Suy Niệm
Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần XII Thường Niên hôm nay vẫn tiếp tục Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu được Thánh ký Mathêu (7:6,12-14) ghi lại 3 nguyên tắc sống khôn ngoan sau đây:
Nguyên tắc thứ nhất: "Đừng lấy của thánh mà đem cho chó, và đừng vất ngọc trai trước mặt loài heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé các con".
Tại sao vậy? Tại vì chó hay heo là loài thú vật chẳng biết giá trị của những gì loài người vốn trân quí. Bởi thế, "lấy của thánh mà đem cho chó, và vất ngọc trai trước mặt loài heo" là một hành động hoàn toàn ngu xuẩn, phí của và vô ích, thậm chí còn nguy hiểm đến bản thân nữa là đàng khác, ở chỗ chúng cứ tưởng là chúng bị tấn công bằng các viên ngọc trai chẳng khác gì những cục đá vậy, nên chúng có thể "quay lại cắn xé các con".
Ở đây, nếu chú ý chúng ta thấy được hai con thú tiêu biểu được Chúa Giêsu sử dụng trong bài Phúc Âm, đó là con chó và con heo: "chó" có vẻ tinh khôn hơn nên liên quan đến "của thánh" linh thiêng và đến động từ "cho" có vẻ trân trọng chứ không phải là động từ "quẳng" có vẻ khinh bỉ; còn "heo" có vẻ xác thịt hơn nên liên quan đến "ngọc trai" là những gì thuần vật chất và đến động từ "quẳng".
Nhưng dù tinh khôn như "chó" cũng chẳng biết "của thánh" là gì, cũng chẳng nhờ đó mà được linh thiêng hơn, và cho dù xác thịt như "heo" cũng chẳng cần trang điểm bằng "ngọc trai" cho đẹp hơn và hãnh diện hơn. Phải chăng ở đây Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ rằng giáo huấn của Người là những gì "thánh hảo" vô giá và quí báu hơn cả vàng bạc và "ngọc trai", được ban cho các vị để các vị mặc lấy và trang sức cho xứng với vai trò là môn đệ của Người?
Nguyên tắc thứ hai: "Vậy tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế! Đấy là điều mà lề luật và các tiên tri dạy".
Nguyên tắc thứ hai này là nguyên tắc "tri kỷ tri bỉ - biết mình biết người", có vẻ tích cực hơn nguyên tắc của Khổng giáo: "đừng làm cho người khác những gì mình không muốn họ làm cho mình".
Nguyên tắc thứ hai này thường được gọi là luật vàng - golden rule, vì nó chất chứa trong tất cả "lề luật và các tiên tri dạy", vì nó phản ảnh giới luật bác ái "yêu người như thể thương thân - ái nhân như kỷ": yêu nhau như bản thân mình.
Nguyên tắc này thật sự là "của thánh", là viên "ngọc trai" quí báu đối với những ai kính sợ Chúa, nhưng lại là những gì quái gở đối với những kẻ gian ác bất chấp thủ đoạn trong mưu đồ thỏa mãn ý riêng và đam mê nhục dục của họ, dù giá phải trả cho những gì họ muốn chiếm đoạt chính là tha nhân.
Nguyên tắc thứ ba: "Các con hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy; cửa và đường đưa tới sự sống thì chật hẹp, và ít kẻ tìm thấy".
Đúng thế, muốn sống nguyên tắc thứ hai là yêu nhau như chính bản thân mình, con người cần phải bỏ mình đi, thậm chí cần phải coi người khác hơn mình. Như vậy thì chẳng khác nào con người cần phải áp dụng nguyên tắc thứ ba là "vào qua cửa hẹp", hoàn toàn đi ngược chiều với đa số phàm nhân luôn coi mình hơn tha nhân, không bao giờ chịu thua thiệt, nếu bị thua thiệt thì tìm cách triệt hạ đối phương hay lấy lại.
Cảm Nghiệm
Là Kitô hữu, có nhiều lúc chúng ta đã sống như dân ngoại, chẳng coi "của thánh" ra sao, đã từng làm mất thánh sủng, mất ơn nghĩa Chúa bằng những tội trọng. Chúng ta đã tác hành như "Sennakêrib, vua dân Assyria" trong Bài Đọc 1 hôm nay, vị vua đã cao ngạo đến độ ngông cuồng không coi Thiên Chúa ra gì khi muốn tấn công chiếm phá thành Giêrusalem là giáo đô Do Thái giáo và đền thờ Giêrusalem là nơi Chúa ngự.
"Các ngươi hãy nói với Êdêkia, vua Giuđa như thế này: 'Chớ để Thiên Chúa, mà vua tin cậy, mê hoặc vua nghĩ rằng: Thành Giêrusalem sẽ không bị lọt vào tay vua dân Assyria. Vì chưng chính đức vua đã nghe biết những gì các vua Assyria đã làm khắp mọi nơi, đã tàn phá các nơi đó thế nào. Có lẽ nào một mình vua sẽ thoát khỏi?'".
Thật vậy, như lời Chúa Giêsu dạy trong bài Phúc Âm hôm nay là "Đừng lấy của thánh mà đem cho chó, và đừng vất ngọc trai trước mặt loài heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé các con", Thiên Chúa đã không để cho Thành Thánh và Đền Thánh của dân Do Thái cũng là của Ngài lọt vào tay những con người vô thần không có đức tin, kẻo bị họ chà đạp và hủy hoại một cách bất xứng, nhất là được chính vị vua Giuđa thuộc giòng dõi Đavít đương kim bấy giờ tỏ lòng tin tưởng vào Ngài qua lời cầu nguyện trong đền thờ là nơi vị vua này rất trân quí như sau:
"Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel, Ðấng ngự trên các Vệ Binh thần, chỉ một mình Chúa là Thiên Chúa các vua trên mặt đất, Chúa đã dựng nên trời đất, xin lắng tai nghe; lạy Chúa, xin mở mắt nhìn xem. Chúa hãy nghe các lời vua Sennakêrib đã gửi đến, để lăng mạ Chúa hằng sống của chúng con. Lạy Chúa, quả thật các vua dân Assyria đã huỷ diệt các dân và đất đai chúng, đã vất các tượng thần của chúng vào lửa: vì các tượng thần đó không phải là Chúa, song là sản phẩm bằng gỗ đá do tay người phàm làm ra, nên bị họ huỷ diệt. Vậy giờ đây, lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, xin cứu chúng con khỏi tay vua Sennakêrib, để mọi vương quốc hoàn cầu biết rằng: chỉ có mình Chúa là Thiên Chúa".
Đúng thế, lịch sử đã hiển nhiên cho thấy "con chó" "Sennakêrib, vua dân Assyria" đã chẳng những không chiếm được "của thánh" "Giêrusalem" mà trái lại, còn bị thảm bại nữa:
"Chúa phán những điều này về vua dân Assyria: 'Vua sẽ không vào được thành này, sẽ chẳng bắn được một mũi tên nào vào thành, chẳng dùng thuẫn mà vây hãm thành, chẳng đắp lũy quanh thành: vua tới lối nào thì sẽ về lối ấy, và sẽ không vào được thành này, đó là lời sấm của Chúa. Ta sẽ che chở và cứu thành này, vì danh Ta cùng vì Ðavít tôi tớ Ta'. Chính đêm ấy, thiên thần Chúa đến giết một trăm tám mươi lăm ngàn người trong trại quân Assyria. Sennakêrib, vua dân Assyria, trở về và ở lại thành Ninivê".
Chi tiết cuối cùng trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Sennakêrib, vua dân Assyria, trở về và ở lại thành Ninivê" cho thấy gì, trong khi chính bản thân vua cũng có thể bị thiên thần Chúa tiêu diệt như 185 ngàn người khác trong lực lượng quân sự của vua, một lực lượng mà vua cho là oai hùng đến độ dám ngang nhiên coi trời bằng vung. Thế nhưng Thiên Chúa lại sử dụng chính cái cao ngạo và lực lượng quân sự này của vua để tỏ mình ra chẳng những cho dân Do Thái mà còn cho cả vị vua và quân lực của vị vua dân ngoại này nữa.
Vua cần phải sống sót để "biết rằng: chỉ có mình Chúa là Thiên Chúa", Đấng mà vua đã thách thức vua Giuđa: "Chớ để Thiên Chúa, mà vua tin cậy, mê hoặc vua nghĩ rằng: Thành Giêrusalem sẽ không bị lọt vào tay vua dân Assyria", cũng chính là Đấng đã cho vua thấy dân Do Thái không cần ra tay mà vua cùng quân lực của vua đã bị tiêu diệt mới nhục nhã chứ, mới thấy rằng vua quả là ngạo mạn.
Trong đời sống tu đức cũng thế, Thiên Chúa bao giờ cũng "hạ người quyền hành xuống khỏi vị cao và đã nâng người hèn mọn lên" (Luca 1:52), như trong Bài Đọc 1 hôm nay, một bài đọc cho thấy Ngài đã hạ vua Assyria xuống và đã nâng vua Giuđa lên, một vị vua tin tưởng vào Ngài bằng những tâm tình được diễn tả trong Bài Đáp Ca hôm nay:
1) Chúa vĩ đại và rất đáng ngợi khen, trong thành trì của Thiên Chúa chúng ta. Núi thánh của Ngài là ngọn đồi duyên dáng, là niềm hoan lạc của khắp cả địa cầu.
2) Núi Sion là cùng kiệt Phương Bắc, là thành trì của Ðức Ðại Ðế. Thiên Chúa ngự trong thành quách của Người, tự chứng tỏ Người là an toàn chiến luỹ.
3) Ôi Thiên Chúa, chúng con tưởng nhớ lại lòng thương của Chúa, ngay trong nơi đền thánh của Ngài. Ôi Thiên Chúa, cũng như thánh danh Ngài, lời khen ngợi Ngài sẽ vang cùng cõi đất. Tay hữu Ngài đầy đức công minh.
em tĩnh