|
|
| |
Tác
giả: Thánh Phêrô Giulianô Eymard |
|
XII.
Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh
1. Chúa Giêsu không muốn trì hoãn việc dâng mình công khai cho
Chúa Cha. Sau khi sinh ra được 40 ngày, Ngài đã soi sáng cho Đức
Maria đem Ngài vào đền thờ. Đức Maria ẵm Hài Nhi trên tay; Mẹ
đi dâng Ngài cho Chúa Cha và rồi chuộc lại với đôi chim cu gáy,
vì Chúa Giêsu muốn được mua lại với những thụ tạo nhỏ bé này tượng
trưng sự trong trắng và đơn sơ của Ngài. Một mầu nhiệm vĩ đại
đã xảy ra ở đó.
Niềm vui sướng hạnh phúc của Đức Trinh Nữ đã chấm dứt từ ngày
đó. Chúng ta hãy lắng nghe lời của cụ già, một người được Thiên
Chúa tuyển chọn: "Trẻ này được đặt lên khiến cho nhiều người
Israel phải hư mất và nhiều người được chỗi dậy... và phần bà,
một lưỡi gươm sẽ đâm thâu."
Làm sao Ba Ngôi Thiên Chúa rất tốt lành, rất hiền dịu, lại có
thể mặc khải một mầu nhiệm đau thương dường ấy cho một người mẹ
trẻ mới 15 tuổi, người đang được tràn ngập niềm vui vì mới sinh
con? Đó là lần đầu tiên Mẹ đến viếng đền thờ kể từ ngày sinh con,
và Mẹ được báo cho biết cái chết cực dữ đang chờ đợi người con
dấu yêu của Mẹ. A! Mẹ quá hiểu rồi! Từ ngày đó, núi Canvê không
rời Chúa Giêsu; ở Nazareth hay ở bên Ai cập – nơi nào Mẹ cũng
thấy Giêsu của Mẹ bị đóng đinh. Khi linh hồn chúng ta còn yếu
ớt trên đường nhân đức, Thiên Chúa để chúng ta sống một đời sống
ít nhiều bị che đậy: nhưng khi Ngài thấy một linh hồn yêu mến
thực sự, Ngài vội vã đóng đanh nó để bày tỏ vinh quang Ngài trong
đó. Tình yêu đòi phải có đau khổ. Đức Maria chấp nhận mọi sự.
Từ đó về sau, khi đàm đạo với Con Mẹ, Mẹ chỉ nói về núi Canvê,
về những đau khổ và cái chết của Người. Thực sự Mẹ có một sức
chịu đựng ngoan cường để chịu đựng thảm cảnh Canvê sẽ xảy ra 33
năm sau: "Tâm hồn bà sẽ bị gươm sắc đâm thâu." Chúng
ta có hiểu được cuộc tử giá hàm chứa trong những lời này không?
Rồi từ đó, Mẹ Maria nhìn thấy những nỗi đau khổ của Con Mẹ trong
từng chi tiết. Mẹ không ngừng nghĩ đến đó. Từ giây phút đó Mẹ
trở nên Nữ Vương tử đạo.
2. Chúng ta phải thu lượm được gì từ mầu nhiệm Mẹ Dâng Con? Đây
là bài học: chúng ta đừng dâng mình phục vụ Thiên Chúa để tìm
kiếm an ủi khoái vui, để chiếm hữu niềm bình an yên tĩnh bất biến.
Chúa Giêsu quả có nói: "Ách Ta êm ái, gánh Ta nhẹ nhàng."
Nhưng Ngài cũng đã nói: "Ai không vác thánh giá mỗi ngày
mà theo Ta thì không đáng với Ta."
Vậy chúng ta phải làm gì? Chúng ta phải kết hợp với Mẹ Maria dâng
trót mình cho Thiên Chúa, chấp nhận đau đớn khổ cực và những thánh
giá Ngài sẽ gởi đến cho chúng ta. Lúc khởi đầu khi linh hồn mới
dâng mình cho Chúa, nó thường cảm nghiệm những an ủi lớn lao;
việc phục vụ Chúa xem ra đầy những cảm giác ngọt ngào. Có nhiều
linh hồn chán ghét trần thế và những giả dối của nó, họ quay trở
về đời sống đạo đức để tìm kiếm bình an và an ủi. Họ chỉ tìm duy
điều đó; họ chỉ ước muốn duy điều đó trong việc phục vụ Chúa.
Họ phục vụ Ngài bao lâu Ngài còn trào đổ trên họ những ân huệ
thần linh của Ngài; nhưng khi Ngài ẩn mình đi và muốn thay đổi
cho họ thức ăn cứng hơn thức ăn của trẻ nhỏ, họ liền trở nên chán
ngán, thất đảm và bối rối. Họ vắt óc tưởng tượng để tìm xem họ
đã làm gì để bị phạt như thế này. Họ tưởng tại những lần xưng
tội chưa thành thực, những lần rước lễ bất xứng. Họ tìm mọi cách
để thấy trong họ nguyên nhân của sự thay đổi. Khi không tìm được,
họ trở nên chán nản và thường kết thúc bằng sự bỏ bê các việc
đạo đức.
Dĩ nhiên chúng ta không được coi thường những an ủi của Chúa,
chúng ta phải hân hoan lãnh nhận khi Ngài gửi đến; nhưng chúng
ta cũng đừng chỉ tìm kiếm những an ủi ấy. Những an ủi ngọt ngào,
những ân huệ ấy sẽ qua đi trong khi Chúa Giêsu vẫn tồn tại mãi
mãi. Có những vị thánh được Chúa ban cho những ân huệ vĩ đại,
với những cơn xuất thần – nhưng các ngài cũng phải chịu đau khổ
biết bao! Thiên Chúa chỉ ban cho các ngài những ân huệ từng lúc
hiếm hoi, như là bù đắp cho những đau khổ các ngài đã phải chịu
và để khích lệ các ngài chịu đau khổ thêm nữa vì tình yêu. Chính
nhờ chịu đau khổ mà chúng ta được thánh hoá, nhờ thánh giá và
thử thách mà linh hồn được củng cố, được giải phóng khỏi bản ngã,
để nó có thể tìm được niềm vui thoả của nó trong Thiên Chúa và
duy mình Thiên Chúa.
Đây là bài học của mầu nhiệm Mẹ Dâng Con trong đền thờ. Chúng
ta hãy đem ra thực hành nếu chúng ta muốn xứng đáng với của lễ
đích thực, của lễ mà chúng ta không ngừng chiêm ngưỡng trong phép
Thánh Thể, và xứng đáng với Mẹ thánh Ngài, Đấng đã quảng đại dâng
hiến Ngài vì chúng ta.
Sự cung hiến lạ lùng Đền thánh Đức Bà của các đan sĩ
Vào tháng 9 năm 948, Đan viện phụ Eberhard of Einsiedeln, thuộc
quyền thánh Conrad, Giám mục giáo phận Constance, đến xin thánh
nhân làm phép nhà thờ. Thánh nhân đã đến vào ngày 13 tháng 9,
có Giám mục Ulric, một giám mục thánh thiện địa phận Augsburg,
và một số nhà quí tộc. Ngày 14 là ngày ấn định cử hành nghi lễ.
Nửa đêm, thánh Giám mục Conrad cùng vài tu sĩ vào nhà thờ để cầu
nguyện. Bỗng nhiên, nhà thờ rực rỡ ánh sáng thiên đàng, và các
ngài thấy chính Chúa Giêsu Kitô đứng ở bàn thờ cử hành lễ cung
hiến, có bốn thánh sử tham dự. Các thiên thần đổ dầu thơm khắp
nơi trên vị Giáo chủ thần linh. Thánh tông đồ Phêrô và thánh giáo
hoàng Gregoriô cầm huy hiệu giáo hoàng. Mẹ Thiên Chúa đứng trước
bàn thờ giữa vầng hào quang. Các mái vòm nhà thờ vang lên những
bài thánh ca thiên đường do đội hợp xướng thiên thần có Đức Tổng
thần điều khiển hát, thánh Stefanô và thánh Laurensô, những vị
phó tế tử đạo rất danh tiếng, đã chu toàn phận sự bậc mình. Chính
thánh Conrad trong một số bài viết của ngài đã nói đến những thay
đổi khác nhau do cung giọng các thiên thần tạo nên khi họ hát
bài Sanctus, bài Agnus Dei, và cuối cùng là Dominus vobiscum.
Bằng một trong số những cung giọng này họ đã hát: "Xin thương
xót chúng con, lạy Chúa, sự thánh thiện của Ngài toả sáng khắp
đền thánh của Đức Trinh Nữ vinh hiển. Đền thánh được chúc phúc
bởi Con Đức Maria, Đấng đến nơi đây để cai trị mãi mãi."
Thánh giám mục, mặc dù kinh ngạc với cuộc hiện ra như thế, vẫn
tiếp tục cầu nguyện cho mãi tới một giờ sáng. Người ta chờ đợi
ngài, mà không dám hỏi han xem vì cớ gì mà ngài trì hoãn lâu như
vậy.
Cuối cùng, một số thầy yêu cầu ngài bắt đầu cử hành lễ. Thánh
Conrad, vẫn quì yên tại chỗ, kể lại cách đơn sơ điều ngài đã mắt
thấy tai nghe. Tuy nhiên, họ nghĩ có lẽ ngài vẫn còn bị ảnh hưởng
giấc mơ. Sau đó vị giám mục tháh thiện này cũng nhượng bộ theo
lời khẩn khoản của mọi người, bắt đầu lễ thánh hiến. Chính lúc
đó có một tiếng lạ vang lên tràn ngập khu nội cấm, đập vào tai
những người chứng kiến, lặp đi lặp lại bằng ngôn ngữ của Giáo
hội: "Cessa. C essa, frater! Capella divinitus consecrata
est." (ngưng lại, ngưng lại, hỡi người anh em, nhà thờ đã
được thánh hiến cách thần diệu rồi!)
Mười sáu năm sau, thánh Conrad, thánh Ulric, và những nhân chứng
tận mắt khác đã tụ tập lại cả bên Rôma để làm chứng về điều đó.
Sau khi đã thực hiện tất cả những tra hỏi cần thiết theo luật,
Đức Leo VIII ban một sắc lệnh liên quan đến vấn đề này, để cho
công bố rộng rãi. Sắc lệnh này đã được tái phê chuẩn bởi các Đức
Thánh Cha về sau: Đức Innôcentê IV, Martinô V, Nicôla IV, Eugêniô
IV, Nicôla V, Piô II, Juliô II, Leô X, Piô IV, Gregôriô XIII,
Clêmentê VII, và Urbanô VIII.
Sau hết, vào ngày 15 tháng 5 năm 1793, Đức Thánh Cha Piô VI đã
tái chuẩn nhận các việc làm của các Đấng tiền nhiệm, bất chấp
những người theo chủ thuyết hoài nghi luôn luôn sẵn sàng nghi
ngờ những gì họ không cần chấp nhận, và sẵn sàng xếp đức tin vào
số những niềm tin mù quáng, mà họ thích. (Description du couvent
et de l'abbaye d'Einsiedeld.)
Thực hành: Chúng ta nên dâng mình cho Chúa Giêsu, của lễ tình
yêu trên bàn thờ chúng ta, và chấp nhận tất cả những gì Ngài muốn
gửi đến cho chúng ta, trong sự kết hợp với Đức Maria.
Hoa thiêng: Ôi Maria, rượu phong phú, đã ban cho chúng con rượu
nho Thánh Thể, Mẹ đáng chúc tụng muôn đời!
|
|