Đức Thánh Cha: Cảm Nghiệm Tông Du Phi Châu - Triều Kiến Chung Thứ Tư 2/12/2015
Dẫn nhập của người dịch:
Theo thói quen của mình, sau mỗi chuyến tông du, Đức Thánh Cha Phanxicô bao giờ cũng ghé Đền Thờ Đức Bà Cả để tạ ơn Đức Mẹ. Lần này cũng thế, sau khi xuống máy bay, tối Thứ Hai 30/11/2015, ngài đã ghé Đền Thờ Thánh Mẫu này. Trước mỗi chuyến tông du cũng thế, ngài cũng ghé dâng chuyến tông du cho Mẹ ở cùng Đền Thờ Thánh Mẫu này. Trước chuyến tông du lần này, vì biết sáng hôm sau, ngài phải gặp gỡ các nạn nhân bị bạo hành trong gia đình, ngài đã ghé viếng Mẹ từ tối hôm trước, 24/11/2015. Hai lần viếng trước sau của ngài tại Đền Thờ Đức Bà Cả này là lần thứ 27 và 28 kể từ ngày ngài lên làm giáo hoàng đến nay.
Một trong những mục đích chính của ngài đến viếng thăm Nước Mễ Tây Cơ vào năm tới 2016, như ngài đã trả lời trong cuộc phỏng vấn trên chuyến bay từ Phi Châu về Roma, đó là để kính viếng Đức Mẹ Gualadupe ở Thành Phố Mễ Tây Cơ, vị Nữ Quan Thày của Châu Mỹ Latinh là châu lục xuất thân của ngài. Ngoài ra, vào năm 2017, nhân dịp kỷ niệm mừng bách chu niên Thánh Mẫu Fatima (1917-2017), ngài cũng sẽ đến Linh Địa Fatima vào thời điểm 13/5/2017. Tạ ơn Chúa đã cho chung thế giới và riêng Giáo Hội Kitô giáo một vị Giáo Hoàng Thánh Mẫu chứng nhân của Lòng Thương Xót Chúa như Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trước đây.
Trong bài tường trình và chia sẻ liên quan đến cảm nghiệm về chuiyến tông du Phi Châu cho buổi triều kiến chung Thứ Tư 2/12/2015, ngài đã đặc biệt cho biết chủ đề khác nhau của ngài ở từng quốc gia, tùy theo trường hợp của mỗi nước Phi Châu đầu tiên được ngài đến viếng thăm này. Và đó là lý do, khi đọc các bài nói của ngài, chúng ta thấy hiện lên rõ ràng từng chủ đề ấy. Thế nhưng, như câu trả lời cuối cùng cho cuộc phỏng vấn trên chuyến bay về lại Rôma, ngài cho rằng: "Phi Châu là một vị tử đạo. Nó là một vị tử đạo nơi lịch sử khai thác... Đó là lý do tại sao tôi quí mến Phi Châu, vì Châu Phi là nạn nhân của những thứ quyền lực khác".
Xin chào Anh Chị em thân mến!
Trong những ngày qua, tôi đã thực hiện chuyến Tông Du đầu tiên của tôi đến Phi Châu. Phi Châu là một châu lục đẹp! Tôi tạ ơn Chúa về tặng ân lớn lao này của Ngài, một ân ban cho tôi có thể đến viếng thăm ba xứ sở: trước hết là Kenya, rồi đến Uganda và sau cùng là Nước Cộng Hòa Trung Phi. Tôi xin bày tỏ một lần nữa lòng biết ơn của tôi với các vị thẩm quyền dân sự cũng như các vị giám mục của các quốc gia này đã đón tiếp tôi, và tôi cũng xin cám ơn những ai đã hợp tác bằng rất nhiều cách thức. Tôi xin gửi đến quí vị lời cám ơn chân thành của tôi!
Kenya là một quốc gia tiêu biểu rõ ràng cho cái thách đố toàn cầu của thời điểm chúng ta đây, đó là cái thánh đố trong việc bảo vệ Thiên Nhiên Tạo Vật bằng cách tái định hình lại mẫu thức phát triển nhờ đó nó trở thành một mẫu thức phát triển công bằng, bao gồm và khả tồn. Tất cả những điều ấy đều được thể hiện nơi Nairobi, thành phố lớn nhất là miền Tây Phi Châu. Những điều ấy cũng được thấy ở nơi đây cũng như ở khắp các nơi khác nữa. Việc chung sống giữa giầu sang và cùng khốn là những gì tồi bại; nó là một thứ ngượng ngùng đối với nhân loại. Thật vậy, ở Nairobi, nơi có tổng hành dinh của Văn Phòng Liên Hiệp Quốc về Môi Sinh, nơi tôi đã thăm viếng. Ở Kenya, Tôi đã gặp gỡ các vị thẩm quyền và ngoại giao đoàn cũng như dân cư của một khu vực đông đúc. Tôi đã gặp gỡ các vị lãnh đạo thuộc các Kitô hữu giáo phái khác nhau cũng như của các tôn giáo khác, các vị linh mục, tu sĩ và cả giới trẻ. Rất ư là nhiều giới trẻ! Trong hết mọi cơ hội gặp gỡ, tôi đã khuyến khích họ trân quí cái kho tàng lớn lao của xứ sở này: kho tàng về thiên nhiên và thiêng liêng, được cấu tạo bởi các nguồn tài nguyên của trái đất, bởi những thế hệ mới cũng như bởi những thứ giá trị làm nên sự khôn ngoan của dân tộc. Trong bối cảnh ấy, một bối cảnh rất thê lương hệ trọng ngày nay, tôi đã hân hoan mang đến lời hy vọng của Chúa Giêsu: "Hãy vững mạnh trong đức tin, đừng sợ". Đó là câu tiêu biểu cho chuyến viếng thăm này. Một lời được rất nhiều con người khiêm hạ và đơn thành sống hằng ngày theo một phẩm vị cao sang; một lời đã được minh chứng một cách thê thảm và anh hùng bởi giới trẻ của Đại Học Garissa bị sát hại vào ngày 2/4 vừa rồi chỉ vì họ là Kitô hữu. Máu của họ là hạt giống hòa bình và tình huynh đệ cho Kenya, cho Phi Châu và cho toàn thế giới.
Rồi ở Uganda, chuyến viếng thăm của tôi xẩy ra nơi dấu hiệu tử đạo của xứ sở ấy, 50 năm sau khi Chân Phước Phaolô VI phong hiển thánh cho các vị tử đạo của đất nước này. Bởi thế, câu châm ngôn là: "Các con sẽ là chứng nhân của Thày" (Tông Vụ 1:8). Một câu châm ngôn được nêu lên ngay trước những lời: "Các con sẽ lãnh nhận sức mạnh của Thánh Linh", vì chính Thần Linh mới là Đấng làm sinh động tâm can và bàn tay của thành phần môn đệ thừa sai. Tất cả chuyến viếng thăm ở Uganda đã diễn tiến theo chiều hướng của chứng từ được tác động bởi Chúa Thánh Thần. Chứng từ, theo một ý nghĩa rõ ràng, là dịch vụ của các giáo lý viên, những người tôi đã ngỏ lời cám ơn và phấn khích việc dấn thân của họ, một việc làm thường bao gồm cả gia đình của họ nữa. Một chứng từ về đức bác ái đã khiến tôi cảm kích là ở Nhà Nalukilongo, thế nhưng cũng là chứng từ của nhiều cộng đoàn và nhiều hiệp hội cống hiến nữa, khi họ phục vụ thành phần nghèo khổ nhất, thành phần tật nguyền và yếu bệnh. Chứng từ của giới trẻ là những người, bất chấp các khó khăn, canh giữ tặng ân của niềm hy vọng và đang tìm cách sống theo Phúc Âm chứ không theo thế gian, sống một cách ngược đời. Các nhân chứng là các vị linh mục, các con người nam nữ sống đời tận hiến đang hằng ngày lập lại tiếng "xin vâng" với Chúa Kitô và hân hoan dấn thân phục vụ Dân Thánh Chúa. Còn một nhóm chứng nhân khác nữa, nhưng tôi sẽ nói về họ sau này. Tất cả chứng từ đa dạng này, được tác động bởi Chính Chúa Thánh Thần, là men cho toàn thể xã hội, khi công việc có tác hiệu được thi hành ở Uganda chứng tỏ qua cuộc chiến chống Hội Chứng Liệt Kháng AIDS cũng như việc chấp nhận những người tị nạn.
Chặng thứ ba của chuyến đi này là ở Nước Cộng Hòa Trung Phi, tâm điểm về địa dư của Châu Lục ấy; thật vậy, nó ở giữa lòng Phi Châu. Chuyến viếng thăm này thực sự là ý định đầu tiên của tôi, vì xứ sở này đang nỗ lực làm sao để ra khỏi một giai đoạn rất khó khăn đầy những xung khắc bạo động và đầy đau thương trong dân chúng. Bởi thế, tôi chính ở nơi đây, ở Thủ Đô Bangui, một tuần trước, mở Cửa Thánh của Năm Thánh Tình Thương đầu tiên, như là một dấu hiệu tin tưởng và hy vọng cho nhân dân ấy, cũng như tiêu biểu cho tất cả dân chúng Phi Châu, thành phần đang cần đến việc giải phóng và niềm an ủi. Lời Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ là "Hãy băng qua bờ bên kia" (Luca 8:22) là câu châm ngôn cho Trung Phi này. "Băng qua bờ bên kia" nghĩa là, theo nghĩa dân sự, bỏ lại chiến tranh, chia rẻ và khốn cùng để chọn lấy bình an, hòa giải và phát triển. Tuy nhiên, câu châm ngôn ấy bao hàm cả "một cuộc vượt uqa" đang xẩy ra trong lương tâm, nơi các thái độ cũng như ở các ý hướng của con người nữa. Việc đóng góp của các cộng đồng tôn giáo là những gì quyết liệt ở lãnh vực tâm linh này. Bởi thế, tôi đã gặp gỡ các Cộng Đồng Tin Lành và Hồi Giáo, chia sẻ cầu nguyện và việc dấn thân cho hòa bình. Cùng với các vị linh mục và thành phần tận hiến tu trì, bao gồm cả giới trẻ nữa, chúng tôi đã chia sẻ niềm vui của việc cảm nghiệm rằng Chúa đang ở với chúng ta "ở trong thuyền", và Người chính là Đấng lèo lái con thuyền này sang bờ bên kia. Sau hết, trong Thánh Lễ cuối cùng ở Vận Động Trường Bangui cho lễ Thánh Anrê Tông Đồ, chúng tôi đã lập lại việc chúng tôi dấn thân theo Chúa Giêsu là niềm an bình của chúng ta, niềm hy vọng của chúng ta và là Dung Nhan của Lòng Thương Xót Chúa. Thánh lễ cuối cùng ấy thật là tuyệt vời, đầy những giới trẻ, một vận động trường giới trẻ! Tuy nhiên, hơn một nửa dân số của Cộng Hòa Trung Phi là thành phần vị thành niên. Họ dưới 18 tuổi: một hứa hẹn cho việc tiến lên!
Tôi muốn nói vài lời về các vị thừa sai truyền giáo. Những con người nam nữ đã bỏ lại nhà cửa, hết mọi sự... Họ đã đi đến đó khi còn trẻ trung, sống một cuộc đời vất vả cực nhọc, đôi khi ngủ bờ ngủ bụi. Có một lúc tôi đã gặp một Nữ Tu ở Bangui người Ý. Người ta có thể thấy chị là một nữ tu già lão. Tôi hỏi: "Chị bao nhiêu tuổi rồi" - "81" - "Hơn tôi 2 tuổi, không bao nhiêu". Nữ tu này ở đó từ năm 23-24 tuổi, nghĩa là cả cuộc đời của chị! Rất nhiều người khác cũng như chị. Chị bấy giờ đang ở với một bé gái. Bé gái này nói với chị bằng tiếng Ý là "Bà". Chị nữ tu ấy đã nói với tôi rằng: "Thật ra con không phải là người ở đây mà là ở xứ sở Congo lân cận, nhưng con đến đây với bé gái này bằng xuồng". Những vị thừa sai can trường là thế. "Vậy thì sơ làm gì?" Nữ tu này đã nói với tôi như thế này: "Con là một y tá, nhưng sau đó con đã học một chút ở đây và trở thành một bác sĩ sản phụ khoa, và con đã giúp hạ sinh cho 3.280 em bé". Cả một cuộc đời cho sự sống, cho sự sống của những người khác. Có rất nhiều, rất nhiều người như nữ tu này: rất nhiều nữ tu, rất nhiều linh mục, rất nhiều tu sĩ đang tiêu hao đời mình cho việc loan báo Chúa Giêsu Kitô. Thật là tuyệt vời khi thấy điều này; thật là tuyệt vời.
Tôi muốn nói với giới trẻ một chút. Thế nhưng lại có ít người, vì vấn đề sinh sản ở Âu Châu dường như là một cái gì đó xa xỉ: mức sinh sản ở mức zero, ở mức 1%. Tôi muốn ngỏ lời cùng giới trẻ như thế này: các bạn hãy nghĩ các bạn đang làm gì với đời sống của các bạn. Hãy nghĩ đến người nữ tu này và rất nhiều người khác như nữ tu ấy, những người đã cống hiến cuộc đời của mình và rất nhiều người đã chết ở đó. Công việc truyền giáo không phải là chuyện dấn thân để dụ giáo: người nữ tu này đã nói với tôi rằng những người đàn bà Hồi giáo đến với các chị vì họ biết rằng các nữ tu là những người y tá tốt giỏi và các chị chăm sóc người ta một cách tốt đẹp, và các chị không dính dáng đến chuyện dạy giáo lý để hoán cải các phụ nữ Hồi giáo ấy! Các chị làm chứng để rồi các chị dạy giáo lý cho những ai muốn học. Thế nhưng chứng từ mới là công việc truyền giáo anh hùng cao cả của Giáo Hội. Loan báo Chúa Giêsu Kitô bằng cuộc sống của mình! Tôi xin trở lại với giới trẻ: các bạn hãy nghĩ về những gì các bạn muốn làm với đời sống của các bạn. Đó là lúc suy nghĩ và xin Chúa làm cho các bạn nghe biết ý muốn của Ngài. Tuy nhiên, đừng loại trừ cơ hội trở thành nhà thừa sai truyền giáo để mang yêu thương, nhân bản và đức tin đến cho các xứ sở khác. Đừng tham gia vào chuyện dụ giáo: đừng. Những người dụ giáo là thành phần tìm kiếm một cái gì khác để làm như thế. Đức tin được rao giảng trước hết bằng chứng từ, sau đó mới bằng lời nói, một cách từ từ chầm chậm.
Chúng ta hãy cùng nhau chúc tụng Chúa về chuyền hành trình này ở miền đất Phi Châu, và chúng ta hãy để cho mình được hướng dẫn bởi những lời chính yếu của Người: "Hãy vững mạnh trong đức tin, đừng sợ"; "Các con sẽ là chứng nhân của Thày"; "Chúng ta hãy băng qua bờ bên kia".