http://www.zenit.org/en/articles/on-promises-made-to-children
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch (kèm theo nhan đề và những chỗ nhấn mạnh tự ý)
Phụ thêm của người dịch:
Ở đầu bài giáo lý cho Buổi Triều Kiến Chung hôm nay, chúng ta thấy Đức Thánh Cha đã ngỏ lời xin lỗi: "nhân danh Giáo Hội, tôi xin anh chị em hãy tha thứ cho những gương mù đã xẩy ra trong thời gian mới đây, ở Rôma hay ở Vatican, là những gì tôi xin được tha thứ".
Không biết ở đây Đức Thánh Cha muốn "xin lỗi" về "những gương mù" nào "đã xẩy ra trong thời gian mới đây" và là những gương mù trầm trọng đến độ ngài phải "nhân danh Giáo Hội" mà "xin lỗi" như thế? Cũng có thể những gì chúng ta coi là nhỏ, không đáng gọi là "gương mù" thì đối với ngài lại là "gương mù".
Thật vậy, trong mấy ngày vừa qua thì chuyện xẩy ra đáng kể nhất, cả ở "Rôma" lẫn "Vatican", đó là vụ "bức thư của 13 vị hồng y gửi Đức Giáo Hoàng" ở "Vatican", được một trong hai tờ Tuần San nổi tiếng nhất của Ý là L'Espresso ở "Rôma" phổ biến hôm Thứ Hai 12/10/2015, trong đó, nội dung của bức thư cho thấy các vị hồng y ký tên đã tỏ ý mối bất đồng của các vị về phương thức làm việc của Thượng Nghị Giám Mục và bày tỏ mối lo âu là thành quả ấn định đã được lèo lái một cách nào đó.
Không biết làm sao mà truyền thông, qua tờ tuần san L'Espresso này có được bức thư đáng lẽ phải giữ bí mật cả về nội dung cũng như tên tuổi của các vị hồng y trong cuộc lại có được và tung ra như thế? Phải chăng vì nội bộ của 13 vị hồng y này bí mật tung ra hay cùng nhau đồng ý tung ra như để gâp áp lực trên chính ĐTC Phanxicô nói riêng và trên Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XIV - 10/2015 nói chung?
Nếu quả thực là như vậy thì đúng là "gương mù" gây ra bởi chính các đấng bậc trong Giáo Hội, cần được chính ĐTC ngỏ lời xin lỗi là phải! Chính việc viết bức thư của 13 vị hồng ý này gửi ĐTC không có gì là sai quấy, mà còn là những gì thẳng thắn vốn được ĐTC phấn khích và mong đợi. Nhưng cái đáng trách ở đây là một vị hay một số vị nào trong các vị đã có thể muốn gây áp lực bằng truyền thông nên đã tung bức thư của mình ra ngoài như thế.
Chính vì bức thư này đã được công khai hóa, nên danh tính của 13 vị hồng y đã được biết đến, thứ tự như sau: ĐHY
Carlo Caffarra, TGM Bologna Ý quốc, ĐHY Thomas Collins, TGM Toronto Canada, ĐHY Timothy Dolan, TGM New York Hoa Kỳ, ĐHY Wim Eijk, TGM Utrecht Hà Lan, ĐHY Péter Erdö, TGM Esztergom-Budapest Hung Gia Lợi kiêm Tổng Liên Hợp Viên của Thượng Nghị, ĐHY Gerhard Müller, Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin, ĐHY Wilfrid Napier, TGM Durban Nam Phi và là một trong những vị chủ tịch đại biểu của Thượng Nghị, ĐHY George Pell, Chánh Văn Phòng Đặc Trách Kinh Tế, ĐHY Mauro Piacenza, Chưởng Ấn Tòa Ân Giải, ĐHY Robert Sarah, Tổng Trưởng Thánh Bộ Thờ Phượng và Bí Tích, ĐHY Angelo Scola, TGM of Milan Ý quốc, ĐHY Jorge Urosa Savino, TGM Caracas Venezuala, ĐHY André Vingt-Trois, TGM Paris Pháp quốc và là một trong những vị chủ tịch đại biểu của Thượng Nghị.
Tuy nhiên, 4 trong 13 vị này đã công khai chối bỏ danh tính của mình trong 13 vị ký tên, đó là các ĐHY Angelo Scola Milan Ý quốc, Andre Vingt-Trois Pháp quốc, Mauro Piacenza Chánh Án Tòa Ân Giải, và Peter Erdo Hung Gia Lợi. Riêng ĐHY George Pell trong số 13 vị đã lên tiếng cho biết đáng lẽ bức thư này cần phải được bảo mật, cả về nội dung cũng như thành phần ký vào bức thư. Như thế không phải là tất cả 13 vị mà chỉ có một vị hay một số vị nào đó trong 13 vị đã tự ý muốn tung ra mà thôi.
Sau khi bức thư này được truyền thông tung ra vào Thứ Hai thì vấn đề về nội dung của bức thư đã được đề cập đến vào ngay tối hôm ấy ở Sảnh Đường Thượng Nghị, "cho dù không đi vào chi tiết", và sáng hôm sau, cũng đã được vị Tổng Thư Ký của Thượng Nghị là ĐHY Lorenzo Baldisseri và đích thân Đức Thánh Cha "trả lời một cách rõ ràng". Trong cuộc họp báo Thứ Ba 13/10/2015, linh mục giám đốc văn phòng báo chí của Tòa Thánh Lombardi đã cho biết như trên, được VIS (Vatican Information Service) phổ biến ngày 13/10/2015: http://www.vis.va/vissolr/index.php?vi=all&dl=1ebbf91e-3b6b-544e-d777-561cf7e39ac5&dl_t=text/xml&dl_a=y&ul=1&ev=1
Vị giám đốc này còn cho biết về vấn đề phương thức của Thượng Nghị thì "chẳng có gì là mới mẻ và lạ lùng cả. Tuy nhiên, một khi đã đồng ý với nhau thì cần phải dấn thân thực hiện một cách tốt đẹp bao nhiêu có thể". Nhân vật phát ngôn viên của Tòa Thánh này còn cho biết thêm về tình hình của Thượng Nghị như thế này: "Đó là những gì đang diễn ra. Việc hợp tác làm việc một cách chặt chẽ giúp cho Thượng Nghị đang trên đà tiến bộ... Không thể chối cãi được rằng Thượng Nghị này đang có được một bầu khí tích cực nói chung".
Về phương thức của Thượng Nghị thì theo Vatican Insider - http://vaticaninsider.lastampa.it/en/the-vatican/detail/articolo/sinodo-famiglia-43910/, bức thư được phổ biến có những nhận định chính yếu tiêu biểu sau đây:
1- "Các phương thức mới hướng dẫn Thượng Nghị này dường như là để bảo đảm cho Thượng Nghị có được một ảnh hưởng tối đa trên những phát biểu của Thượng Nghị cũng như nơi văn kiện đúc kết của Thượng Nghị".
2- "Những phương thức mới của Thượng Nghị này sẽ được một số nhóm coi là thiếu cởi mở và đoàn tính chân thực".
3- "Việc thiếu đóng góp của các nghị phụ Thượng Nghị vào vấn đề viết lách của tiểu ban biên soạn đã tạo nên tình trạng băn khoăn đáng kể. Các phần tử của tiểu ban này đã được chỉ định mà không tham vấn, không phải được bầu chọn. Trong khi đó bất cứ ai soạn thảo những gì ở tầm cấp tiểu luận nhóm theo ngôn ngữ cần phải được bầu chọn chứ không phải được chỉ định".
4- "Những điều ấy đã tạo nên mối quan tâm là các phương thức mới không trung thực với tinh thần của truyền thống cũng như với mục đích của một Thượng Nghị. Vấn đề ở đây là không hiểu vì sao lại cần phải có những thay đổi về phương thức này. Một số các nghị phụ cảm thấy tiến trình mới này đường như được tạo ra để dễ dàng đạt được những thành quả ấn định trước về các vấn đề tranh cãi quan trọng".
Cả ĐHY Tổng Bí Thư của Thượng Nghị lẫn Đức Thánh Cha đã trả lời cho bức thư này vào ngày hôm sau, Thứ Ba 13/10/2015. ĐHY Tổng Bí Thư cho rằng các vị hồng y trong bức thư đã lệch lạc trong nhận định đối với những thay đổi về phương thức liên quan đến: 1- ủy ban phụ trách soạn thảo văn kiện đúc kết cũng như đến: 2- việc bổ nhiệm các tường trình viên thuộc các tiểu luận nhóm theo ngôn ngữ (circuli minores).
Đối với nhận định thứ nhất, ĐHY Tổng Bí Thư đã giải thích rằng cho đến Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Ngoại Lệ 2014, 3 hay 4 người thuộc Văn Phòng Tổng Bí Thư đã từng đảm nhiệm việc viết bản văn kiện đúc kết. Chính Đức Phanxicô đã muốn nới rộng công việc này, bằng cách chỉ định một Nghị Phụ từ mỗi châu lục. Ủy ban này không bao giờ được bầu chọn bởi các vị Nghị Phụ cả.
Đối với nhận định thứ hai, việc dự đoán của một số truyền thông thân cận với các vị ký tên vào bức thư về sự thất bại trong việc chọn các tường trình viên và điều hợp viên của các tiểu luận nhóm theo ngôn ngữ, đã cho thấy là những dự đoán sai lầm. Như vào năm 2014, các tường trình viên và điều hợp viên của các tiểu luận nhóm theo ngôn ngữ đã được chọn bởi các Nghị Phụ chứ không do chỉ định. Và các bản tường trình do các nhóm này phát hành đã được phổ biến đầy đủ như năm ngoái.
"Thiên Chúa là tình yêu, và con người tham phần vào công việc của Ngài là khi con người biết yêu thương với Ngài và như Ngài".
Đức Thánh Cha Phanxicô: Huấn Từ Truyền Tin CN XXVII Thường Niên 4/10/2015
Xin chào anh chị em thân mến!
Việc cử hành Thánh Thể để khai mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới vừa kết thúc ở Đền Thờ Thánh Phêrô. Các Nghị Phụ, từ khắp nơi trên thế giới qui tụ lại bên Vị Thừa Kế Thánh Phêrô, trong vòng 3 tuần lễ, sẽ suy tư về ơn gọi và sứ vụ của gia đình trong Giáo Hội cũng như trong xã hội, để có được nhận thức thận trọng về tinh thần và mục vụ. Chúng ta sẽ gắn ánh mắt vào Chúa Giêsu, căn cứ vào giáo huấn về sự thật và tình thương của Người, để tìm thấy những đường lối thích đáng nhất cho việc dấn thân xứng hợp của Giáo Hội với các gia đình và cho các gia đình, nhờ đó, dự án nguyên thủy của Đấng Hóa Công về con người nam nữ được ứng dụng và được thể hiện trong thế giới ngày nay nơi tất cả vẻ đẹp của dự án ấy và quyền lực của dự án này.
Phụng vụ của Chúa Nhật hôm nay nhắc lại đoạn Sách Khởi Nguyên trọng yếu về tính chất bổ túc và hỗ tương giữa con người nam nữ (xem 2:18-24). Vì thế - Thánh Kinh viết - con người lìa bỏ cha mẹ mình mà gắn bó với vợ mình và cả hai trở nên một xác thịt, tức là một cuộc sống, một cuộc đời (xem câu 24). Trong mối hiệp nhất này, đôi phối ngẫu truyền đạt sự sống cho những con người mới, ở chỗ họ trở thành những người làm cha làm mẹ. Họ tham dự vào quyền năng tác tạo của chính Thiên Chúa. Thế nhưng, hãy cẩn thận! Thiên Chúa là tình yêu, và con người tham phần vào công việc của Ngài là khi con người biết yêu thương với Ngài và như Ngài. Để được như vậy - Thánh Phaolô nói - tình yêu đã được tuôn đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần là Đấng đã được ban cho chúng ta (xem Roma 5:5). Và đó cũng là tình yêu được ban cho các đôi phối ngẫu nơi bí tích hôn phối. Chính tình yêu này làm cho mối liên hệ của họ được tràn đầy qua những niềm vui nỗi buồn, qua những giây phút lặng lẽ và khó khăn. Chính tình yêu này làm bừng lên ước muốn tạo sinh con cái, đợi chờ chúng, đón nhận chúng, nuôi dưỡng chúng, giáo dục chúng. Cũng tình yêu này mà trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho các con trẻ: "Hãy để cho các con trẻ đến cùng Thày, đừng ngăn cản chúng: vì Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng" (Marco 10:14).
Hôm nay, chúng ta xin Chúa ban cho tất cả mọi cha mẹ và các nhà giáo dục trên thế giới, cũng như toàn thể xã hội, được trở thành dụng cụ của việc chấp nhận và của tình yêu thương mà Chúa Giêsu muốn sử dụng để ấp ủ những con người bé mọn. Người cũng nhìn vào tâm can của chúng với niềm êm ái dịu dàng và ân cần của một người cha người mẹ. Tôi nghĩ đến rất nhiều con trẻ đang đói khổ, bị bỏ rơi, bị khai thác, bị ép buộc lâm chiến, bị chối bỏ. Thật là đớn đau khi thấy hình ảnh của các con trẻ bất hạnh, lạc loài, đào thoát nghèo khổ và các cuộc xung đột. Các em đang gõ cửa nhà của chúng và và gõ vào cõi lòng của chúng ta van xin giúp đáp. Xin Chúa giúp chúng ta đừng trở thành "một thứ xã hội thành trì kiên cố (a fortress-society)" mà là "một xã hội gia đình (a family-society)" biết đón nhận, bằng những qui luật thích đáng, nhưng biết đón nhận... Luôn tỏ ra đón nhận... bằng tình yêu thương!
Tôi mời gọi anh chị em hãy hỗ trợ công việc của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới này bằng lời cầu nguyện, để Thánh Linh làm cho các Vị Nghị Phụ được hoàn toàn dễ dạy trước các ơn linh ứng của Ngài. Chúng ta xin Trinh Nữ Maria thực hiện việc chuyển cầu từ mẫu của Mẹ cho chúng ta, bằng cách liên kết thiêng liêng chúng ta với những ai vào lúc này đây ở Đền Thánh Pompeii đang đọc "Kinh Kêu Cầu cùng Đức Mẹ Mân Côi".
http://www.zenit.org/en/articles/pope-s-angelus-address--6
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch (kèm theo nhan đề và những chỗ nhấn mạnh tự ý)
Xin đón xem bài nói của Đức Thánh Cha tối hôm qua, Thứ Bảy 3/10/2015, ở Quảng Trường Thánh Phêrô, thời điểm vọng Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XIV về hôn nhân gia đình từ ngày 4 đến 25/10/2015.
"Bao giờ cũng phải lên án và chống lại những gì là lầm lỗi và sự dữ; thế nhưng cần phải thông cảm và yêu thương con người sa ngã và con người lầm lỗi... chúng ta cần phải yêu thương thời đại của chúng ta và giúp đáp con người của thời đại chúng ta"
Đức Thánh Cha Phanxicô giảng Lễ Khai Mạc Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ XIV
về "Ơn Gọi và Sứ Vụ của Gia Đình trong Giáo Hội và Thế Giới hiện đại"
10 giờ Sáng Chúa Nhật 4/10/2015 tại Đền Thờ Thánh Phêrô
Cô đơn
Adong, như chúng ta đã nghe trong bài đọc thứ nhất, đã sống trong Vườn Địa Đường. Chàng đã đặt tên cho tất cả mọi tạo vật khác như là một dấu hiệu cho thấy quyền thống trị của chàng, cho thấy quyền năng minh nhiên không thể chối cãi của chàng, trên tất cả những tạo vật ấy. Tuy nhiên, chàng vẫn cảm thấy lẻ loi một mình, vì chàng "không tìm thấy được một hỗ trợ thích hợp với chàng" (Khởi Nguyên 2:20). Chàng đã sống lẻ loi cô độc.
Thảm kịch cô đơn đang được cảm nghiệm thấy bởi vô vàn con người nam nữ trong thời đại của chúng ta đây. Tôi nghĩ đến những vị lão thành, bị bỏ rơi bởi cả những người thân yêu và con cái của mình; những người góa chồng góa vợ; nhiều con người nam nữ bị người phối ngẫu của mình lìa bỏ; tất cả những ai cảm thấy lẻ loi một mình, bị hiểu lầm và quên lãng; những người di dân và tị nạn vượt thoát chiến tranh và bách hại; và nhiều giới trẻ đang là nạn nhân của thứ văn hóa hưởng thụ, thứ văn hóa phế thải, thứ văn hóa thừa thãi đổ đi.
Ngày nay chúng ta đang nghiệm thấy cái mâu thuẫn ngược đời của một thế giới toàn cầu hóa đầy những lâu đài và những tòa nhà chọc trời sang trọng, nhưng lại thấp kém những gì là nồng ấm của các ngôi nhà và của các gia đình; đầy những dự án và dự phóng tham vọng, nhưng hiếm có giờ để hoan hưởng chúng; đầy những phương tiện tinh vi để giải trí những lại càng sâu xa trống rỗng nội tâm; đầy những khoái thú những ít yêu thương; đầy những gì tùy ý muốn làm nhưng lại ít tự do... Số người cảm thấy đơn côi cứ gia tăng, gia tăng cả con số những ai bị cuốn hút vào những gì là vị kỷ, những gì là u ám, vào tình trạng bạo động hủy hoại và vào tình trạng sống nô lệ cho khoái lạc cùng tiền bạc.
Cảm nghiệm của chúng ta ngày nay, ở một cách nào đó, như cảm nghiệm của Adong: đầy những quyền năng mà đồng thời lại cũng đầy những cô đơn và dễ bị tổn thương. Gia đình là hình ảnh ấy. Con người càng ngày càng ít nghiêm trọng hóa vấn đề xây dựng một mối liên hệ yêu thương vững chắc và hiệu năng, cả khi yếu đau và mạnh khỏe, cả khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, cả khi may lành cũng như rủi ro. Tình yêu là những gì bền bỉ, thủy chung, tận tâm, vững chãi và phong phú lại là những gì càng ngày càng bị coi thường, bị coi như là một thứ di tích kỳ quặc của quá khứ. Dường như đang xẩy ra là các xã hội tân tiến nhất là chính những xã hội đang có mức sinh sản thấp nhất và có tỷ số cao nhất về phá thai, ly dị, tự tử cùng tình trạng phóng uế về xã hội cũng như môi sinh.
Tình yêu giữa người nam với người nữ
Trong bài đọc thứ nhất chúng ta cũng nghe thấy Thiên Chúa cảm thấy làm sao ấy trước cảnh lẻ loi cô độc của Adong. Ngài đã phán: "Con người ở một mình không tốt; Ta sẽ làm nên cho nó một trợ giúp xứng hợp" (Khởi Nguyên 2:18). Những lời này cho thấy rằng không một sự gì làm cho con tim của con người hạnh phúc giống như con tim khác tương tự con tim của họ, một con tim yêu thương họ và làm cho họ hết cảm thấy cô đơn. Những lời này còn cho thấy rằng Thiên Chúa không tạo dựng nên chúng ta để sống một cách sầu thương hay lẻ loi cộ độc một mình. Ngài tạo dựng nên con người nam nữ để được hạnh phúc, để chia sẻ cuộc hành trình của họ với ai đó bổ túc cho họ, để sống cảm nghiệm yêu thương tuyệt vời, tức là để yêu và được yêu, và để thấy tình yêu của họ trở sinh hoa trái nơi con cái, như bài Thánh Vịnh đáp ca hôm nay (xem Thánh Vịnh 128).
Giấc mộng của Thiên Chúa cho tạo vật yêu dấu của Ngài đó là thấy nó được nên trọn nơi mối hiệp nhất yêu thương giữa một người nam và một người nữ, thấy họ hoan hỉ trong cuộc đồng hành trình của họ, trong việc trổ sinh hoa trái nơi việc họ trao tặng bản thân mình cho nhau. Chính dự án ấy đã được Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay: "Ngày từ lúc tạo dựng ban đầu 'Thiên Chúa đã dựng nên họ có nam có nữ'. Vì thế mà người nam sẽ bỏ cha mẹ của mình mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ trở nên một xác thịt. Vậy họ không còn là hai nhưng là một xác thịt" (Marco 10:6-8; xem Khởi Nguyên 1:27;2:24).
Để trả lời cho một câu hỏi có vẻ cường điệu - được đặt ra có lẽ như là một cái bẫy để làm cho Người không còn được dân chúng mộ mến nữa, vì dân chúng đã thực hiện việc ly dị như là một sự kiện đã được thiết định bất khả vi phạm - Chúa Giêsu đã nói một cách thẳng thắn và ngoài những gì dự tưởng. Người đã mang tất cả trở về với thuở ban đầu, thuở khởi nguyên tạo dựng, để dạy chúng ta rằng Thiên Chúa chúc lành cho tình yêu thương của con người, chính Ngài là Đấng đã kết hợp con tim của hai người yêu thương nhau, Ngài là Đấng kết hiệp chúng trong hiệp nhất bất khả phân ly. Điều này cho chúng ta thấy rằng đích điểm của đời sống phối ngẫu không phải chỉ là để sống đời với nhau, mà là để trọn đời yêu nhau! Như thế, Chúa Giêsu đã tái thiết lập trật tự đã có ngay từ ban đầu.
Gia đình
"Những gì Thiên Chúa đã kết hợp lại với nhau thì không ai được phép phân ly" (Marco 10:9). Đó là lời huấn dụ cho các tín hữu trong việc thắng vượt hết mọi hình thức cá nhân chủ nghĩa và duy luật là những gì che đậy một thứ qui kỷ hẹp hòi và một thứ lo âu sợ hãi khi cần phải chấp nhận cái ý nghĩa đích thực của việc phối ngẫu cũng như của tính dục con người theo dự án của Thiên Chúa.
Thật vậy, chỉ trong ánh sáng của cái điên rồ cho không biếu không nơi tình yêu vượt qua của Chúa Giêsu mới làm sáng tỏ cái điên rồ cho không biếu không của một thứ tình yêu phối ngẫu duy nhất trọn đời mà thôi.
Đối với Thiên Chúa, hôn nhân không phải là một thứ không tưởng của tuổi trẻ dậy thì, mà là một giấc mơ bất khả thiếu bằng không tạo vật của Ngài sẽ bị quằn quại trong lẻ loi cô độc! Thật vậy, việc tỏ ra sợ hãi chấp nhận dự án ấy là những gì làm tê liệt cõi lòng của con người.
Ngược ngạo thay, dân chúng ngày nay - thành phần thường nhạo cười dự án này - tiếp tục được cuốn hút và mê hoặc bởi hết thứ tình yêu chân thực, bởi thứ tình yêu bền vững, bởi thứ tình yêu phong phú, bởi thứ tình yêu trung thành và bền vững. Chúng ta thấy dân chúng chạy theo những thứ tình yêu sôi nổi trong khi lại mơ tưởng thứ tình yêu chân thực; họ săn đuổi những khoái lạc nhục thể nhưng lại mong ước có được những gì là trọn vẹn hiến thân.
"Giờ đây chúng ta đã hoàn toàn nếm được những hứa hẹn của thứ tự do vô giới hạn, chúng ta bắt đầu cảm nhận một lần nữa cụm từ ngày xưa về 'cái thế giới mệt mỏi'. Những thứ khoái thú bị cấm đoán đã mất đi tính chất thu hút của chúng ở chính lúc chúng không còn bị cấm nữa. Thậm chí nếu chúng được đẩy đến chỗ cực đoan và được tái tấu như khôn cùng chúng lại hiện lên một cách lu mờ, vì chúng là những thực tại vô cùng, trong khi đó chúng ta lại khao khát những gì là vô cùng bất tận" (Joseph Ratzinger, Auf Christus schauen. Einübung in Glaube, Hoffnung, Liebe, Freiburg, 1989, p. 73).
Trong bối cảnh cực kỳ khó khăn về xã hội và hôn nhân này, Giáo Hội được kêu gọi để thi hành sứ vụ của mình một cách trung thành, trong chân lý và trong yêu thương.
Thi hành sứ vụ của mình một cách trung thành với Vị Sư Phụ của mình như là một tiếng kêu trong sa mạc, trong việc bênh vực tình yêu trung thành và phấn khích nhiều gia đình sống đời hôn nhân như là một cảm nghiệm thể hiện tình yêu của Thiên Chúa; trong việc bênh vực tính chất linh thánh của sự sống, của hết mọi sự sống; trong việc bênh vực tính chất duy nhất và bất khả phân ly của mối liên hệ phu thê như là một dấu hiệu của ân sủng Thiên Chúa cũng như của khả năng trân trọng yêu thương của con người.
Giáo Hội được kêu gọi để thi hành sứ vụ của mình trong chân lý là những gì không thay đổi trước những nhiệt liệt mau qua hay những ý nghĩ phổ thông thịnh hành. Sự thật là những gì bảo vệ riêng cá nhân cũng như chung nhân loại khỏi khuynh hướng qui kỷ và khỏi hướng tình yêu thương phong phú về những gì là vị kỷ cằn cỗi, khỏi hướng mối hiệp nhất dồi dào về những thứ liên hệ tạm thời. "Không có sự thật, bác ái bị hạ cấp thành cảm tính. Tình yêu trở thành một thứ vỏ bọc rỗng tuyếch, một vỏ bọc được nhồi nhét cho đầy một cách độc đoán. Trong một nền văn hóa phi chân lý thì đó là một thứ nguy cơ ác hại đối với tình yêu vậy" (Benedict XVI, Caritas in Veritate, 3).
Giáo Hội được kêu gọi để thi hành sứ vụ của mình trong yêu thương, chứ không phải bằng việc chỉ tay lên án kẻ khác, trái lại - trung thành với bản chất làm mẹ của mình - Giáo Hội ý thức được nhiệm vụ của mình trong việc tìm kiếm và chăm sóc cho các đôi phối ngẫu bị thương đau bằng dầu thơm chấp nhận và xót thương; trong việc trở thành một "bệnh viện lưu động" mở rộng cửa cho bất cứ ai tìm đến gõ cửa xin cứu giúp và hỗ trợ; thậm chí còn hơn thế nữa, trong việc vươn đến với người khác bằng tình yêu thương chân thật, bằng việc bước đi với những con người nam nữ đồng loại của chúng ta đang chịu khổ đau, để bao gồm họ và hướng dẫn họ đến suối mạch của ơn cứu độ.
Một Giáo Hội giảng dạy và bênh vực những giá trị nồng cốt nhưng vẫn không quên rằng "Ngày Hưu Lễ được thiết lập cho con người chứ không phải con người cho Ngày Hưu Lễ" (Marco 2:27); và không quên lời Chúa Giêsu cũng đã nói: "Những ai khỏe mạnh thì không cần thày thuốc, mà là những ai yếu đau bệnh hoạn; Tôi đến không phải để kêu gọi thành phần công chính mà là tội nhân" (Marco 2:17). Một Giáo Hội giảng dạy tình yêu chân thực, một tình yêu có khả năng lấy đi tình trạng lẻ loi cô độc, mà vẫn không lơ là với sứ vụ trở thành một người Samaritanô nhân lành đối với nhân loại đang bị thương tích.
Tôi nhớ có lần Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: "Bao giờ cũng phải lên án và chống lại những gì là lầm lỗi và sự dữ; thế nhưng cần phải thông cảm và yêu thương con người sa ngã và con người lầm lỗi... chúng ta cần phải yêu thương thời đại của chúng ta và giúp đáp con người của thời đại chúng ta" (John Paul II, Address to the Members of Italian Catholic Action, 30 December 1978). Giáo Hội cần phải tìm kiếm những con người ấy, đón nhận và hỗ trợ họ, vì một Giáo Hội đóng cửa là một Giáo Hội phản bội lại chính mình cũng như sứ vụ của mình, và thay vì cần phải là một cây cầu thì lại là một thứ rào cản: "Vì Đấng thánh hóa và những ai được thánh hóa đều có cùng một nguồn gốc. Đó là lý do tại sao Người không hổ thẹn gọi họ là anh em" (Do Thái 2:11).
Trong tinh thần ấy, chúng ta xin Chúa hỗ trợ chúng ta trong Thượng Nghị này và hướng dẫn Giáo Hội của Người, nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Giuse là vị hôn phu thanh khiết nhất của Mẹ.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch (kèm theo nhan đề và những chỗ nhấn mạnh tự ý)
"Thượng Nghị này là việc bày tỏ của Giáo Hội, tức là, chính Giáo Hội cùng nhau tiến bước trong việc nhận định về thực tại bằng con mắt đức tin cũng như bằng tấm lòng của Thiên Chúa".
Lời phát biểu của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Phiên Họp Đầu Tiên Thứ Hai 5/10/2015
Quí Thượng Phụ, Hồng Y, Giám Mục và Anh Chị Em thân mến,
Giáo Hội hôm nay đây lại tiếp tục một lần nữa cuộc đối thoại đã được bắt đầu bằng việc triệu tập Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới ngoại lệ về Gia Đình - chắc chắn cũng tiếp tục nhiều cuộc đối thoại trước đó - để cùng nhau thẩm định và suy tư về bản văn Dùng Để Làm Việc - Instrumentum laboris đã đượccông phu soạn thảo bởi Ban Thư Ký - Relatio Synodi cũng như bởi các câu trả lời của Chư Hội Đồng Giám Mục cùng tổ chức có thẩm quyền.
http://www.zenit.org/en/articles/synod-15-pope-francis-address-to-first-general-congregation
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch (kèm theo nhan đề và những chỗ nhấn mạnh tự ý)
"Hết mọi gia đình bao giờ cũng là một thứ ánh sáng, cho dù leo lét, giữa bóng tối của thế giới này".
Đức Thánh Cha Phanxicô - Huấn Từ áp Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới XIV (5-25/10/2015)Tối Thứ Bảy mùng 3/10/2015 ở Quảng Trường Thánh Phêrô
Các Gia Đình thân mến,
Xin chào anh chị em tối nay! Không tốt đẹp hay sao khi thắp sáng lên một cây nến nhỏ trong bóng tối? Không có cách nào khác để xua tan tối tăm hay sao? Bóng tối thậm chí có thể bị chế ngự hay chăng?
Ở một lúc nào đó trong đời sống - cuộc sống này quá đầy đủ những phương tiện lạ lùng - những câu hỏi này cần phải được đặt ra. Khi cuộc sống trải qua khó khăn và cam go, chúng ta có thể theo khuynh hướng lùi bước, quay đầu và rút lui, thậm chí có thể vì khôn ngoan thận trọng và thực tế cần phải như vậy, mà trốn tránh trách nhiệm cần phải thực hiện về phần mình những gì chúng ta có thể làm được.
Anh chị em có nhớ những gì đã xẩy ra cho Elia hay chăng? Theo quan điểm loài người thì vị tiên tri này đã cảm thấy sợ hãi và cố gắng thoát chạy. Sợ hãi. "Elia đã sợ hãi; ông đã chỗi dậy và thoát thân giữ mạng... Ông đã đi bộ 40 đêm ngày đến Horeb là núi của Thiên Chúa. Ở đó ông đến một cái hang mà trú qua đêm. Bấy giờ có lời Chúa phán cùng ông rằng: 'Ngươi đang làm gì ở đây vậy Elia?'" (1 Các Vua 19:3,8-9). Trên núi Horeb, ông có thể có được câu trả lời, không phải trong một cơn gió mạnh thổi đến làm nứt thạch tan đá, không phải trong một trận động đất hay trong lửa hồng. Ân sủng của Thiên Chúa không la vang; ân sủng này là một tiếng thì thào chạm đến tất cả những ai sẵn sàng nghe thấy tiếng gió thoang thoảng thổi - một thứ tiếng lặng thinh nho nhỏ. Ân sủng này thôi thúc họ tiến lên, trở lại với thế giới, làm chứng nhân cho tình yêu thương của Thiên Chúa đối với nhân loại, để thế giới tin tưởng...
Theo chiều hướng này, đúng một năm trước đây, cũng ở Quảng Trường này, chúng ta đã kêu cầu cùng Thánh Linh và xin cho các vị Nghị Phụ - trong việc bàn luận về đề tài gia đình - biết chuyên chú lắng nghe nhau, bằng ánh mắt gắn chặt vào Chúa Giêsu, Lời tối hậu của Chúa và là tiêu chuẩn mà mọi sự cần phải theo đó mà đo lường cân nhắc.
Tối hôm nay, việc cầu nguyện của chúng ta cũng không thể nào khác được. Vì như Đức Tổng Giám Mục Ignatius IV Hazim đã nhắc nhở chúng ta, không có Thánh Linh thì Thiên Chúa là Đấng xa vời, Chúa Kitô vẫn thuộc về quá khứ, Giáo Hội trở thành một tổ chức thuần tùy, quyền bính trở thành thống trị, sứ vụ trở nên tuyên truyền, tôn thờ trở thành thần bí, đời sống Kitô giáo trở thành một thứ luân lý nô lệ (cf. Address to the Ecumenical Conference of Uppsala, 1968).
Bởi vậy chúng ta hãy cầu nguyện để Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới khai mở ngày mai sẽ cho thấy được cái cảm nghiệm về hôn nhân gia đình phong phú biết bao và viên trọn nhân bản chừng nào. Chớ gì Thượng Nghị này nhận thức, trân trọng và loan báo tất cả những gì là mỹ lệ, thiện hảo và thánh đức về cái cảm nghiệm ấy. Chớ gì Thượng Nghị này bao gồm cả những trường hợp gây tổn thương và khốn khó như chiến tranh, bệnh hoạn, sầu thương, những mối liên hệ bị thương tích và đổ vỡ là những gì tạo nên buồn thảm, phẫn uất và phân ly. Chớ gì Thượng Nghị này nhắc nhở những gia đình ấy, và hết mọi gia đình, rằng Phúc Âm bao giờ cũng là "tin mừng" giúp chúng ta có thể bắt đầu lại. Chớ gì các vị Nghị Phụ biết rút tỉa từ kho tàng truyền thống sống động của Giáo Hội những lời lẽ của niềm an ủi và hy vọng cho các gia đình được kêu gọi trong thời đại của chúng ta để xây dựng cộng đồng giáo hội và thành đô của con người.
* * *
Hết mọi gia đình bao giờ cũng là một thứ ánh sáng, cho dù leo lét, giữa bóng tối của thế giới này.
Kinh nghiệm loài người của Chúa Giêsu đã được hình thành nơi tâm điểm của một gia đình, nơi Người đã sống 30 năm. Gia đình của Người giống như bất cứ gia đình nào khác, sống trong một khu làng lu mờ ở ngoại vi của một Đế quốc.
Charles de Foucauld, có lẽ giống như một ít người khác, đã nắm bắt được cái tấm vóc quan trọng của thứ linh đạo phát tỏa từ Nazarét. Vị đại thám hiểm này đã vội vàng từ bỏ binh nghiệp của mình, đã bị thu hút bởi mầu nhiệm Thánh Gia, mầu nhiệm liên hệ hằng ngày của Chúa Giêsu với cha mẹ của Người cũng như với hàng xóm láng giềng, việc lao công thầm lặng của Người, việc cầu nguyện khiêm hạ của Người. Khi chiêm ngưỡng Gia Đình Nazarét, Thày Charles đã nhận ra cái ước muốn giầu sang phú quí và quyền lực thực sự là trống rỗng biết bao. Nhờ việc tông đồ bác ái của mình, ngài đã trở thành mọi sự cho mọi người. Được thu hút bởi đời sống của một vị ẩn tu, ngài đã tiến đến chỗ hiểu rằng chúng ta không gia tăng trong tình yêu Thiên Chúa bằng việc tránh né cái vướng mắc nơi những liên hệ loài người. Vì trong tình yêu thương người khác, chúng ta học biết yêu mến Thiên Chúa, trong việc cúi mình xuống giúp đáp tha nhân chúng ta được nâng lên cùng Thiên Chúa. Nhờ việc gần gũi huynh đệ của mình và việc liên đới của ngài với kẻ nghèo và người bị bỏ rơi mà ngài đã hiểu được rằng chính họ là những người truyền bá phúc âm hóa chúng ta, họ là người giúp cho chúng ta lớn lên về nhân bản.
Để hiểu được gia đình ngày nay, cả chúng ta nữa cũng cần phải - như Thày Charles de Foucauld - đi vào mầu nhiệm của gia đình Nazarét, đi vào đời sống thầm lặng hằng ngày của gia đình này, không phải là không giống như đời sống của hầu hết các gia đình, với những vấn đề của họ cùng với những niềm vui bình dị của họ, một đời sống được đánh dấu bằng sự nhẫn nại an lành giữa nghịch cảnh, tôn trọng người khác, một lòng khiêm tốn là những gì hào phóng và là những gì nở hoa nơi việc phục vụ, một đời sống huynh đệ được xuất phát từ cảm quan tất cả chúng ta đều là phần thể của một thân thể duy nhất.
Gia đình là một nơi giúp sống trọn sự thánh đức của phúc âm ở những điều kiện thông thường nhất. Ở đó chúng ta được hình thành bởi ký ức của các thế hệ đã qua và chúng ta đâm những gốc rễ giúp chúng ta có thể tiến xa hơn. Gia đình là một nơi nhận thức, nơi chúng ta học nhận biết dự án của Thiên Chúa về đời sống của chúng ta và tin tưởng theo đuổi dự án ấy. Gia đình là một nơi của những gì là cho không biếu không, của sự hiện diện huynh đệ khôn ngoan và đoàn kết, một nơi chúng ta học biết xuất thân và chấp nhận người khác, học biết thứ tha và cảm thấy được tha thứ.
* * *
Chúng ta bắt đầu một lần nữa từ Nazarét cho một Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới, một thượng nghị ngoài việc nói về gia đình còn học biết từ gia đình, sẵn sàng công nhận phẩm vị của nó, sức mạnh của nó và giá trị của nó, bất chấp tất cả những vấn đề và khó khăn của nó.
Ở "Galilee của chư dân" trong thời đại của chúng ta, chúng ta sẽ tái khám phá thấy cái phong phú và quyền lực của một Giáo Hội là mẹ, khả năng cống hiến và nuôi dưỡng sự sống, cùng với lòng sùng mộ, sự dịu dàng và sức mạnh về luân lý. Vì trừ phi chúng ta có thể liên kết lòng cảm thương với công lý, chúng ta sẽ tiến tới chỗ trở nên bất chính trầm trọng và sâu xa một cách không cần thiết.
Một Giáo Hội là gia đình cũng có thể cho thấy sự gần gũi và tình yêu của một người cha, một bảo quản viên hữu trách biết bênh vực mà không gò bó, biết chỉnh sửa mà không hạ nhục, biết huấn luyện bằng gương sáng và nhẫn nại, đôi khi chỉ cần một thứ thinh lặng tỏ ra niềm mong đợi nguyện cầu và tin tưởng.
Trên hết là một Giáo Hội của trẻ em coi mình như là anh chị em, sẽ không bao giờ đi đến chỗ coi bất cứ ai chỉ là gánh nặng, chỉ là vấn đề, chỉ là cái giá phải trả, chỉ là một mối quan tâm hay là một nguy cơ. Những người khác thực sự là một tặng ân, và bao giờ cũng thế, ngay cả khi họ bước theo những nẻo đường khác.
Giáo Hội là một ngôi nhà mở cửa, xa khỏi cái hào nhoáng bên ngoài, tỏ ra hiếu khách nơi tính chất chân thành giản dị của các phần tử Giáo Hội. Đó là lý do tại sao Giáo Hội có thể kêu gọi niềm mong đợi hòa bình hiện hữu nơi hết mọi con người nam nữ, bao gồm cả những ai - giữa các thách đố của cuộc đời - có những con tim bị thương tích và khổ đau.
Giáo Hội này thực sự có thể thắp sáng lên cái bóng tối rất nhiều con người nam nữ cảm thấy. Giáo Hội có thể khả tín chỉ cho họ hướng tới đích điểm và bước đi bên họ, chính vì Giáo Hội đích thân đã cảm nghiệm được những gì cần phải được tái sinh khôn cùng trong cõi lòng từ bi thương xót của Chúa Cha.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch (kèm theo nhan đề và những chỗ nhấn mạnh tự ý)