối, cho dù ánh sáng này không làm tan biến đi bóng tối, và một tia của ánh sáng thần linh ở trong mỗi người chúng ta. Trong bức thư tôi viết cho ông (được người dịch Việt ngữ trích lại nguyên bản Anh ngữ ở ngay dưới bài phỏng vấn này để làm tài liệu), ông nhớ lại những gì tôi nói là những thứ hình thái (species) của chúng ta sẽ kết thúc nhưng ánh sáng của Thiên Chúa sẽ không cùng, và tới bấy giờ ánh sáng này sẽ bao chiếm tất cả mọi linh hồn và nó sẽ trở thành tất cả trong mọi người".  

49- Phải, tôi nhớ rõ lắm. Ngài nói rằng: "Toàn thể ánh sáng này sẽ ở trong tất cả mọi linh hồn", thứ ánh sáng - nếu tôi có thể nói thế - cống hiến một hình ảnh về nội tại tính (immanence) hơn là siêu việt tính (transcendence).  

"Siêu việt tính này tồn tại vì ánh sáng ấy, là tất cả trong mọi sự, siêu việt hơn vũ trụ và các hình thái nó ở trong vào giai đoạn ấy. Thế nhưng, trở về với hiện tại. Chúng ta đã thực hiện được một bước tiến trong cuộc đối thoại của chúng ta. Chúng ta đã quan sát thấy rằng trong xã hội và trên thế giới là nơi chúng ta đang sống tính vị kỷ đã gia tăng hơn là tình yêu thương người khác, và con người thiện tâm cần phải hoạt động, mỗi người theo sức lực và chuyên môn của mình, để làm sao cho tình yêu thương người khác gia tăng cho đến khi nó quân bình và có thể qua mặt tình yêu bản thân mình".  

50- Thế là chính trị lại nhập cuộc.  

"Đúng thế. Theo tôi, tôi nghĩ rằng cái được gọi là chủ nghĩa duy tự do thả lỏng chỉ khiến kẻ mạnh trở nên mạnh hơn và kẻ yếu thành yếu hơn, cùng loại trừ thành phần bị loại trừ nhất. Chúng ta cần có được tự do cao cả, không kỳ thị, không mị dân (demagoguery) và nhiều yêu thương. Chúng ta cần đến các qui luật tác hành, và nếu cần cũng cần đến cả việc can thiệp trực tiếp của nhà nước để chỉnh đốn lại những thứ quá chênh lệch bất khả chấp".  

51- Thưa Đức Thánh Cha, ngài thật là một con người có đức tin cao cả, được ân sủng tác động, được thúc đẩy bởi ước muốn hồi sinh một giáo hội mục vụ, một giáo hội truyền giáo cần được đổi mới và không trần tục. Thế nhưng, căn cứ vào cách thức ngài nói và theo những gì tôi hiểu thì ngài là và sẽ là một vị giáo hoàng cách mạng. Vừa là một tu sĩ Dòng tên, vừa là một con người của Thánh Phanxicô, một kết hợp có lẽ chưa bao giờ thấy trước đây. Thế rồi ngài thích "The Betrothed" của Manzoni, Holderlin, Leopardi và nhất là của Dostoevsky, cuốn phim "La Strada" và "Prova d'orchestra" của Fellini, "Open City" của Rossellini và cả cuốn phim của Aldo Fabrizi. 

"Tôi thích những cuốn phim ấy vì tôi đã xem chúng với cha mẹ của tôi khi tôi còn là một đức nhỏ".  

52- Ngài là thế đó. Xin cho tôi đề nghị 2 cuốn phim mới ra lò được không? "Viva la libertà" và những cuốn phim về Fellini của Ettore Scola. Tôi bảo đảm ngài sẽ thích chúng. Tôi nói, về vấn đề năng lực, ngài biết rằng khi tôi ở vào tuổi 20, tôi đã bỏ ra một tháng rưỡi trời cho một cuộc tĩnh tâm với các vị tu sĩ Dòng Tên hay chăng? Đảng Nazi bấy giờ đang ở Rôma và tôi đã đào ngủ khỏi việc phục vụ trong quân đội. Tội ấy đáng bị phạt bằng một án tử hình. Các tu sĩ Dòng Tên đã che giấu tôi với điều kiện là chúng tôi thực hiện một cuộc tĩnh tâm suốt thời gian họ giấu kín chúng tôi.  

"Thế nhưng phải chăng không thể nào chịu được một tháng rưỡi trời tĩnh tâm hay sao?" ngài đặt vấn nạn, tỏ ra ngỡ ngàng và lấy làm thích thú. Tôi sẽ nói cho ngài biết hơn nữa vào lần tới.  

Chúng tôi ôm lấy nhau. Chúng tôi bước lên bậc cầu thang ngắn để ra cửa. Tôi nói với Đức Giáo Hoàng rằng ngài không cần tiễn đưa tôi nhưng ngài ra hiệu gạt đi.  

"Chúng ta cũng sẽ bàn đến vai trò của nữ giới trong Giáo Hội. Hãy nhớ rằng Giáo Hội (la chiesa) là nữ giới".  

Và nếu ngài thích, chúng ta còn có thể nói về Pascal, tôi muốn biết ngài nghĩ gì về tâm hồn cao cả này.  

"Gửi đến toàn thể gia đình của ông phép lành của tôi nhé và xin họ cầu nguyện cho tôi với. Xin hãy nghĩ đến tôi, thường nghĩ đến tôi nghe".  

Chúng tôi bắt tay nhau và ngài đứng đó với 2 ngón tay giơ lên ban phép lành. Tôi vẫy tay chào ngài qua cửa sổ.  

Đó là Giáo Hoàng Phanxicô. Nếu Giáo Hội trở nên như ngài và trở nên những gì ngài muốn Giáo Hội là thì sẽ có một cuộc đổi đời.  

(xin xem bài Giáo Lý về Giáo Hội Tông Truyền của ĐTC Phanxicô ngày mai)

"Giáo Hoàng: Giáo Hội sẽ thay đổi ra sao"

                      Đức Thánh Cha Phanxicô đối thoại với một nhân vật bỏ đức tin Công Giáo nhưng chưa hoàn toàn vô thần

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

 

(tiếp theo)  

37- Kitô hữu các người giờ đây đã trở thành thiểu số. Ngay cả ở Ý quốc là nơi vốn được cho là khu sân sau của giáo hoàng. Thành phần Công Giáo sống đạo, theo một số thăm dò, thì ở vào giữa khoảng từ 8 đến 15 phần trăm. Những ai nói rằng họ là Công giáo thế nhưng thực sự là không, ở vào khoảng chừng độ 20%. Trên thế giới có một tỉ người Công giáo hay hơn, nếu cộng với các giáo hội Kitô khác con số lên trên một tỉ rưỡi, thế nhưng dân số trên hành tinh này là 6 hay 7 tỉ người. Chắc chắn là nhiều Kitô hữu trong các người, nhất là ở Phi Châu và Mỹ Châu Latinh, thế nhưng các người vẫn là một thiểu số.  

"Chúng tôi bao giờ cũng vậy, thế nhưng vấn đề ngày nay không phải là ở chỗ đó. Cá nhân tôi, tôi nghĩ rằng là một thiểu số thực sự là một sức mạnh. Chúng ta cần phải trở nên một thứ dậy men của đời sống và của tình yêu thương, và thứ dậy men này hoàn toàn nhỏ hơn là cả đống trái cây, bông hoa và cây cối là những gì được xuất phát từ nó. Tôi tin rằng tôi đã nói là đích điểm của chúng ta không phải là việc dụ giáo mà là lắng nghe các nhu cầu, các ước muốn và các thứ bất mãn, nỗi thất vọng, niềm hy vọng. Chúng ta cần phải phục hồi lại niềm hy vọng cho giới trẻ, giúp đỡ giới già, hướng về tương lai, truyền đạt tình yêu. Hãy trở nên nghèo khó trong thành phần nghèo khó. Chúng ta cần bao gồm cả thành phần bị loại trừ và rao giảng hòa bình. Công Đồng Chung Vatican II, được hứng khởi bởi Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Gioan, đã quyết định nhìn về tương lai bằng một tinh thần tân tiến và cởi mở trước nền văn hóa tân tiến. Các vị Nghị Phụ của Công Đồng này biết rằng vấn đề cởi mở với văn hóa tân tiến là ở chỗ nhắm đến vấn đề đại kết tôn giáo và đối thoại với thành phần vô tín ngưỡng. Thế nhưng, sau đó chiều hướng này lại rất ít được thực hiện. Tôi thì thấp kém mà lại tham vọng thực hiện một cái gì đó". 

38- Cũng vì xã hội tân tiến khắp thế giới, tôi tự động chen vào, đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng sâu xa, chẳng những về kinh tế mà còn về xã hội và tinh thần nữa. Mở đầu cho cuộc gặp gỡ của chúng ta ngài đã diễn tả một thế hệ bị đè bẹp dưới sức nặng của hiện tại. Ngay cả chúng tôi là thành phần vô tín ngưỡng cũng cảm thấy sức nặng hầu như về nhân văn này. Đó là lý do tại sao chúng tôi muốn đối thoại với thành phần tín hữu cũng như với những ai tiêu biểu nhất đại diện cho họ. 

"Tôi không biết tôi có phải là đệ nhất trong số những ai đại diện cho họ hay chăng, thế nhưng Đấng Quan Phòng đã đặt tôi làm đầu Giáo Hội và Giáo Phận của Thánh Phêrô. Tôi sẽ làm những gì tôi có thể để hoàn thành sứ vụ đã được ủy thác cho tôi". 

39- Chúa Giêsu, như ngài đã vạch ra, đã nói: Các con hãy yêu thương tha nhân như bản thân mình. Ngài có nghĩ rằng điều này đã xẩy ra hay chăng?

"Tiếc thay, chưa. Tính vị kỷ đã từng gia tăng và tình yêu thương những người khác đã bị tụt giảm". 

40- Vậy thì đó là đích điểm chung của chúng ta: ít là làm cân bằng cái cường độ của hai thứ tình yêu này. Giáo Hội của ngài có sẵn sàng và được trang bị để thực hiện cộng việc này hay chưa?  

"Ông nghĩ sao?" 

41- Tôi nghĩ vấn đề yêu thích quyền lực trần thế vẫn còn mãnh liệt ở bên trong các bức tường của Vatican cũng như nơi cấu trúc về tổ chức của toàn thể Giáo Hội. Tôi nghĩ rằng vấn đề về cơ cấu nổi nang hơn giới nghèo, hơn Giáo Hội truyền giáo mà ngài muốn thấy.

"Thật vậy, nó là như thế đó, và trong lãnh vực này thì ông không thể nào làm phép lạ được đâu. Xin cho tôi được nhắc nhở với ông rằng ngay cả Thánh Phanxicô vào thời điểm của ngài cũng đã phải thực hiện những cuộc thương thuyết lâu dài với hàng giáo phẩm Rôma và Giáo Hoàng để luật lệ của dòng ngài được chuẩn nhận. Dần dần thì ngài cũng được phê chuẩn thế nhưng với những thay đổi và dung hòa quan trọng".  

42- Thế ngài có theo đường lối ấy hay chăng?  

"Tôi không phải là Phanxicô Assisi và tôi không có sức mạnh và thánh đức của ngài. Thế nhưng tôi là vị Giám Mục ở Rôma và là Giáo Hoàng của thế giới Công Giáo. Việc đầu tiên tôi đã quyết định đó là chỉ định một nhóm 8 vị hồng y làm cố vấn của tôi. Không phải là thành phần nịnh thần mà là những người khôn ngoan mới thông cảm được những cảm giác của tôi. Đó là việc khởi đầu của một Giáo Hội với một tổ chức không chỉ từ trên xuống dưới mà còn theo hàng ngang nữa. Khi Đức Hồng Y Martini nói về việc tập trung vào các công đồng và thượng nghị thì ngài biết được là thời gian bao lâu và khó khăn ra sao nếu theo chiều hướng ấy. Mềm mỏng nhưng mạnh mẽ và kiên cường".  

43- Còn chính trị thì thế nào?  

"Tại sao ông lại hỏi tôi chứ? Tôi đã nói rằng Giáo Hội sẽ không xen vô chính trị mà.  

44- Thế nhưng mới mấy ngày trước đây ngài đã kêu gọi người Công giáo tham gia cả dân sự lẫn chính trị. (Biệt chú của người dịch Việt ngữ: ở đây nhân vật phỏng vấn ĐTC muốn nhắc đến bài ngài giảng trong thánh lễ ở Nhà Thánh Matta ngày 16/9/2013, xin xem lại ở cái link sau đây:  http://www.thoidiemmaria.net/TDM2013/GHHT/DTCPhanxico-NhungMauBanhVun.htm)  

"Tôi không chỉ ngỏ lời với những người Công giáo mà còn với tất cả mọi người thành tâm thiện chí. Tôi nói rằng chính trị là hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động về dân sự và có lãnh vực hành động riêng mà không phải là lãnh vực của tôn giáo. Các cơ cấu chính trị tự nó là trần thế và hoạt động ở những phạm vi độc lập. Tất cả các vị tiền nhiệm của tôi đã nói giống như nhau, ít là qua nhiều năm nay, bằng những giọng điệu khác nhau. Tôi tin rằng những người Công Giáo tham gia chính trị là thành phần cưu mang các thứ giá trị về tôn giáo của họ nơi mình, thế nhưng họ có một nhận thức trưởng thành và chuyên môn trong việc áp dụng chúng. Giáo Hội sẽ không bao giờ vượt ra ngoài công việc bày tỏ và gieo rắc các thứ giá trị của mình, ít là bao lâu tôi còn đây".  

45- Thế nhưng điều này không luôn xẩy ra với Giáo Hội.  

"Hầu như không bao giờ xẩy ra. Là một tổ chức Giáo Hội thường bị chi phối bởi chủ nghĩa thời gian tính (temporalism) và nhiều phần tử cùng với các vị lãnh đạo Công Giáo thâm niên vẫn cảm thấy như vậy. Thế nhưng bây giờ để tôi hỏi ông một vấn đề, đó là ông, một người đời không tin Thiên Chúa vậy thì ông tin gì? Ông là một nhà văn và là một nhà tư tưởng. Ông tin cái gì, ông cần phải có một thứ giá trị nổi bật nào đó chứ. Đừng trả lời tôi bằng chữ nghĩa như thành tín, kiếm tìm, nhãn quan về công ích, tất cả mọi nguyên tắc và giá trị quan trọng thế nhưng đó không phải là những gì tôi muốn hỏi. Tôi muốn hỏi ông rằng ông nghĩ yếu tính của thế giới này là gì, thật sự là của vũ trụ này. Dĩ nhiên là ông cần phải tự hỏi mình, như mọi người khác, chúng ta là ai, chúng ta từ đâu mà đến, chúng ta đang đi về đâu. Ngay cả trẻ em cũng đặt những vấn nạn này. Còn ông thì sao?

(còn tiếp một lần nữa)

 

Ngày Thánh Mẫu (13/10/2013) trong Năm Đức Tin

Năm Đức Tin (11/10/2012-24/11/2013) được cử hành với những biến cố đặc biệt trong năm. Chẳng hạn, về Chúa, có biến cố Chầu Thánh Thể khắp thế giới vào chiều (từ 5 đến 6 giờ địa phương) ngày Chúa Nhật 2/6/2013 đầu Tháng Thánh Tâm Chúa. Về Mẹ Maria có Ngày Thánh Mẫu, Chúa Nhật 13/10/2013, ngày kỷ niệm Mẹ Maria hiện ra ở Fatima lần cuối cùng trong 6 lần liên tục vào mỗi ngày 13 trong tháng từ tháng Năm.

Ngày Thánh Mẫu được bắt đầu từ chiều ngày áp, Thứ Bảy 12/10/2013. Biến cố này khởi sự khai diễn chính thức từ 5 giờ chiều, nhưng một tiếng trước đó đã có một cuộc cung nghinh Thánh Tượng Mẹ Fatima tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Tượng Mẹ Fatima này là bức tượng chính gốc vốn được tôn kính tại Đền Thánh Fatima và được chuyển bằng máy bay sang Vatican nhân dịp Ngày Thánh Mẫu này.

Trước bức tượng này, một bức tượng ở triều thiên có gắn viên đạn ám sát Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày 13/5/1981, chính vị giáo hoàng "totus tuus" Gioan Phaolô II, hiệp cùng với các vị giám mục trên khắp thế giới, ở Quảng trường Thánh Phêrô ngày 25/3/1984, đã hiến dâng chung thế giới và riêng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria theo đúng như ý muốn và cách thức Ngài muốn (như được Mẹ Maria cho Chị Lucia biết ngày 13/6/1929), nhờ đó Nước Nga quả thực đã trở lại bằng cách tự giải thể khỏi chủ nghĩa và chế độ cộng sản vào chính Lễ Giáng Sinh 25/12/1991.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã đích thân nghênh đón Tượng Mẹ Fatima ở cửa tiền đường Đền Thờ Thánh Phêrô, trước sự tham sự của cả trăm ngàn khách hành hương tham dự.

Sau lời ngỏ của Đức Tổng Giám Mục Rino Fisichella là chủ tịch của Hội Đồng Giáo Hoàng đặc trách Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa, Tượng Mẹ đã được đưa lên đài, và sau lời nguyện Thánh Mẫu, Đức Thánh Cha đã hướng dẫn một bài giáo lý Thánh Mẫu về đức tin của Mẹ Maria: "Mẹ Maria là người nữ đức tin, là một tín hữu thực sự. Thế nhưng, chúng ta đặt vấn đề là đức tin của Mẹ Maria như thế nào?...". (xin xem bài dịch 1 sau).

Sau đó, Tượng Mẹ Fatima được trực thăng chuyển từ Quảng Trường Thánh Phêrô đến Đền Thánh Đức Mẹ của Tình Yêu Thần Linh ở Rôma, để rồi vào lúc 7 giờ 30 tối, các Đền Thánh Mẫu lớn trên thế giới, như Đền Thánh Mẫu Fatima, Đền Thánh Mẫu Lộ Đức v.v. đã hiệp cùng Đền Thánh Mẫu này ở Rôma cầu Kinh Mân Côi và tham dự đêm canh thức "Cùng Mẹ Maria qua Đêm - With Mary beyond Night", một biến cố được kết thúc vào lúc rạng đông. Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi một sứ điệp truyền hình trước lúc cầu Kinh Mân Côi (xin xem bài dịch 2 sau).

Theo chương trình ấn định, vào lúc 10 giờ 30 sáng, trước Tượng Mẹ Fatima, Đức Thánh Cha Phanxicô đã dâng Thánh Lễ Chúa Nhật tại Quảng Trường Thánh Phêrô với trên 100 ngàn khách hành hương tham dự, và trong bài giảng, ngài đã nhấn mạnh đến 3 điểm chính: Thiên Chúa làm chúng ta ngạc nhiên, Ngài cần đến lòng trung thành của chúng ta và Ngài là sức mạnh của chúng ta, nhưng chính Mẹ Maria là Đấng giúp chúng ta hằng ngày "xin vâng" cùng Thiên Chúa (xin xem bài dịch 3 sau).

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tóm lược theo VIS 14/10/2013

 

 "Giáo Hoàng: Giáo Hội sẽ thay đổi ra sao"

Đức Thánh Cha Phanxicô đối thoại với một nhân vật bỏ đức tin Công Giáo nhưng chưa hoàn toàn vô thần

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

(tiếp)  

5- Thưa Đức Thánh Cha, phải chăng chỉ có một nhãn quan về Sự Thiện? Và ai là người ấn định nó là gì? 

"Mỗi người chúng ta đều có một quan điểm về sự lành và sự dữ. Chúng ta cần phải khuyến khích con người ta tiến về những gì họ nghĩ là Tốt Lành". 

6- Thưa Đức Thánh Cha, ngài đã viết điều đó trong thư ngài gửi cho tôi. Ngài đã nói rằng lương tâm là những gì tự lập (autonomous), và ai cũng cần phải tuân theo lương tâm của mình. Tôi nghĩ rằng đó là một trong những bước tiến can đảm nhất được một vị Giáo Hoàng thực hiện.  

"Tôi xin lập lại điều này ở đây. Hết mọi người đều có ý nghĩ riêng về lành và dữ và cần phải theo đuổi sự lành và chống trả sự dữ theo quan niệm của họ. Điều này đủ để làm cho thế giới này trở thành một nơi chốn tốt đẹp hơn".  

7- Giáo Hội có đang làm như thế hay chăng?  

"Có, đó là mục đích cho sứ vụ của chúng tôi: ở chỗ nhận ra các nhu cầu về thể chất cũng như phi thể chất của con người để cố gắng đáp ứng chúng bao nhiêu có thể. Ông có biết agape là gì không?" 

8- Vâng, tôi biết.  

"Đó là yêu thương người khác, như Chúa của chúng ta đã dạy. Nó không phải là việc dụ giáo mà là yêu thương. Tình yêu thương đối với tha nhân của mình, yếu tố làm nẩy sinh nên những gì giúp cho công ích.   

9- Yêu tha nhân như bản thân mình.  

"Đúng là như vậy". 

10- Theo giáo huấn của mình, Chúa Giêsu nói rằng agape, tình yêu thương người khác, là cách thức duy nhất để kính mến Thiên Chúa. Nếu tôi sai xin ngài sửa sai cho tôi.  

"Ông không sai. Con Thiên Chúa đã nhập thể nơi linh hồn của con người là để truyền đạt cảm thức huynh đệ. Tất cả đều là anh em và tất cả đều là con cái của Thiên Chúa. Abba, như Người đã thưa cùng Cha. Người đã nói rằng Thày sẽ tỏ cho các con thấy đường lối. Hãy theo Thày các con sẽ thấy Cha và tất cả các con sẽ là con cái của Ngài rồi Ngài sẽ hân hoan vui mừng trong các con. Agape, tình yêu thương của mỗi người chúng ta đối với người khác, từ người gần nhất cho đến người xa nhất, thật sự là đường lối duy nhất được Chúa Giêsu cống hiến cho chúng ta để tìm được con đường cứu độ và của các Phúc Đức (Beatitudes). 

11- Tuy nhiên, như chúng ta đã nói, Chúa Giêsu bảo chúng ta rằng tình yêu thương tha nhân của mình tương đương với những gì chúng ta giành cho bản thân mình. Vậy thì những gì mà nhiều người gọi là yêu bản thân mình (narcissism) được công nhận là có giá trị, tích cực, như tình yêu thương người khác. Chúng ta đã nói nhiều về khía cạnh này.  

Đức Giáo Hoàng nói: "Tôi không thích chữ yêu bản thân mình, vì nó bộc lộ một thứ yêu thương quá đáng giành cho bản thân mình và vì thế không tốt, nó có thể gây ra thiệt hại trầm trọng chẳng những cho linh hồn của những ai bị lây nhiễm mà còn cho cả ở nơi mối liên hệ với người khác nữa, với xã hội mà họ đang sống. Vấn đề thực sự trục trặc là ở chỗ những ai bị lây nhiễm bởi điều này - nó thực sự là một thứ lệch lạc về tâm thần - là thành phần có nhiều quyền lực. Thường những ai làm đầu là thành phần yêu bản thân mình.  

12- Nhiều vị lãnh đạo trong Giáo Hội đã từng là thành phần yêu bản thân mình.  

"Ông có biết tôi đang nghĩ gì về vấn đề này hay chăng? Những vị làm đầu của Giáo Hội đã thường là thành phần yêu bản thân mình (narcissists), được tâng bốc và xúc động trước nịnh thần (courtiers) của mình. Việc nịnh thần (the court) này là thứ đồ cùi hủi (leprosy)của chức vị giáo hoàng".  

13- Thứ đồ cùi hủi của chức vị giáo hoàng, đó là lời thực sự của ngài. Thế nhưng thứ nịnh thần này là gì? Có lẽ ngài ám chỉ đến tòa thánh chăng?  

"Không, đôi khi có các nịnh thần ở tòa thánh, thế nhưng tòa thánh nói chung là vấn đề khác. Nó là những gì ở trong quân đội được gọi là văn phòng sĩ quan hậu cần (the quartermaster's office), nó quản trị các dịch vụ giúp cho Tòa Thánh. Thế nhưng, nó có một nhược điểm, đó là Vatican chính yếu (Vatican-centric). Nó thấy và tìm kiếm ích lợi của Vatican là những gì hầu hết vẫn là những lợi ích trần gian. Quan điểm Vatican chính yếu này là những gì bỏ quên đi thế giới quanh chúng ta. Tôi không có cùng quan điểm này và tôi sẽ làm mọi sự có thể để thay đổi quan điểm ấy. Giáo Hội là hay phải trở về với tình trạng là một cộng đồng dân Chúa, và các linh mục, giám mục, có trách nhiệm chăm sóc các linh hồn, cần phải phục vụ Dân Chúa. Giáo Hội như thế vậy, một từ ngữ không có gì khác lạ với Tòa Thánh, nơi có phận vụ của riêng mình tuy quan trọng nhưng là để phục vụ Giáo Hội. Tôi sẽ không thể có trọn vẹn đức tin vào Thiên Chúa cũng như vào Con của Ngài nếu tôi không được giáo dục trong Giáo Hội, và nếu tôi không may mắn được ở Á Căn Đình, mà thiếu vắng cộng đồng này tôi đã không nhận thức được bản thân mình và đức tin của mình". 

14- Có phải là ngài đã được ơn kêu gọi còn còn trẻ?  

"Không, không trẻ lắm. Gia đình của tôi muốn tôi có một nghề khác, muốn tôi làm việc, kiếm được một chút tiền bạc. Tôi đã lên đại học. Tôi cũng có một vị thày là người tôi rất kính trọng và trở thành bạn hữu, cũng là một người công sản nhiệt thành. Bà thường đọc những tài liệu của Đảng Cộng Sản cho tôi nghe và đưa chúng cho tôi đọc. Bởi vậy mà tôi cũng biết được cính quan niệm duy vật ấy. Tôi nhớ rằng bà cũng trao cho tôi bản tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ bênh vực Rosenbergs, một cặp vợ chồng đã bị lên án tử. Người phụ nữ tôi đang nói đến sau đó đã bị giam nhốt, hành hình và sát hại bởi chính thể độc tài bấy giờ đang cai trị Á Căn Đình".

 15- Ngài đã bị Chủ Nghĩa Cộng Sản mê hoặc ở chỗ nào?  

"Chủ nghĩa duy vật của bà ta không chi phối nổi tôi. Thế nhưng biết về nó qua một con người can đảm và chân tình là những gì hữu ích. Tôi đã nhận thức được ít điều, một khía cạnh về xã hội mà rồi tôi đã thấy trong giáo huấn về xã hội của Giáo Hội".  

16- Thần học giải phóng, một thứ thần học đã bị Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyệt thông, đã lan rộng ở Mỹ Châu La Tinh.  

"Phải, nhiều phần tử của nó là người Á Căn đình". 

17- Ngài có nghĩ rằng Đức Giáo Hoàng cần phải chống lại họ hay chăng?  

"Chắc chắn là nó đã cống hiến một khía cạnh nào đó về chính trị cho khoa thần học của họ, thế nhưng nhiều người trong họ là những tín hữu và có một quan niệm khá về nhân bản". 

18- Thưa Đức Thánh Cha, tôi có thể nói với ngài mấy điều về quá khứ văn hóa của tôi chăng? Tôi đã được nuôi dưỡng bởi một người mẹ rất ư là Công giáo. Ở vào tuổi 12, tôi đã thắng một cuộc thi giáo lý được tất cả các giáo phận ở Rôma tổ chức và tôi đã được một giải của Tòa Giám Mục Rôma. Tôi rước lễ mỗi Thứ Sáu đầu tháng, nói cách khác, tôi là một người Công Giáo hành đạo và là một tín hữu thực sự. Thế nhưng, tất cả đã thay đổi khi tôi lên trung học. Trong các sách triết lý chúng tôi phải học, tôi đã đọc tác phẩm 'Discourse on Method - Bàn về Phương Thức' của Descartes và tôi đã bị tác động bởi một cụm từ mà giờ đây đã trở thành thần tượng, đó là 'tôi nghĩ tưởng nên tôi hiện hữu'. Như thế thì cá nhân đã trở thành nền tảng cho việc hiện hữu của nhân loại, đã trở thành vị thế của tư tưởng tự do.  

"Tuy nhiên, Descartes không bao giờ chối bỏ đức tin vào một vị Thiên Chúa siêu việt".  

19- Đúng thế, nhưng ông ta đã đặt nền tảng cho một thứ nhãn quan rất khác biệt và tôi đã chấp nhận theo đuổi con đường ấy, một con đường mà sau đó những gì tôi đọc cũng thích hợp như vậy nên đã đưa tôi đến một nơi khác hẳn.  

"Tuy nhiên, theo chỗ hiểu biết của tôi, thì ông là một người vô tín ngưỡng chứ không phải là một người chống giáo quyền (anti-clerical). Hai điều này là những gì rất khác nhau.  

20- Đúng, tôi không phải là người chống giáo hội, nhưng tôi trở thành như thế khi tôi gặp một người chủ trương duy giáo quyền (clericalist).  

Ngài mỉm cười và nói: "Tôi cũng thế khi tôi gặp một người chủ trương duy giáo quyền thì tôi đột nhiên trở nên chống giáo quyền. Chủ nghĩa chống giáo quyền (claricalism) không được phép có liên hệ gì với Kitô giáo. Thánh Phaolô, vị đầu tiên nói với Dân Ngoại, với những người vô đạo, nói với các tín đồ thuộc các tôn giáo khác, là người đầu tiên đã dạy chúng ta như thế".  

21- Thưa Đức Thánh Cha, tôi có thể hỏi ngài hay chăng những vị thánh nào ngài cảm thấy gần gủi nhất với linh hồn của ngài, những vị thánh đã ảnh hưởng đến cảm nghiệm đạo giáo của ngài?  

"Thánh Phaolô là người đã đặt nền tảng cho tôn giáo của chúng và niềm tin của chúng ta. Ông không thể là một Kitô hữu ý thức mà lại không có Thánh Phaolô. Ngài đã chuyển dịch giáo huấn của Chúa Kitô thành một cơ cấu tín lý, đến độ, ngay cả có những thêm thắt của vô vàn tư tưởng gia, thần học gia và các vị mục tử, vẫn kiên vững và còn tồn tại sau hai ngàn năm. Rồi có các Thánh Âu Quốc Tinh, Thánh Biển Đức, Thánh Thomas và Thánh Ignatius. Tất nhên là Thánh Phanxicô. Tôi có cần phải giải thích lý do tại sao hay chăng? 

Phanxicô - tôi muốn gọi ngài như thế vì chính bản thân vị Giáo Hoàng này đã đề nghị thế qua cách ngài nói năng, cách ngài mỉm cười, nơi những lần ngài lấy làm lạ lùng hô lên và hiểu được... - nhìn tôi như thế phấn khích tôi đặt ra những câu hỏi thậm chí gây hổ thẹn và làm lúng túng hơn nữa cho những ai đang dẫn dắt Giáo Hội. Vậy tôi hỏi ngài rằng: ngài đã giải thích tầm quan trọng của Thánh Phaolô và vai trò thánh nhận thực hiện, thế nhưng tôi muốn biết ai trong những vị được ngài liệt kê cảm thấy gần linh hồn ngài hơn? (22)  

"Ông đang yêu cầu tôi xếp hạng, thế nhưng những thứ phân loại là những gì giành cho các môn thể thao hay những thứ giống như thế. Tôi có thể nói với ông về tên tuổi của những cầu thủ túc cầu đệ nhất ở Á Căn Đình. Thế còn các vị thánh thì..."

23- Họ nói đùa cợt với bọn bất lương, ngài biết câu tục ngữ này?  

"Đúng thế. Nhưng tôi không muốn tránh né câu hỏi của ông, vì ông không yêu cầu tôi xếp hạng tầm quan trọng về văn hóa và tôn giáo của các vị mà là ai gần gũi nhất với tâm hồn của tôi. Vậy tôi có thể nói là Thánh Âu Quốc Tinh và Phanxicô.  

24- Không phải là Thánh Ignatiu, vị thành lập dòng mà ngài thuộc về hay sao?  

"Theo những lý do dễ hiểu thì Thánh Ignatius là vị thánh tôi biết hơn các vị khác. Ngài đã thành lập Hội Dòng của chúng tôi. Tôi xin nhắc ông rằng Đức Hồng Y Carlo Maria Martini cũng từ dòng này mà ra, một người rất thân thiết với tôi cũng như với ông. Các tu sĩ Dòng Tên đã và đang là yếu tố nẩy nở - không phải là yếu tố duy nhất nhưng có lẽ là yếu tố tác dụng nhất - của thế giới Công Giáo về văn hóa, giáo huấn, công cuộc truyền giáo, lòng trung thành với Đức Giáo Hoàng. Thế nhưng, Thánh Ignatius, vị sáng lập Hội Dòng này, cũng là một nhà cải cách và một thần bí gia. Nhất là một thần bí gia".  

25- Vậy ngài có nghĩ rằng các thần bí gia đã từng là thành phần quan trọng đối với Giáo Hội hay chăng?  

"Họ là thành phần chính yếu. Một tôn giáo không có các thần bí gia chỉ là một thứ triết lý". 

26- Ngài có ơn gọi thần bí hay chăng?  

"Ông nghĩ sao?" 

27- Tôi không nghĩ như thế.  

"Ông có lẽ đúng đấy. Tôi ái mộ các thần bí gia; Thánh Phanxicô cũng vậy ở nhiều khía cạnh trong đời sống của ngài, thế nhưng tôi không nghĩ là tôi có ơn gọi này, và vì thế chúng ta cần phải hiểu được ý nghĩa sâu xa của từ ngữ này. Con người thần bí làm sao để bản thân thoát khỏi hoạt động, khỏi các sự kiện, khỏi các mục tiêu và thậm chí khỏi cả sứ vụ mục vụ mà vươn lên cho tới chỗ hiệp thông với các Phúc Đức. Đó là những giây phút ngắn ngủi nhưng lại tràn đầy trọn cuộc sống".  

28- Điều ấy đã bao giờ xẩy ra cho ngài hay chưa?  

"Hiếm lắm. Chẳng hạn, vao lúc mật nghị hồng y bầu tôi làm Giáo Hoàng. Trước khi tôi chấp nhận tôi đã xin phép được giành ra ít phút trong căn phòng sát với bao lơn xin xuống quảng trường Thánh Phêrô. Dầu của tôi hoàn toàn trống rỗng và tôi đã bị bao chiếm bới một nỗi lo âu cả thể. Để tránh khỏi nỗi lo âu này và thư giãn tôi đã nhắm mắt lại và không nghĩ gì hết, thậm chí nghĩ đến việc từ chối chấp nhận trách vụ này, như tiến trình phụng vụ cho phép. Tôi đã nhắm mắt lại và tôi không còn bất cứ lo âu hay xúc động nào nữa. Bỗng chốc tôi cảm thấy mình tràn đầy một thứ ánh sáng rạng ngời. Nó kéo dài trong chốc lát nhưng đối với tôi nó dường như rất lâu. Thế rồi ánh sáng này mờ dần, tôi bật người dậy và tiến vào căn phòng là nơi các vị hồng y đang chờ tôi và trên bàn đặt sẵn nghi thức chấp thuận. Tôi đã ký vào đó, Đức Hồng Y xử lý cũng ký vào đó, rồi sau đó ở ngoài bao lơn có tiêng tuyên bố 'Habemus Papam - Chúng ta đã có giáo hoàng'".    

29- Chúng tôi thinh lặng một chút, rồi tôi nói: chúng ta đang nói về các vị thánh mà ngài cảm thấy gần gũi nhất với tâm hồn của ngài và chúng ta đã nói tới Thánh Âu Quốc Tinh. Ngài sẽ nói cho tôi biết lý do tại sao ngài cảm thấy rất gần gũi với thánh nhân  

"Ngay cả đối với vị tiền nhiệm của tôi thì Thánh Âu Quốc Tinh cũng là một điểm qui chiếu. Vị thánh này đã trải qua nhiều thăng trầm trong đời sống của mình và đã thay đổi chủ trương về tín lý của mình mấy lần. Thánh nhân cũng có những lời nói khó nghe đối với người Do Thái là những gì tôi không bao giờ đồng ý. Ngài đã viết nhiều sách và cuốn tôi nghĩ cho thấy cái thâm tâm tri thức và thiêng liêng của thánh nhân là cuốn 'Tự Thú', trong đó cũng cho thấy một số điều về thần bí, thế nhưng thánh nhân không phải, như nhiều người nghĩ, là một thứ tiếp nối của Thánh Phaolô. Thật vậy, thánh nhân thấy Giáo Hội và đức tin ở những cách thức rất khác với Thánh Phaolô, có lẽ vì khoảng cách 4 thế kỷ giữa vị này với vị kia".  

30- Thưa Đức Thánh Cha, đâu là điểm khác biệt?  

"Đối với tôi, nó nằm ở hai khía cạnh quan trọng. Thánh Âu Quốc Tinh cảm thấy bất lực trước tính chất bao la của Thiên Chúa cũng như trước những công việc mà một Kitô hữu và một vị giám mục cần phải hoàn thành. Thật vậy, ngài chắc chắn là không bất lực, thế nhưng ngài đã cảm thấy rằng linh hồn của mình bao giờ cũng kém cỏi hơn là ngài mong muốn và cần nó phải là. Vì vậy ân sủng do Chúa ban phát như là một yếu tố căn bản của đức tin. Của đời sống. Của ý nghĩa cuộc đời. Ai không được ân sủng tác động có thể là một người, như họ nói, không có khiếm khuyết và không biết sợ hãi, nhưng họ sẽ không bao giờ như một con người được ân sủng tác động. Đó là minh thức của Thánh Âu Quốc Tinh".  

31- Ngài có được ân sủng tác động hay chăng?  

"Không ai có thể biết điều này. Ân sủng không thuộc về nhận thức, nó là một thực chất ánh sáng trong linh hồn của chúng ta, không phải là kiến thức hay lý trí. Ngay cả lúc ông không nhận thức cũng có thể được ân sủng tác động. 

32- Dù không có đức tin hay sao? Dù không phải là một tín hữu hay sao?  

"Ân sủng liên quan đến linh hồn".  

33- Tôi không tin linh hồn.  

"Ông không tin linh hồn thế mà ông vẫn có linh hồn".  

34- Thưa Đức Thánh Cha, ngài đã nói rằng ngài không hế có ý muốn hoán cải tôi và tôi không nghĩ rằng ngài sẽ thành công đâu?  

"Chúng ta không thể nào biết được điều ấy, thế nhưng tôi không hề có ý định như thế".  

35- Còn Thánh Phanxicô thì sao?

"Thánh nhân là con người cao cả, vì ngài có hết mọi sự. Ngài là một con người muốn làm nhiều sự, muốn xây dựng, ngài đã lập một dòng tu cùng các lề uật của nó, ngài là một con người lưu động và là một nhà truyền giáo, một thi sĩ và là một vị tiên tri, ngài là một con người thần bí. Ngài thấy sự dữ trong con người của ngài và loại trừ nó. Ngài yêu chuộng thiên nhiên, thú vật, một mảng trên bãi cõ và chím bay trên trời. Thế nhưng, trên hết ngài yêu thương con người, trẻ em, người già, nữ giới. Ngài là một gương mẫu sáng chói nhất về tình yêu thương nhau là những gì chúng ta đã nói đến trước đây".


36- Đức Thánh Cha nói đúng, ngài đã diễn tả tuyệt vời. Thế nhưng tại sao không vị tiền nhiệm nào của ngài đã từng chọn danh hiệu này? Và tôi cũng tin rằng sau ngài sẽ không còn ai khác chọm danh hiệu ấy.

"Tôi không biết điều đó, chúng ta đừng suy đoán về tương lai. Đúng thế, không vị nào chọn danh hiệu này trước tôi. Ở đây chúng ta đụng đến một vấn đề của các vấn đề. Ông có dùng nước gì chăng?"  

Cám ơn ngài, có lẽ là một ly nước lạnh.  

Ngài đứng lên, mở cửa ra và xin ai đó ở lối vào mang đến cho 2 lý nước lã. Ngài hỏi tôi có uống cà phế chăng, tôi thưa không. Nước được mang đến. Vào lúc kết thúc cuộc nói chuyện của chúng tôi, ly nước của tôi hết sạch nhưng của ngài thì vẫn còn nguyên. Ngài thông giọng xong rồi bắt đầu nói tiếp.  

"Thánh Phanxicô muốn có một dòng hành khất và một dòng lưu động. Những nhà truyền giáo là thành phần muốn gặp gỡ, lắng nghe, giúp đỡ, truyền bá đức tin và tình yêu. Nhất là tình yêu. Và ngài đã mơ tưởng về một Giáo Hội nghè khổ biết chăm sóc người khác, lãnh nhận sự trợ giúp về vật chất và sử dụng vật chất để hỗ trợ người khác mà không quan tâm đến mình. Thế rồi từ dó tám trăm năm đã trôi qua và thời gian đã thay đổi, thế nhưng lý tưởng của một vị truyền giáo về một Giáo Hội nghèo vẫn còn giá trị hơn nữa. Đó vẫn là một Giáo Hội được Chúa Giêsu và các môn đệ của Người rao giảng".


(còn tiếp)

"Giáo Hoàng: Giáo Hội sẽ thay đổi ra sao"

                             Đức Thánh Cha Phanxicô đối thoại với một nhân vật bỏ đức tin Công Giáo nhưng chưa hoàn toàn vô thần

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

 

Dẫn nhập của người dịch Việt ngữ: 

Ông Eugenio Scalfari, sáng lập viên Nhật Báo La Repubblica hôm Thứ Ba 24/9/2013 đã gặp gỡ Đức Thánh Cha Phanxicô vào lúc 3 giờ chiều tại nơi cư ngụ của ngài là Nhà Thánh Matta, (như được chính ông ghi chú ngay trong bài ông viết về cuộc phỏng vấn này ở khoảng gần đầu của bài viết). Sau cuộc gặp gỡ ngoài dự tưởng của mình ấy, chính vì sáng lập tờ nhật báo nổi tiếng ở Ý quốc này đã thuật lại toàn bộ buổi gặp gỡ bất ngờ và hiếm quí ấy bằng tiếng Ý, bài viết đã được Kathryn Wallace dịch sang Anh ngữ và phổ biến ngày 1/10/2013 với tựa đề "Giáo Hoàng: Giáo Hội sẽ thay đổi ra sao" trên trang mạng điện tử của tờ nhật báo http://www.repubblica.it/cultura/2013/10/01/news/pope
_s_conversation_with_scalfari_english-67643118/
.
 

Đây là cuộc phỏng vấn thứ ba trong giáo triều mới hơn 6 tháng của Đức Thánh Cha Phanxicô, sau cuộc phỏng vấn với thành phần ký giả truyền thông trên chuyến bay từ Ba Tây về lại Rôma trong tháng 7/2013, và với linh mục ở Ý đại diện tập đoàn tạp chí Dòng Tên trên thế giới trong tháng 8/2013. Tuy nhiên, cuộc phỏng vấn lần thứ ba trong Tháng 9/2013 này hầu như hoàn toàn khác hẳn với 2 lần trước, vì nó có tính cách đối thoại với nhau về niềm tin và trao đổi với nhau về chung lãnh vực tôn giáo cũng như riêng hiện tình của Giáo Hội Công Giáo một cách tâm tình hơn là trịnh trọng hỏi thưa. Tất cả có 52 vấn đề (do người dịch tự thêm số vào từng chỗ cho rõ ràng) đã được hai bên trao đổi và chia sẻ chung riêng dài ngắn, thứ tự như sau (những chỗ được in đậm theo đúng nguyên bản).  

1- Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói với tôi rằng: "Sự dữ trầm trọng nhất trong các sự dữ đang gây khốn đốn cho thế giới trong những ngày này đó là nạn thất nghiệp của giới trẻ và tình trạng cô đơn của giới già. Giới già cần được chăm sóc và cảm thông; giới trẻ cần việc làm và niềm hy vọng nhưng chẳng có cả hai thứ này, và vấn đề ở đây là họ thậm chí không tìm kiếm hai thứ này nữa. Họ đã bị hiện tại chà đạp. Ông nói cho tôi biết đi: ông có thể sống quằn quại dưới sức nặng của hiện tại hay chăng? Mà lại thiếu hồi niệm về quá khứ và không mong nhìn về tương lai bằng việc xây dựng một cái gì đó, như một tương lai, một gia đình hay sao? Ông có thể tiếp tục sống như thế hay chăng? Đối với tôi, đó là vấn để khẩn trương nhất Giáo Hội đang phải đối diện".  

2- Tôi thưa Đức Thánh Cha rằng vấn đề này phần lớn là vấn đề về chính trị và kinh tế của các quốc gia, của các chính quyền, của các đảng phái chính trị, của các hiệp hội mậu dịch.  

"Ông nói đúng đấy thế nhưng nó cũng liên quan đến cả Giáo Hội nữa, thật vậy, đặc biệt đến cả Giáo Hội nữa, vì tình trạng này không gây tổn thương đến thân thể mà thôi còn đến hồn thiêng nữa. Giáo Hội cần phải cảm thấy mình có trách nhiệm đối với cả linh hồn lẫn thể xác".  

3- Thưa Đức Thánh Cha, Đức Thánh Cha nói rằng Giáo Hội cần phải cảm thấy có trách nhiệm. Như thế tôi có được kết luận rằng Giáo Hội không nhận thức thấy vấn đề này và vì thế Đức Thánh Cha mới phát động trách nhiệm theo chiều hướng ấy phải không?   

"Hầu như nhận thức đã có đó nhưng vẫn chưa đủ. Tôi muốn hơn thế nữa. Nó không phải chỉ là vấn đề chúng ta đang phải đương đầu mà là một vấn đề khẩn trương nhất và thảm thương nhất".
Cuộc gặp gỡ với Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã diễn ra hôm Thứ Ba tại nhà của ngài ở Nhà Thánh Matta, trong một căn phòng nhỏ trống trơn, với một cái bàn và 5-6 cái ghế, với một bức tranh trên tường. Cuộc phỏng vấn này theo sau cú điện thoại tôi sẽ không bao giờ quên được bao lâu tôi còn sống.  

Đó là vào lúc hơn 2 rưỡi chiều. Điện thoại của tôi reo lên và bằng một giọng run run, người thư ký của tôi nói với tôi rằng: "Tôi nhận được điện thoại của Đức Giáo Hoàng. Tôi sẽ chuyển ngài cho ông ngay đây".  

Đang còn bàng hoàng thì tôi đã nghe thấy tiếng của Đức Thánh Cha ở đầu giây bên kia: "Xin chào nhé, Giáo Hoàng Phanxicô đây". "Kính chào Đức Thánh Cha", tôi thưa lại rồi tiếp: "Tôi sửng sốt vì tôi đâu ngờ là ngài gọi cho tôi". "Tại sao lại quá ngỡ ngàng chứ? Ông đã viết cho tôi một bức thư yêu cầu gặp riêng tôi mà. Tôi cũng có ý muốn ấy, thế nên tôi gọi để làm hẹn với ông đây. Để tôi coi sổ nhé: Tôi không thể hẹn vào Thứ Tư hay Thứ Hai, Thứ Ba có tiện cho ông không? 

Tôi trả lời là được đấy 

"Thời điểm hơi kỳ đấy, 3 giờ chiều, ông có bằng lòng hay chăng? Bằng không tôi sẽ đổi sang ngày khác". "Kính thưa Đức Thánh Cha, thời điểm được đấy". "Vậy là chúng ta đồng ý nhé: Thứ Ba ngày 24 vào lúc 3 giờ chiều. Ở Nhà Thánh Matta. Ông cần phải đi vào qua cửa ở Sant'Uffizio nghe".  

Tôi không biết kết thúc cú điện thoại này ra sao và tự nhiên tôi nói rằng: "Tôi có thể ôm lấy ngài (embrace) qua điện thoại hay chăng?" "Được chứ, tôi cũng ôm ông nữa (hug). Rồi chúng ta sẽ làm thế khi gặp nhau, chào ông". 

Và này tôi đây. Đức Giáo Hoàng đã tiến đến bắt tay tôi, rồi chúng tôi ngồi xuống. Đức Giáo Hoàng mỉm cười mà nói: "Một số bạn hữu của tôi biết ông đã nói với tôi rằng ông sẽ hoán cải tôi". 

4- Tôi thưa ngài họ nói diễu đấy thôi. Bạn bè của tôi nghĩ rằng chính ngài mới là người muốn hoán cải tôi.  

Ngài lại mỉm cười và trả lời: "vấn đề dụ giáo (proselytism) thật sự là vô nghĩa, nó chẳng có nghĩa lý gì. Chúng ta cần hiểu biết nhau, lắng nghe nhau và cải tiến kiến thức của mình về thế giới chung quanh chúng ta. Đôi khi, sau một cuộc gặp gỡ, tôi lại muốn sắp xếp một cuộc gặp gỡ khác, vì có những tư tưởng mới nẩy sinh và tôi nhận thấy có những nhu cầu mới. Đó là điều quan trọng, ở chỗ tìm hiểu con người ta, lắng nghe, khai triển giòng tư tưởng. Thế giới này được móc nối ngang dọc với nhau bởi những đạo lộ đưa đến chỗ gần nhau hơn và rời xa nhau, thế nhưng điều quan trọng là ở chỗ chúng dẫn đến Sự Thiện".  

(còn tiếp)

Tôi tin Giáo Hội... Công Giáo

 

Xin chào Anh Chị Em thân mến sáng nay!

"Tôi tin Giáo Hội Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo..." Hôm nay, chúng ta dừng lại để suy niệm điều Chú Thích này về Giáo Hội, đó là tính chất công giáo của Giáo Hội. Công Giáo nghĩa là gì? Chữ này xuất phát từ tiếng Hy Lạp “kath’olon”, nghĩa là "theo như tất cả" ("according to all"), là toàn thể. Cái toàn thể này được áp dụng vào Giáo Hội ở chỗ nào? Chúng ta nói Giáo Hội Công Giáo có nghĩa là gì? Tôi xin nói là ở 3 điều chính yếu quan trọng.

1- Ý nghĩa thứ nhất. Giáo Hội Công Giáo vì Giáo Hội là một nơi, là ngôi nhà mà tất cả đức tin được công bố, nơi mà ơn cứu độ do Chúa Kitô thực hiện được cống hiến cho tất cả chúng ta. Giáo Hội làm cho chúng ta gặp gỡ tình thương của Thiên Chúa là những gì biến đổi chúng ta, vì Chúa Giêsu Kitô hiện diện nơi Giáo Hội, Đấng đã ban cho Giáo Hội việc thực sự tuyên xưng đức tin, trọn vẹn đời sống bí tích, tính chất chân thực của thừa tác vụ thánh chức. Mỗi một người trong chúng ta tìm thấy nơi Giáo Hội những gì cần để tin tưởng, để sống như thành phần Kitô hữu, để trở nên thánh thiện, để tiến bước ở mọi nơi và trong mọi lúc.

Lấy thí dụ, chúng ta có thể nói rằng nó giống như đời sống của một gia đình. Trong gia đình, mỗi một người chúng ta được ban cho tất cả những gì giúp chúng ta có thể gia tăng, trưởng thành, sống động. Chúng ta không thể tự mình gia tăng, chúng ta không thể tự mình tiến bước, tách biệt bản thân mình, nhưng chúng ta tiến bước và gia tăng trong một cộng đồng, trong một gia đình. Chúng ta có thể lắng nghe Lời Chúa trong Giáo Hội, tin rằng đó là sứ điệp được Chúa truyền đạt cho chúng ta. Trong Giáo Hội, chúng ta có thể gặp gỡ Chúa nơi các Bí Tích là những cánh cửa sổ mở ra cho ánh sáng của Thiên Chúa chiếu tới chúng ta, cho những thác nguồn mang chính sự sống của Thiên Chúa đến chúng ta. Nơi Giáo Hội, chúng ta biết làm sao để sống trong mối hiệp thông, trong tình yêu xuất phát từ Thiên Chúa. Hôm nay, mỗi người chúng ta có thể tự vấn xem: tôi đã sống ra sao trong Giáo Hội? Tôi đã lãnh nhận các tặng ân được Giáo Hội cống hiến cho tôi ra sao để gia tăng, để trưởng thành như thành phần Kitô hữu? Tôi có tham phần vào cộng đồng chăng, hay khép kín vào các vấn đề của tôi?

2- Ý nghĩa thứ hai, Giáo Hội Công Giáo vì Giáo Hội phổ quát; Giáo Hội làn rộng khắp thế giới và công bố Phúc Âm cho hết mọi con người nam nữ. Giáo Hội không phải là một thứ nhóm thế lực; Giáo Hội không chỉ liên quan đến một thiểu số nào đó. Giáo Hội không kép kín; Giáo Hội được sai đến với toàn thể mọi người và nhân loại. Và Giáo Hội duy nhất cũng hiện diện cả ở những phần thể bé mọn nhất của mình. Hết mọi người đều có thể nói rằng: Giáo Hội Công Giáo hiện diện nơi giáo xứ của tôi, vì giáo xứ của tôi thuộc về Giáo Hội hoàn vũ, nó cũng có trọn vẹn các tặng ân của Chúa Kitô như đức tin, các Bí Tích, thừa tác vụ. Nó được hiệp thông với Đức Giám Mục, với Đức Giáo Hoàng và hướng về tất cả mọi người không trừ ai. Giáo Hội không phải chỉ là cái bóng từ tháp chuông của chúng ta mà ôm ấp đông đảo dân chúng, thành phần tuyên xưng cùng một đức tin, thành phần được nuôi dưỡng bởi cùng một Thánh Thể, thành phần được phục vụ bởi cùng các vị Mục Tử. Chúng ta cảm thấy mình được hiệp thông với tất cả mọi Giáo Hội, với tất cả mọi cộng đồng Công Giáo lớn nhỏ trên thế giới! Thế rồi chúng ta cũng cảm thấy rằng tất cả chúng ta đều đang thi hành sứ vụ, ở những cộng đồng lớn nhỏ, tất cả chúng ta đều mở cửa ra để lên đường rao giảng Phúc Âm. Chúng ta hãy tự vấn xem: tôi đã làm gì để truyền đạt niềm vui gặp gỡ Chúa cho những người khác, niềm vui thuộc về Giáo Hội? Việc loan báo và làm chứng cho đức tin không liên quan đến một số ít, nó liên quan cả đến tôi, đến anh chị em, đến mỗi một người chúng ta!

3- Ý nghĩa thứ ba cũng là ý nghĩa cuối cùng: Giáo Hội Công Giáo vì Giáo Hội là "Ngôi Nhà hòa hợp", nơi sự hiệp nhất và đa dạng có thể hợp lại thành một nguồn phong phú. Chúng ta nghĩ đến hình ảnh của một dàn hòa tấu là những gì có tính chất hòa âm và hòa hợp, với những nhạc cụ khác nhau cùng vang tiếng; mỗi một nhạc cụ giữ được cái âm sắc chính xác của mình cùng với những đặc tính về âm thanh của mình hợp với một cái gì đó chung. Rồi còn có một người điều khiển, một vị nhạc trưởng, và trong cuộc hòa tấu được cùng nhau trình diễn cho thấy "sự hòa hợp" nhưng cái âm sắc của từng nhạc cụ, cái đặc thù của từng nhạc cụ vẫn không bị át mất, trái lại, nó vẫn giữ được tất cả giá trị của nó!

Đó là một hình ảnh cho chúng ta thấy rằng Giáo Hội giống như một cuộc đại hòa tấu trong đó có tính chất khác nhau, ở chỗ có tính chất khác nhau nơi những yếu tố nhưng vẫn không có gì là xung khắc, không có gì là chống chọi nhau. Đó là cái khác nhau ở trong mối hòa hợp của Thánh Linh; Ngài là Vị "Maestro - Sư Phụ" đích thực, chính Ngài là sự hòa hợp. Đến đây chúng ta tự vấn xem: chúng ta có sống hòa hợp nơi các cộng đồng của chúng ta hay chăng? Chúng ta có chấp nhận người khác, chúng ta có chấp nhận rằng có vấn đề khác biệt chính đáng hay chúng ta có khuynh hướng thực hiện hết mọi sự đồng nhất? Chúng ta hãy cầu xin cùng Thánh Linh để Ngài làm cho chúng ta trở nên "Công Giáo" hơn!  

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo Zenit http://www.zenit.org/en/articles/on-the-catholicity-of-the-church (những chỗ in nghiêng và mầu là do người dịch tự ý muốn nhấn mạnh) 

Phụ đề

Sinh Hoạt Giáo Hội

Theo VIS (Vatican Information Service) hôm 8/10/2013, thì Giáo Hội Hoàn Vũ sẽ có hai biến cố quan trọng: 

1- Ngày Thánh Mẫu trong Năm Đức Tin - Chúa Nhật 13/10/2013.

Vào lúc 5 giờ chiều Thứ Bảy 12/10/2013, ĐTC Phanxicô sẽ chủ tọa một buổi cầu nguyện ở Quảng trường Thánh Phêrô nhân Ngày Thánh Mẫu theo

chương trình ấn định của Năm Đức Tin. Tượng Mẹ Fatima nguyên thủy vốn ở Đền Thánh Fatima sẽ được mang sang Tòa Thánh Vatican vào dịp này.

Sáng Chúa Nhật, vào lúc 10 giờ 30 sáng, ĐTC sẽ chủ tế Thánh Lễ ở Quảng trường Thánh Phêrô.   

2- Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới ngoại lệ về Gia Đình 5-19/10/2014.

Văn Phòng Báo Chí của Tòa Thánh thông báo rằng ĐTC đã triệu tập một Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới ngoại lệ (và lần này là lần ngoại lệ thứ 3 từ

sau Công Đồng Chung Vatican trong lịch sử Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới). Chủ đề cho Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới ngoại lệ lần 3 này đã được

ấn định vào thời điểm 5-19/10/2014 này là "Những thách đố về mục vụ về gia đình liên quan đến việc truyền bá phúc âm hóa".

Sáng hôm nay, Thứ Năm 10/10/2013, cũng tại văn phòng báo chí Tòa Thánh, một tác phẩm tổng hợp 35 bài của ĐTC Phanxicô từ hồi ngài còn là hồng y

ở Á Căn Đình về đề tài gia đình và đời sống trong thời khoảng 1999-2013, do Viện đặc trách Hôn Nhân và Gia Đình của Giáo Hoàng Đại Học Viện ở Á

Căn Đình là "Santa Maria de los Buenos Aires" cung cấp cho Hội Dồng Tòa Thánh về Gia Đình để Hội Đồng này in ấn và phát hành. Trong tác phẩm này

cũng bao gồm cả những vấn đề đang sôi nổi tranh cãi như triệt sinh an tử và phá thai, ly dị và tái hôn.

4- Bài Giảng cho Thánh Lễ 11 giờ sáng ở Quảng Trường trước Đền Thờ Thánh Phanxicô Upper Basilica: Chứng từ của Thánh Phanxicô

"Con tạ ơn Cha là Chúa trời đất, vì Cha đã giấu những điều này với những kẻ khôn ngoan và hiểu biết mà lại tỏ ra cho những trẻ nhỏ" (Mt 11:25) 

Bình an và mọi sự lành cho mỗi và mọi người trong anh chị em! Bằng lời chào này của Thánh Phanxicô tôi xin cám ơn anh chị em vì tôi được ở nơi đây, tại Quảng Trường đầy lịch sử và đức tin này để cùng nhau cầu nguyện.

Hôm nay, như vô số khách hành hương khác, tôi cũng đến để tạ ơn Chúa Cha về tất cả những gì Ngài đã muốn mạc khải cho một trong thành phần "những kẻ bé mọn" được đề cập đến trong bài Phúc Âm hôm nay, đó là Phanxicô, người con trai của một thương gia giầu có ở Assisi. Cuộc hội ngộ của chàng với Chúa Giêsu đã khiến chàng tước lột bản thân mình khỏi một đời sống thảnh thơi an nhàn để kết hôn với "Nữ Lưu Nghèo Khó" và để sống là một người con đích thực của Cha trên trời. Quyết định này của Thánh Phanxicô là một đường lối quyết liệt theo gương Chúa Kitô, ở chỗ, ngài đã trở nên mới, mặc lấy Chúa Kitô, Đấng dù sang giầu đã trở nên nghèo khó để làm cho chúng ta nên giầu có nhờ cái nghèo khó của Người (cf 2Cor 8:9). Trong suốt cuộc đời của Thánh Phanxicô, như hai mặt của một đồng bạc cắc, lòng yêu thương người nghèo và việc noi gương bắt chước Chúa Kitô sống nghèo như Người là những gì liên kết với nhau bất khả phân ly.
 
Chứng từ của Thánh Phanxicô đã nói với chúng ta ngày nay là gì? Ngài đã nói với chúng ta những gì, không phải chỉ bằng lời nói - vốn là chuyện dễ - mà bằng đời sống của ngài?
 

1- Điều đầu tiên ngài nói với chúng ta thế này, đó là làm Kitô hữu nghĩa là sống mối liên hệ với bản thân của Chúa Giêsu; nghĩa là mặc lấy Chúa Kitô, là nên giống Người.  

Cuộc hành trình của Thánh Phanxicô tiến đến với Chúa Kitô đã được bắt đầu từ đâu? Nó được khởi đi từ ánh mắt của Chúa Giêsu tử giá. Bằng việc để cho Chúa Giêsu nhìn đến chúng ta vào chính lúc Người ban sự sống cho chúng ta và kéo chúng ta đến cùng Người. Thánh Phanxicô đã cảm nghiệm thấy điều ấy một cách đặc biệt ở Nhà Thờ Thánh Đamian khi ngài cầu nguyện trước cây thập tự giá mà tôi cũng có dịp để kính viếng. Trên cây thập giá, Chúa Giêsu được mô tả như thể không chết mà là còn sống! Máu đang tuôn ra từ đôi bàn tay, bàn chân và cạnh sườn thương tích của Người, thế nhưng lại là thứ máu nói năng sự sống. Đôi mắt của Chúa Giêsu không nhắm mà là mở, rộng mở: Người nhìn chúng ta như muốn đánh động tâm can của chúng ta. Cây thập tự giá này không nói với chúng ta về thua bại hay thất bại; trái lại, nó nói với chúng ta về cái chết là sự sống, một cái chết ban sự sống, vì nó nói với chúng ta về tình yêu, tình yêu của Thiên Chúa nhập thể, một tình yêu không chết nhưng chiến thắng sự dữ và sự chết. Khi chúng ta để Chúa Giêsu tử giá nhìn đến chúng ta là chúng ta được tái tạo, là chúng ta trở nên "một tạo vật mới". Từ đó mới đến mọi sự khác, như cảm nghiệm về ơn biến đổi, cảm nghiệm về mình được yêu thương không do công lênh của mình cho dù mình là tội nhân. Đó là lý do tại sao Thánh Phanxicô có thể cùng với Thánh Phaolô nói rằng "Phần tôi không còn vinh hiển nào khác ngoài thập giá của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta" (Gal 6:14).  

Hỡi Thánh Phanxicô, chúng con hướng về ngài và xin ngài hãy dạy chúng con ở trước thập giá, để Chúa Kitô tử giá nhìn đến chúng con, để chúng con được thứ tha và được tình yêu của Người tái tạo.

2- Trong bài Phúc Âm hôm nay chúng ta đã nghe thấy những lời này: "Hỡi tất cả những ai mệt mỏi và nặng gánh, hãy đến với Tôi, Tôi sẽ bổ sức cho các người. Hãy mang lấy ách của Tôi và hãy học cùng Tôi vì Tôi hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mt 11:28-29).

Đó là chứng từ thứ hai Thánh Phanxicô cống hiến cho chúng ta, ở chỗ, hết mọi người theo Chúa Kitô đều có được bình an đích thực, thứ bình an chỉ có một mình Chúa Kitô mới có thể ban cho, một thứ bình an thế gian không thể nào cống hiến. Nhiều người khi nghĩ về Thánh Phanxicô thì nghĩ về hòa bình; tuy nhiên rất ít người nghĩ xa hơn như thế. Đâu là thứ bình an Thánh Phanxicô có được, cảm nghiệm thấy và sống và là thứ bình an ngài muốn truyền đạt cho chúng ta? Đó là bình an của Chúa Kitô, xuất phát từ tình yêu cao cả nhất trong tất cả mọi tình yêu, thứ tình yêu của thập tự giá. Nó là thứ bình an Chúa Giêsu Phục Sinh đã ban cho các môn đệ khi Người hiện ra giữa các vị (cf Jn 20:19-20).

Bình an của Thánh Phanxicô không phải là một cái gì ngọt ngào. Nó khắc nghiệt lắm! Đó không phải là một Thánh Phanxicô thực sự! Nó không phải là một thứ hòa hợp với các năng lực của vũ trụ có tính chất phiếm thần... Đó cũng không phải là thứ bình an của Thánh Phanxicô nữa. Nó không phải của Thánh Phanxicô, mà chỉ là một quan niệm do một số người nào đó sáng chế ra thôi! Bình an của Thánh Phanxicô là bình an của Chúa Kitô, và nó được thấy ở nơi những ai "mang lấy ách" của họ là giới răn của Chúa Kitô, đó là yêu thương nhau như Thày yêu thương các con (cf Jn 13:34, 15:12). Cái ách này không thể gánh vác nổi bởi những gì là ngạo mạn, tự cao hay kiêu hãnh, mà bởi thái độ hiền lành và khiêm nhượng trong lòng.  

Hỡi Thánh Phanxicô, chúng con hướng về ngài và xin ngài hãy dạy chúng con biết trở thành "khí cụ bình an", của thứ bình an bắt nguồn từ Thiên Chúa, thứ bình an Chúa Giêsu đã ban cho chúng con.

3- Thánh Phanxicô đã mở đầu cho Bài Ca Tạo Vật bằng những lời như sau: "Tất cả mọi tạo vật chúc tụng Ngài là Đấng Tối Cao, là Thiên Chúa Toàn năng, là Chúa nhân lành" (FF, 1820). Tình yêu đối với tất cả mọi tạo vật, đối với sự hòa hợp của chúng. Thánh Phanxicô Assisi làm chứng cho nhu cầu cần phải tôn trọng tất cả những gì Thiên Chúa đã tạo dựng nên và như Ngài đã tạo dựng nên, chứ không khai thác và hủy hoại tạo vật; trái lại, phải giúp cho chúng tăng trưởng, giúp cho chúng trở nên mỹ miều hơn và trở nên như những gì Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng. Trên hết, Thánh Phanxicô làm chứng cho việc tôn trọng hết mọi người, ngài chứng thực rằng mỗi một người chúng ta được kêu gọi để bảo vệ tha nhân của mình, con người là tâm điểm của tạo vật, ở vị trí được Thiên Chúa là tạo hóa của chúng ta muốn đặt để chúng ta. Không phải nhờ ân huệ của những thứ ngẫu tượng được chúng ta đã tạo nên! Hòa hợp và bình an! Thánh Phanxicô là một con người của thái hòa và bình an. Từ Thành Phố Bình An này, với tất cả quyền lực và từ nhân của tình yêu, tôi xin lập lại rằng: Chúng ta hãy tôn trọng tạo vật, chúng ta đừng trở thành khí cụ hủy hoại! Chúng ta hãy tôn trọng từng con người. Chớ gì những thứ xung đột tràn đầy máu đổ trên mặt đất này chấm dứt đi; chớ gì việc va chạm vũ khí im hơi lặng tiếng; và ở khắp mọi nơi những gì là hận thù hãy nhường bước cho yêu thương, những gì là tổn thương hãy nhường bước cho cho tha thứ, và những gì là bất hòa hãy nhường bước cho hiệp nhất. Chúng ta hãy lắng nghe tiếng kêu gào của tất cả những ai đang khóc lóc, của những ai đang đau khổ và của những ai đang chết đi vì bạo động, khủng bố và chiến tranh, ở Thánh Địa là nơi rất thân thương với Thánh Phanxicô, ở Syria, ở khắp Trung Đông và ở hết mọi nơi trên thế giới.

Hỡi Thánh Phanxicô, chúng con hướng về ngài để xin ngài cầu cùng Chúa cho chúng con ơn thái hòa, bình an và biết tôn trọng tạo vật!

(2 đoạn ngắn cuối cùng chỉ liên quan đến Thánh Phanxicô là quan thày của Ý quốc và đến lời cầu nguyện kết thúc của Thánh Phanxicô). 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh ở cái link dưới đây

http://www.vatican.va/holy_father/francesco/homilies/2013/documents/papa-francesco_20131004_omelia-visita-assisi_en.html

Những chỗ in nghiêng mầu đỏ từ nguyên bản, còn những chỗ in nghiêng mầu xanh là do người dịch tự ý nhấn mạnh

Phần hai - ĐTC Phanxicô: Huấn Từ Viếng Thăm Assisi 4/10/2013

1- Nhận định về lời ngỏ của vị giám đốc Viện Seraphic: những thương tích của Chúa Kitô

(trích đoạn, những chỗ in nghiêng và đậm ở các trích đoạn do người dịch tự ý nhấn mạnh):

"Chúng ta đang ở giữa những thương tích của Chúa Kitô... những thương tích cần phải được ý thức... Nó nhắc nhở tôi về lúc Chúa Giêsu đi với hai người môn đệ sầu buồn. Cuối cùng, Chúa Giêsu đã tỏ cho họ thấy các thương tích của Người và họ đã nhận ra Người... Ở nơi đây Chúa Giêsu ẩn thân nơi những trẻ em này, nơi những con người kia... Họ cần được lắng nghe. Có lẽ không phải ở nơi các tờ nhật báo, như những bản tin: tức là ở một hình thức kéo dài một, hai, ba ngày, sau đó những tin khác tiếp theo, cứ thế... Họ cần được lắng nghe bởi những ai xưng mình là Kitô hữu".

"Thế nhưng, khi sống lại, Chúa Giêsu trở nên đẹp đẽ. Thân mình của Người không còn bầm dập, không còn thương tích... Chẳng còn gì hết! Người trở nên mỹ miều hơn! Thế nhưng, Người muốn duy trì các thương tích của Người và mang chúng về Trời. Các thương tích của Chúa Kitô đang ở nơi đây và đang ở trên Trời trước Chúa Cha".

2- Ngỏ lời cùng Đức Tổng Giám Mục Sorrentino: văn Hóa loại trừ và văn hóa đón nhận

"Cuộc viếng thăm của tôi trước hết là một cuộc hành hương yêu thương, để cầu nguyện ở mộ của một con người đã tược lột bản thân mình, khôi phục lại nó trong Chúa Kitô, và theo gương của Chúa Kitô, đã cống hiến tình yêu thương của mình cho tất cả mọi người, nhất là thành phần nghèo khổ nhất và bị bỏ rơi nhất; ngài đã yêu thương thiên nhiên tạo vật của Thiên Chúa một cách lạ lùng và đơn sơ chân thành. Đến Assisi đây, ở ngay cổng của thành phố này, chúng ta gặp một Viện được mang tên là 'Seraphim', danh xưng được ám chỉ về Thánh Phanxicô. Nó được thành lập bởi một đại tu sĩ Phanxicô là Chân Phước Ludovico of Casoria. Và nó được thực sự bắt đầu ở ngay nơi đây. Thánh Phanxicô đã nói trong chúc thư của mình rằng 'Chúa đã ban cho tôi là Người Anh Em Phanxicô bắt đầu thực hiện việc thống hối bằng cách thức ấy, ở chỗ, trong khi tôi sống trong tội lỗi mà dường như tôi lại cảm thấy rất khổ sở khi trông thấy những người phong cùi. Chính Chúa đã dẫn tôi đến giữa họ và tôi đã cảm thương họ'". 

"Tiếc thay, xã hội đang bị nhiễm lây một thứ văn hóa loại trừ (throwaway culture) hoàn toàn ngược lại với thứ văn hóa đón nhận (culture of welcome). Và thành phần nạn nhân của thứ văn hóa loại trừ này chính là thành phần yếu kém nhất, thành phần mỏng dòn nhất. Trái lại, ở nơi Ngôi Nhà này, tôi thấy một thứ văn hóa đón nhận đang xẩy ra... Xin cám ơn anh chị em về dấu hiệu yêu thương được anh chị em cống hiến đây: đó là một dấu hiệu của thứ văn minh chân thực, nhân bản và Kitô giáo! Khi đặt thành phần bất hạnh nhất này vào tâm điểm của mối quan tâm về xã hội và chính trị! Thay vào đó, có những lúc các gia đình thấy chính họ cần phải có trách nhiệm tự chăm sóc cho những nạn nhân ấy. Chúng ta có thể làm gì đây? Đây, nơi chúng ta thấy được tình yêu thương thực sự, tôi muốn nói cùng tất cả mọi người rằng: chúng ta hãy gia tăng hoạt động của thứ văn hóa đón nhận này, của những công việc được tác động trên hết bởi tình yêu thương sâu xa của Kitô giáo, tình yêu đối với Chúa Kitô Tử Giá, đối với xác thịt của Chúa Kitô, của những công việc liên kết tính chất chuyên nghiệp, thích đáng và công việc hưởng công chính đáng với công việc của thành phần tình nguyện viên, thành một kho tàng quí báu nhất".

"Việc phục vụ những ai đang cần trợ giúp nhất là việc giúp chúng ta có thể tăng trưởng về nhân bản, vì họ thực sự là nguồn lợi nhân bản. Thánh Phanxicô là một nam nhân trẻ giầu sang đầy những lý tưởng sáng lạn, thế nhưng, Chúa Giêsu, ở nơi bản thân của người cùi, đã nói với ngài trong âm thầm và đã biến đổi ngài, làm cho ngài hiểu được đâu là giá trị thực sự trong đời sống: không phải là giầu sang, không phải là sức mạnh của vũ khí, của vinh quang trần thế, mà là ở lòng khiêm tốn, ở tình xót thương, ở việc tha thứ".

3- Ngỏ lời ở căn phòng Thánh Phanxicô thoát y: tước lột bản thân khỏi tinh thần thế tục

Đức Thánh Cha đã nói buông khi bắt đầu nhắc lại rằng trong mấy ngày gần đây báo chí đã suy đoán về những gì ngài nói ở căn phòng này: "Đức Giáo Hoàng sẽ lột trần Giáo Hội ở đó! Ngài sẽ tước lột các vị giám mục, các vị hồng y, chính bản thân ngài!", và ngài đã nhận định rằng đây "là dịp tốt để kêu gọi Giáo Hội hãy tước lột bản thân mình. Thế nhưng tất cả chúng ta là Giáo Hội! Tất cả chúng ta! Từ giây phút lãnh nhận Phép Rửa của mình, tất cả chúng ta là Giáo Hội, và tất cả chúng ta cần phải theo đường lối của Chúa Giêsu, Đấng đã theo đường lối tước lột bản thân mình. Người đã trở nên một tôi tớ; Người đã tìm kiếm sự ô nhục cho đến chết trên Thập Tự Giá. Nếu chúng ta muốn làm Kitô hữu chúng ta không còn đường lối nào khác nữa".

"Thế nhưng, có người nói rằng chúng ta chẳng lẽ không thể theo đuổi một thứ Kitô giáo nhân bản hơn hay sao - ở chỗ không có Thập Giá, không có Chúa Giêsu, không có chuyện trần trụi bản thân mình? Như thế chúng ta mới trở nên những thứ Kitô hữu hiệu bánh ngọt, như những bánh ngọt mỹ miều, tuyệt ngọt. Hay lắm, nhưng không phải là Kitô hữu thật! Một số người có thể nói rằng: 'thế nhưng Giáo Hội cần phải tước lột bản thân mình về những gì?' Ngày nay, Giáo Hội cần phải loại trừ một thứ trọng tội đang đe dọa hết mọi phần tử của Giáo Hội, đang đe dọa tất cả chúng ta, đó là cái nguy hiểm của tinh thần thế tục. Kitô hữu không thể đồng hành với tinh thần thế tục. Tinh thần thế tục dẫn chúng ta tới những gì là phù du, tự cao tự đại, tự kiêu. Đó là một thứ ngẫu tượng, không phải Thiên Chúa! Mà ngẫu tượng là thứ tội trầm trọng nhất trong tất cả mọi thứ tội".

"Khi giới truyền thông nói về Giáo Hội, thì họ cho rằng Giáo Hội nghĩa là các linh mục, các nữ tu, các giám mục, các hồng y và Giáo Hoàng. Thế nhưng, tất cả chúng ta là Giáo Hội, như tôi đã nói. Và tất cả chúng ta cần phải loại trừ tinh thần thế tục này, thứ tinh thần phản lại với các mối phúc thật, thứ tinh thần ngược lại với tinh thần của Chúa Giêsu. Tinh thần thế tục là những gì tác hại chúng ta. Thật là buồn khi gặp một Kitô hữu trần tục, một con người tự tin về cái an toàn được đức tin cống hiến cho họ, và cũng tin tưởng cái an toàn thế gian cống hiến cho họ. Anh chị em không thể bắt cá hai tay. Giáo Hội - tức là tất cả chúng ta - cần phải loại trừ tinh thần thế tục là những gì dẫn chúng ta đến sự phù du và kiêu hãnh cả hai đều là ngẫu tượng".

"Chính Chúa Giêsu đã nói: 'Không ai có thể làm tôi hai chủ. Các người có thể ghét chủ này mà thích chủ kia, hay các người sẽ tôn sùng chủ này mà khinh chủ nọ. Các người không thể phụng sự cả Thiên Chúa lẫn tiền bạc'. Nói đến tiền bạc là Người bao gồm tất cả tinh thần thế tục là tiền bạc, phù du, kiêu hãnh, đường lối chúng ta không thể theo đuổi... thật là buồn khi tay này xóa đi những gì chúng ta viết bằng tay kia. Phúc Âm là Phúc Âm! Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, và Chúa Giêsu đã trở nên một người tôi tớ cho chúng ta, và tinh thần của thế gian không dính dáng gì tới điều này".

"Hôm nay đây, nhiều anh chị em đã bị tước lột bởi thế giới hoang dại này, một thế giới không cung cấp việc làm cho anh chị em, một thế giới không ra tay trợ giúp; bất kể là trẻ em chết đói trên thế giới này; bất kể nhiều gia đình không có gì ăn, và không đủ nhân phẩm để có thể sinh nhai kiếm sống; bất kể nhiều người bị buộc phải thoát thân khỏi cảnh nô lệ và đói khổ, thoát thân để tìm kiếm tự do. Trái lại, chúng ta cảm thấy rất buồn rất nhiều lần khi thấy họ lại đụng đầu với chết chóc, như xẩy ra hôm qua, ở Lampedusa: hôm nay là một ngày buồn thương. Đó là những gì tinh thần thế tục thực hiện. Thật là hết sức buồn cười khi một Kitô hữu - một Kitô hữu đích thực, một linh mục, một nữ tu, một giám mục, một hồng y, một Giáo Hoàng lại muốn theo đuổi đường lối của tinh thần thế tục là một đường lối tự sát. Tinh thần thế tục là tinh thần sát hại! Nó sát hại con người! Nó sát hại Giáo Hội!"

"Khi Thánh Phanxicô tước lột bản thân mình thì ngài mới chỉ là một đứa con trai còn trẻ, ngài không đủ sức mạnh để thực hiện một cử chỉ như thế. Chính sức mạnh của Thiên Chúa đã thúc đẩy ngài làm như thế, sức mạnh của Thiên Chúa là Đấng muốn nhắc nhở chúng ta về những gì Chúa Giêsu đã nói với chúng ta về tinh thần của thế gian này, một thế gian mà Chúa Giêsu đã van xin Cha của Người để Cha có thể cứu chúng ta khỏi tinh thần thế tục".

"Hôm nay, chúng ta xin ơn Chúa cho tất cả mọi Kitô hữu. Chớ gì Chúa ban cho tất cả chúng ta lòng can đảm để tước lột bản thân chúng ta, không phải chỉ những gì nhỏ mọn mà tinh thần thế tục là thứ phong hủi, là thứ ung thư của xã hội chúng ta! Nó là thứ ung thư đối với mạc khải của Thiên Chúa. Tinh thần thế tục là kẻ thù của Chúa Giêsu! Tôi xin Chúa ơn tước lột chúng ta khỏi tinh thần thế tục này".

"Hãy cầu nguyện cho tôi; tôi cần lời cầu nguyện của anh chị em".

(còn tiếp)

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tuyển hợp và chuyển dịch phần huấn từ theo VIS (Vatican Information Service) ngày Thứ Sáu 4 và 5/10/2013.

Đức Thánh Cha Phanxicô viếng thăm Assisi nhân Lễ Thánh Phanxicô Khó Khăn 4/10/2013

ĐTCPhanxicô, cùng với 8 vị hồng y trong Hội Đồng Hồng Y vừa hoàn tất cuộc họp đầu tiên với ngài chiều hôm trước, đã đến Assisi bằng trực thăng sớm 15 phút trước giờ ấn định là 7 giờ 30 sáng. Trực thăng hạ cánh xuống cánh đồng thể thao của Seraphic Institute of Assisi. Ở đó, ngài đã chào một nhóm bệnh nhân và trẻ em khuyết tật. Ngài đã được cả giáo quyền lẫn chính quyền nghênh đón, trong đó có Đức TGM Domenico Sorrentino, và chủ tịch Quốc Hội Ý quốc Pietro Grasso. Ngài đã bày tỏ nhận định về lời chào mừng của vị giám đốc Viện Seraphic là Francesca Maiolo rất ý vị (xin đọc lời ngài sau - 1), rồi ngỏ lời rất hay cùng Vị Bản Quyền địa phương Assisi-Nocera Umbra-Gualdo Tadino là Đức TGM Domenico Sorrentino (xin đọc lời ngài sau - 2).

Sau đó, ngài đến Nhà Thờ Thánh Đamian để cầu nguyện một chút. Nhà Thờ này là nơi vào năm 1205, trong khi cầu nguyện trước cây Thánh Giá, chàng Phanxicô bấy giờ đã nghe thấy Chúa Giêsu xin anh ta sửa sang lại nhà của Người. Cũng ở tại địa điểm ấy, chàng Phanxicô về sau đã sáng tác "Bài Ca Tạo Vật". Cầu nguyện xong, Đức Thánh Cha đến tư dinh của vị giám mục địa phương, đến căn phòng chàng Phanxicô đã tự cởi bỏ toàn bộ quần áo của mình để trả lại tất cả những gì thuộc về trần gian cho dù là nhu cầu căn bản cần thiết nhất của mình cho người bố giầu sang của chàng là ông Pietro Bernardone, bởi bố của chàng vì quá tức với hành động đột nhiên phá ngang của chàng đã kiện chàng, và chàng đã khiếu nại với Đức Giám Mục Guido hồi ấy, vị giám mục đã lấy phải áo choàng của mình để bao phủ lấy tấm thân hoàn toàn trần truồng của chàng bấy giờ. Tại căn phòng lịch sử này, ngài là vị giáo hoàng đầu tiên đã đến viếng thăm, sau những lời của vị bản quyền địa phương, đã nói những lời rất thấn thía (xin đọc lời ngài sau - 4).

Rời dinh giám mục, Đức Thánh Cha tiến đến Nhà Thờ St Mary Major, từ đó ngài được xe chở đến Upper Basilica, nơi ngài được đại diện chính quyền và hàng giáo sĩ chào mừng, rồi ngài vào viếng thăm và cầu nguyện nơi ngôi mộ của Thánh Phanxicô. Tiếp theo là ngài cử hành Thánh Lễ vào lúc 11 giờ sáng ở trước Đền Thờ này, với một bài giảng thật là tuyệt vời (xin đọc lời ngài sau - 5).

Sau bữa trưa ở cơ quan Caritas, ngài đến viếng thăm Hermitage of the Carceri là các nhà tù ở Mount Subasio cao trên mực nước biển 800 mét và chung quanh là rừng, cách Assisi 5 cây số. Ở đó, ngài viếng thăm cái hang động là nơi Thánh Phanxicô ẩn thân chiêm niệm, và nguyện đường nhỏ bé được hiến dâng cho Thánh Maria, nơi thánh nhân cùng đồng bạn qui tụ lại nguyện cầu. Sau nửa tiếng được đón tiếp bởi cộng đồng tu sĩ và cầu nguyện, ngài được xe chở về vương cung thánh đường Thánh Rufino để gặp gỡ hàng giáo sĩ, tu sĩ và các phần tử thuộc hội đồng mục vụ trong giáo phận. Trong vương cung thánh đường này, vẫn còn bể rửa tội của Thánh Phanxicô và Thánh Clara. Trong bài huấn từ của mình, ngài đã nhấn mạnh đến vấn đề "cùng nhau tiến bước" liên quan đến công đồng của giáo phận sắp sửa diễn ra (xin đọc lời ngài sau- 6).

Sau 4 giờ 15 chiều một chút, Đức Thánh Cha đến Đền Thờ Thánh Clara là nơi có đan viện của các nữ đan sĩ do Thánh Nữ Clara là bạn của Thánh Phanxicô thành lập. Ngài đã xuống hầm mộ để viếng xác của vị thánh, sau đó, trong nguyện đường ca đoàn, ngài đã cầu nguyện trướccây Thánh Giá của Thánh Đamian là cây Thánh Giá theo truyền thống đã nói với Thánh Phanxicô về sứ vụ sửa sang nhà của Người. Tại nguyện đường này, có 8 vị hồng y hiện diện, ngài đã nói buông với các nữ đan sĩ ở đây (xin đọc lời ngài sau - 7).

Vào lúc 5 giờ 30 chiều, sau khi băng qua quảng trường Đền Thờ Thánh Maria Các Thiên Thần và chào giới trẻ đang đợi chờ mình, Đức Thánh Cha đã tiến vào Đền Thờ này. Và sau khi cầu nguyện một chút ở Porziuncola, vào lúc 6 giờ 15 ngài đã gặp giới trẻ trước Đền Thờ và trả lời 4 câu hỏi về gia đình, việc làm, ơn gọi và sứ vụ được 8 thanh niên nam nữ đại diện cho 8 giáo phận của miền Umbria.

Cuối cùng, ngài được xe chở đến Đền Thánh Rivotorto, được tiếp đón vào lúc 7 giờ tối bởi cộng đồng tu sĩ ở đấy. Ngài đã viếng thăm "Tugurio" (túp lều) của Thánh Phanxicô và sau những lời từ biệt với các vị thẩm quyền nghênh đón ngài vào ban sáng, ngài đã rời cánh đồng thể thao Rivotorto vào lúc 7 giờ 30 tối, đùng 12 tiếng ở Assisi, bằng trực thăng mà trở về Vatican.  

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, tổng hợp phần tin tức về lịch trình thăm viếng theo VIS (Vatican Information Service) ngày Thứ Sáu 4 và 5/10/2013.

 

 

- dongcong.net November 2, 2013

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)